MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
1.2.1.1 Giám sát tài chính nói chung: 23
1.2.2.2 Giám sát tài chính tập đoàn kinh tế nhà nước: 23
1.2.2.1 Xuất phát từ nhu cầu của chủ sở hữu: 24
1.2.2.2 Xuất phát từ đặc điểm của các TĐKTNN ở Việt Nam 25
1.2.5.1 Các nhân tố chủ quan: 30
1.2.5.2 Các nhân tố khách quan: 31
Bảng 2.1: Các tập đoàn kinh tế đã được thành lập @nh đến năm 2010 39
2.1.2.1 Định nghĩa về tập đoàn kinh tế nhà nước Việt nam hiện nay: 49
2.1.2.2 Thành phần của tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam hiện nay: 49
2.1.2.3 Đặc điểm về tư cách pháp nhân: 49
2.1.2.4 Phương thức thành lập 50
2.1.2.5 Nguyên tắc quản lý, điều hành của tập đoàn kinh tế nhà nước: 50
2.1.5.2 Tình hình công nợ và chất lượng nợ 61
2.2.1 Cơ chế phân cấp quản lý, thực hiện quyền và nghĩa vụ giám sát tài chính của
chủ sở hữu Nhà nước đối với các tập đoàn kinh tế : 63
2.2.1.1 Cơ sở pháp lý: 63
2.2.1.2 Đánh giá về thực trạng cơ chế phân cấp quản lý, thực hiện quyền và nghĩa vụ giám sát
tài chính của chủ sở hữu Nhà nước ở Việt Nam: 69
2.2.2.1 Cơ sở pháp lý 72
a.Đối tượng giám sát 72
b.Chỉ Yêu giám sát 74
2.2.2.2 Đánh giá về cơ chế giám sát việc tạo lập và huy động vốn 76
a.Những điểm đạt được: 76
2.2.4. Cơ chế giám sát phân phối lợi nhuận 86
2.2.4.1. Cở sở pháp lý: 86
2.2.4.2. Đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước về
phân phối lợi nhuận tại các tập đoàn kinh tế Nhà nước: 88
2.2.5 Cơ chế giám sát hoạt động tài chính, kế toán trong TĐKTNN: 89
2.2.5.1. Cơ sở pháp lý: 89
Corporation
10 TCT Tổng công ty
11 TCTD tổ chức tín dụng
12 TĐ Tập đoàn
13 TĐKT Tập đoàn kinh tế
14 TĐKTNN Tập đoàn kinh tế nhà nước
15 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
16 UBND ủy Ban Nhân Dân
17 VHKD Văn hóa kinh doanh
18 VNPT
Vietnam Posts and
Telecommunications Group
Tập đoàn bưu chính viễn
thông
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các tập đoàn kinh tế đã được thành lập tính đến năm 2010……
……….44
Bảng 2.2: So sánh về mối quan hệ giữa vốn, doanh thu và sử dụng lao động của 3
loại hình doanh nghiệp (nhà nước, dân doanh và FDI)
………………………………….63
Biểu đồ 2.3: Vốn đầu tư vào hoạt động tài chính…………………………
……….65
3
4
LỜI MỞ ĐẦU
Trong khoảng vài năm trở lại đây, các nhà kinh tế, tài chính khắp nơi trên thế
giới đều phải thừa nhận rằng các diễn biến kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên khó
dự báo và kiểm soát. Sự kiện to lớn và gần đây nhất khiến cho hầu hết tất cả các nhà
kinh tế, nhà hoạch định chính sách, nhà phân tích… phải ngỡ ngàng chính là cuộc
khủng hoảng tài chính – kinh tế bắt nguồn từ Mỹ đầu năm 2008. Nền kinh tế lớn
khoảng thời gian tuy không dài (4 năm) nhưng cũng đủ để chúng ta làm quen với
hình thức tổ chức kinh doanh mới này. Việc tìm hiểu kinh nghiệm trong hoạt động
tập đoàn của các nước cũng như rút kinh nghiệm từ những năm vừa qua là một điều
hết sức cần thiết. Những bài học kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta tránh được các mất
mát, thất bại một cách dễ dàng hơn.
Hoạt động quản lý tài chính là một trong những hoạt động quan trọng nhất đối
với bất kỳ doanh nghiệp nào. Do vậy, rất cần có sự giám sát đối với hoạt động quản
lý tài chính để ngăn ngừa những sai phạm có thể xảy ra, dẫn đến mất mát tài sản
hoặc ảnh hưởng tiêu cực tới các thành viên khác trong nền kinh tế. Hiện nay, chúng
ta vẫn đang tiếp tục xây dựng hệ thống lý luận về giám sát tài chính trong nước.
Hoạt động giám sát trong các lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng đã được triển khai
nhưng trong lĩnh vực kinh tế nhà nước thì vẫn còn bỏ ngỏ mặc dù các TĐKTNN
đang nắm giữ phần lớn sức mạnh kinh tế của cả nước.
Hơn nữa, vấn đề quản lý và giám sát các TĐKTNN, đặc biệt là giám sát tài
chính đã được nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây khi kết quả giám sát các
TĐKTNN của đoàn giám sát của Quốc Hội năm 2009 đã chỉ ra những tồn tại đáng
kể trong công tác quản lý và về hiệu quả hoạt động của các TĐKTNN.
Cũng bởi thời gian tiến hành mô hình tập đoàn chưa lâu, các quy định về quản
lý tài chính trong tập đoàn của chúng ta thậm chí còn chưa được đầy đủ nên thời
gian qua chúng ta chưa có nhiều nghiên cứu về hoạt động giám sát tài chính các
TĐKTNN, ví dụ như nghiên cứu về tính khả thi trong việc xây dựng cơ quan giám
sát chuyên trách, nghiên cứu về chuẩn mực và tiêu chí giám sát tài chính…
Qua những đánh giá sơ bộ về tầm quan trọng và những lợi ích của hoạt động
giám sát tài chính đối với các TĐKTNN mang lại cho đất nước, chúng tôi quyết
định thực hiện đề tài này.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn:
Đề tài là công trình tìm hiểu về giám sát tài chính, đặc biệt chú trọng tới giám
sát tài chính đối với các TĐKTNN trong khi chưa có nhiều công trình nghiên cứu đi
sâu vào lĩnh vực này. Đề tài sẽ tập hợp các luận giải, quan điểm về giám sát tài
chính đối với các TĐKT và các TĐKTNN.
o Cơ chế giám sát sử dụng vốn và tài sản
o Cơ chế giám sát phân phối lợi nhuận
o Cơ chế giám sát hoạt động tài chính, kế toán
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, quy trình nghiên
cứu gồm 2 bước.
7
Bước 1, thu thập số liệu về các TĐKTNN trong đó quan trọng nhất là báo cáo
về tình hình sử dụng vốn và tài sản, tình hình đầu tư ra ngoài ngành trong 3 năm
2006-2008 của 8 TĐKTNN gửi Bộ Tài chính, Báo cáo năm 2009 của Bộ Tài chính
gửi cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Báo cáo năm 2009 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý,sử dụng vốn, tài sản nhà
nước; các tài liệu liên quan đến mô hình tổ chức kinh doanh tập đoàn; các tài liệu về
chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp; các văn bản pháp luật trong và ngoài nước
liên quan đến quản lý và giám sát tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước; thực
hiện phỏng vấn một số chuyên gia trong lĩnh vực giám sát tài chính. Từ đó xây
dựng cơ sở về lý thuyết dành cho nghiên cứu.
Bước 2, sử dụng các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp để đánh
giá tình hình tài chính các tập đoàn nhà nước hiện nay; dựa vào mục đích và các yêu
cầu đối với giám sát tài chính để đánh giá hiệu quả của cơ chế giám sát hiện tại;
phân tích sự phù hợp của điều kiện kinh tế- xã hội với cơ chế giám sát tài chính tập
đoàn của các nước để rút ra điểm mạnh, yếu của cơ chế tại mỗi nước, từ đó rút ra
bài học dành cho Việt Nam; so sánh với bối cảnh tại Việt Nam và rút ra bài học
kinh nghiệm. Các ý kiến nhằm hoàn thiện cơ chế được đưa ra trên cơ sở hoàn thiện
các tồn tại trong cơ chế giám sát tài chính đã được tìm ra, đảm bảo phù hợp với định
hướng của Chính phủ để phát triển tập đoàn trong thời gian tới và với xu hướng hội
nhập quốc tế.
Kết cấu của đề tài:
Đề tài “ Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính tập đoàn kinh tế nhà nước” bao
gồm 3 phần chính:
khác nhau để nói về khái niệm TĐKT, song trên thực tế, việc sử dụng từ ngữ lại phụ
thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại TĐKT:
Ví dụ, “Consortium”, là một từ gốc Latin có nghĩa là “đối tác, hiệp hội hoặc
hội”, được sử dụng để chỉ sự tập hợp của 2 hay nhiều thực thể nhằm mục đích tham
gia vào một hoạt động chung hoặc đóng góp nguồn lực để đạt được mục tiêu chung.
Khi tham gia vào một Consortium, các công ty vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân
độc lập của mình.
Thông thường, vai trò kiểm soát của Consortium đối với các công ty thành
viên chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của cả tập đoàn, đặc biệt là việc
phân phối lợi nhuận. Sự ra đời của một Consortium được xác lập trên cơ sở hợp
đồng, trong đó quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của từng công ty thành viên tham
gia Consortium;
9
Trong tiếng Anh, từ “Cartel” cũng rất hay được sử dụng để chỉ khái niệm “Tập
đoàn kinh tế”. Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích là
tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hoá, hoặc
các biện pháp hạn chế khác.
Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán hàng
hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát giá mua
nguyên vật liệu đầu vào.
Tại nhiều nước, mặc dù bị cấm bởi luật chống phá giá (Antitrust law); tuy
nhiên, nhiều Cartel vẫn tiếp tục tồn tại trên phạm vi quốc gia và quốc tế, dưới hình
thức ngầm hoặc công khai, chính thức hoặc không chính thức.
Cũng cần lưu ý rằng theo khái niệm này thì một tổ chức đơn lẻ nắm giữ thế
độc quyền không phải là một Cartel, dù rằng có thể nó lạm dụng sự độc quyền bằng
cách khác.
Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một số loại
hàng hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi hỏi những sản phẩm có tính
đồng nhất cao;
Trong khi đó, các từ/cụm từ như “Group”, “Business group”, “Corporate
hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”.
Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập,
được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua
lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh
tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh
có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con.
Và cụm từ "tập đoàn" có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành tên
riêng của công ty mẹ.
( Theo điều 149 luật doanh nghiệp 2005 và điều 26 nghị định 139/2009)
1.1.1.2 Tất yếu hình thành
Mục tiêu của kinh doanh đó là tối đa hóa lợi nhuận.Khi một doanh nghiệp phát
triển,lợi nhuận thu được tạo ra nhiều vốn tích lũy, doanh nghiệp có mong muốn tiếp
tục tái đầu tư để thu được lợi nhuận nhiều hơn nữa.Nhưng nếu lại vẫn tiếp tục đầu
tư vào chính bản thân doanh nghiệp thì sẽ có các nguy cơ có thể xảy ra:
- Thứ nhất, quy mô kinh doanh “quá tải” và quan liêu trong quản trị doanh
nghiệp do lớn hơn khả năng quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp, chuỗi quản trị
trực tuyến sẽ bị kéo dài, cuối cùng, hậu quả là lợi nhuận ít, thậm chí thua lỗ.
- Thứ hai, cung hàng hóa của doanh nghiệp sẽ vượt quá cầu của xã hội, dẫn
đến giảm sút lợi nhuận hay thua lỗ.
- Thứ ba, rủi ro kinh doanh cao cho chủ đầu tư, do “ tất cả trứng đều được bỏ
vào một giỏ”.
Do đó, để khắc phục, hạn chế ba nguy cơ trên, doanh nghiệp này sẽ sử dụng
vốn tích lũy của mình để đầu tư sang các ngành hàng khác, ở các vùng lãnh thổ
khác, do các doanh nghiệp khác kinh doanh bằng nhiều cách, như lập doanh nghiệp
11
mới, mua lại doanh nghiệp đã có, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần đại chúng
đang niêm yết đến mức có quyền chi phối nó Đó là một quá trình dài của sự tích
lũy tư bản.
Cuối cùng, doanh nghiệp ban đầu sẽ trở thành chủ sở hữu vốn hay nắm tỷ lệ
vốn chi phối trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp khác. Rồi thì nó cũng thoát ly
sử nhưng vẫn có thể rút ra một số đặc điểm chung nhất của chúng như sau:
•Cấu trúc và liên kết tài chính
Hầu hết các tập đoàn kinh doanh là một tổ hợp của nhiều công ty thành
viên.Các công ty thành viên chịu sự chi phối của một công ty lớn nhất, đó là công ty
mẹ.Công ty mẹ nắm cổ phần của các công ty thành viên và tạo thành một cấu trúc
giống như các vệ tinh xoay quanh hạt nhân dựa trên sự kiểm soát.
Ở các thị trường tài chính phát triển, quan hệ sở hữu giữa các công ty thành
viên trong tập đoàn rất phức tạp,đan xen chằng chịt,tạo ra sự phụ thuộc rất chặt chẽ,
các công ty con bị công ty mẹ kiểm soát một lượng lớn cổ phiếu- thường đạt tới tỷ
lệ đủ để chi phối,nhưng ngay giữa các công ty con cũng nắm giữ cổ phiếu lẫn nhau
và chi phối nhau
Ngoài ra còn có một mô hình ít phổ biển hơn khi trong tập đoàn kinh tế, các
doanh nghiệp thành viên có vị thế bình đẳng, Các DN tự ký kết hợp đồng để hình
thành sự chỉ đạo thống nhất.Họ cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tập
đoàn (dưới hình thức một hội đồng tham vấn hoặc tương tự).
•Quy mô lớn và phát huy sức cạnh tranh dựa trên quy mô
Hầu hết các tập đoàn đều có quy mô lớn và phạm vi hoạt động rất rộng.Trong
thập kỷ 80,90, quy mô của các tập đoàn kinh tế đã tiếp tục được mở rộng để tăng
cường sức cạnh tranh.Nhiều tập đoàn lớn có các công ty chi nhánh và văn phòng đại
diện tại hàng trăm nước trên thế giới.Hiện nay,dù ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
tài chính,xu hướng sát nhập để mở rộng quy mô của các tập đoàn hiện đang vẫn
diễn ra.
Quy mô của tập đoàn thể hiện ở một số chỉ tiêu như: Tổng số vốn,tổng tài sản
hay doanh thu; Số nước có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện;Thị phần đối với một
loại hoặc một nhóm sản phẩm chủ yếu.
•Ngành và lĩnh vực kinh doanh:
Mặc dù đặc điểm nổi bật của tập đoàn kinh doanh là hoạt động đa ngành,
nhưng vẫn có một số tập đoàn kinh doanh trong một lĩnh vực tương đối hẹp.Điều đó
minh họa cho cả 2 xu hướng phát triển tập đoàn kinh doanh.Xu hướng thứ nhất là
phát triển đa dạng hóa, đa ngành nhằm phân tán rủi ro và tăng khả năng chi phối thị
việc phân tích các đặc điểm cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động của tập đoàn kinh
tế nhà nước cũng như các đặc điểm khác cũng sẽ được nói rõ hơn trong phần tổng
kết về quá trình hình thành và kết quả đạt được của mô hình tập đoàn kinh tế nhà
nước tại Việt Nam.
1.1.3 Mô hình tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế
Phạm vi của nghiên cứu trong đề tài này không đi sâu vào nghiên cứu các mô
14
hình tập đoàn mà chỉ đưa ra các nội dung cơ bản nhằm làm căn cứ để nghiên cứu
sâu vào tập đoàn kinh tế nhà nước
Về mô hình tổ chức của tập đoàn, dựa trên sự phát triển về mô hình theo hướng
càng ngày sự liên kết càng chặt chẽ, có một số mô hình tổ chức chủ yếu như sau:
Mức độ 1:
Quan hệ liên kết giữa các thành viên tương đối lỏng lẻo thông qua các thỏa
thuận hoặc cam kết hợp tác.Trong hình thức này, các công ty thành viên tham gia
tập đoàn chỉ chịu sự ràng buộc tương đối lỏng lẻo, các thành viên có tính độc lập
cao.Thông thường, cơ sở tồn tại của loại hình tập đoàn này là các thỏa thuận hoặc
hợp đồng tạo ra sự liên kết “mềm” giữa các thành viên để tăng thêm lợi thế cho
nhóm các thành viên đó.Về mặt lịch sử, hình thức liên kết này có từ rất rất sớm,
Cartel thuộc hình thức này.
Cartel là hình thức liên kết giữa các công ty hoạt động trong cùng một lĩnh
vực , một ngành thậm chí có cùng sản phẩm giống nhau.Thực ra, mối liên kết giữa
các công ty trong Cartel chỉ thuần túy là sự cam kết đối với một số điều khoản nhất
định nhằm tránh cạnh tranh trực tiếp với nhau.Các công ty tham gia Cartel vẫn giữa
nguyên tư cách pháp nhân và tính độc lập của chúng.Thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư
bản độc quyền, rất nhiều tập đoàn Cartel được hình thành.Tuy nhiên, để đảm bảo
tính cạnh tranh trên thị trường,hầu hết các nước có luật chống độc quyền, chống
những liên minh Cartel ngăn cản cạnh tranh.
Nguyên nhân thúc đẩy sự liên kết và liên minh giữa các công ty là do những
thay đổi của nền kinh tế trong nước và trên thế giới, môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh không ngừng mở rộng đòi hỏi quy mô vốn
nhân liên kết là công ty tài chính.Công ty mẹ là công ty tài chính nắm giữ cổ phần
chi phối các công ty con.Sự phát triển cao của thị trường tài chính và công nghệ
thông tin cho phép một công ty chi phối một hoặc nhiều công ty khác thông qua
quyền sở hữu cổ phiếu.Các công ty trong tập đoàn vì vậy không cần phải có mối
liên hệ về sản phẩm,công nghệ hay kỹ thuật.
Hình thức công ty mẹ- công ty con thuộc loại này đang trở nên phổ biến.Khái
niệm công ty mẹ được đưa ra như sau:” Là một công ty kiểm soát một hoặc nhiều công
ty khác,thông thường bằng cách nắm giữ đa số cổ phiếu của các công ty chi nhánh.Đối
với một công ty mẹ, có thể có trường hợ nó kiểm soát một lượng lớn các công ty với số
vốn tập hợp lại lớn hơn rất nhiều vốn của chính nó vì công ty mẹ chỉ cần nắm giữ một
nửa hay ít hơn một nửa số cổ phiếu của các công ty con trong tập đoàn”
Conglomerate là hình thức liên kết giữa các công ty không cùng ngành.Có
định nghĩa về nó như sau:” Một tổ chức kinh doanh, nói chung, bao gồm một công
ty mẹ và một nhóm các công ty con liên kết với nhau trong những hoạt động kinh
doanh không giống nhau”.Dới hình thức này, tập đoàn có đặc điểm đa ngành,đa lĩnh
16
vực.Các công ty thành viên chịu sự chi phối và kiểm soát của công ty mẹ, những
giữa chúng có thể có sự khác nhau lớn về kỹ thuật và công nghệ.Các công ty mẹ có
thể thay đổi hệ thống của tập đoàn thông qua việc mua bán quyền sở hữu hoặc sát
nhập,thôn tính các công ty con.
Với sự phát triển của thị trường chứng khoán, trong Conglomerate, thông
thường công ty mẹ là một công ty tài chính hoặc gắn với công ty mẹ là các công ty
tài chính hoặc ngân hàng thương mại, do vậy thế lực của loại tập đoàn này rất
lớn.Tên của tập đoàn thường lấy theo tên của công ty mẹ.
Ngoài ra, theo một hướng tiếp cận khác, tập đoàn kinh tế còn có thể chia thành
các dạng sau:
Tập đoàn công nghệ
- Đây là một tổ chức kinh tế hội tụ các doanh nghiệp có quan hệ mật thiết
xung quanh một dây chuyền công nghệ khép kín, từ khai thác, cung ứng nguyên vật
liệu, sản xuất và bán sản phẩm, đến nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới v.v Các
hình tập đoàn mới sẽ được hình thành với mối quan hệ ngày càng gắn bó chặt chẽ,
phức tạp.
1.1.4 Cơ chế quản lý tài chính đối với các tập đoàn kinh tế
1.1.4.1 Khái niệm cơ chế quản lý tài chính:
Cơ chế quản lý tài chính là một khái niệm khá phức tạp và còn nhiều ý kiến
khác nhau do sự khác nhau về góc nhìn và quan niệm về nội hàm- bản chất bên
trong của khái niệm này. Nguyên nhân cụ thể về sự không thống nhất về khái niệm:
- Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp là một phạm trù tương đối trừu tượng,
không hoàn toàn định hình rõ ràng và tương đối khó lượng hóa
- Bản thân cơ chế quản lý tài chính là một phạm trù có tính lịch sử, luôn gắn
liền với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử khác
nhau.Cơ chế quản lý tài chính không đứng yên,trái lại luôn luôn thay đổi,thậm chí
thay đổi rất lớn.Do vậy các khái niệm về cơ chế quản lý tài chính cũng thường
xuyên thay đổi và đổi mới theo thực tiễn kinh tế- xã hội.Các tập đoàn kinh tế nhà
nước đang trong giai đoạn mới hình thành,chắc chắn đang trong quá trình đổi mới,
hoàn thiện.Sự đổi mới đó không thể tách rời quá trình điều chỉnh và thay đổi cơ chế
quản lý tài chính đối với các tập đoàn.Thậm chí, nhiều vấn đề ngày hôm nay có sự
thay đổi hoàn toàn,khác hoàn toàn so với thời kỳ trước đó.
- Hiện tại của nước ta, hầu hết các đều chưa có nhiều kinh nghiệp trong cơ chế
thị trường nên vấn đề cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp đặc biệt là ở các tập
đoàn kinh tế nhà nước chưa có nhiều tài liệu,kinh nghiệm.Có ít sách báo, tư liệu
nghiên cứu chuyên biệt và sâu về mảng này, vừa thiếu về số lượng cũng như tản
mạn và chưa sâu về nội dung.
( Bên cạnh đó cũng thấy,ở trong một số tài liệu,nghiên cứu khái niệm “ cơ chế
quản lý tài chính” và khái niệm “ cơ chế tài chính” cũng được dùng với cùm hàm ý
nói về cơ chế quản lý tài chính.)
18
Với những nguyên nhân được nêu trên, khái niệm “ cơ chế quản lý tài chính”
hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất.Khi đề cập đến vấn đề quản lý tài chính hoặc có
liên quan đến quản lý tài chính, hầu hết các tác giả ngầm định rằng không cần phải
động theo Luật DNNN 1995 và các Nghị Định của Chính Phủ , sau đó do nhu cầu
19
đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN
nói chung và tập đoàn kinh tế nói riêng, Luật DNNN 2003 của Quốc hội và NĐ
199/2004 của chính phủ đã được ban hành.
Trong giai đoạn này , việc quản lý vốn tài sản của nhà nước tại công ty nhà
nước được Chính phủ phân cấp cho Thủ tướng chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh làm đại diện chủ sở hữu,; Hội đồng quản trị hoặc giám đốc( nếu không có
HĐQT) làm đại diện trực tiếp vốn nhà nước tại công ty nhà nước,; Tổng công ty
đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn
nhà nước tại các công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do nhà nước năm giữ
100% vốn điều lệ, các công ty cổ phần có vốn nhà nước góp được cổ phần hóa từ
các doanh nghiệp độc lập trực thuộc Bộ, ngành, địa phương.
Đồng thời, để thực hiện chức năng giám sát của chủ sở hữu vốn, nâng Cao
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, gắn trách nhiệm của Ban quản lý điều hành
doanh nghiệp với kết quả sản xuất kinh doanh , Bộ tài chính đã tham mưu trình thủ
tướng quy chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN ban hành kèm
quyết định 224/2006 ngày 6/10/2006.
Tuy nhiên sau 4 năm thực hiện NĐ số 199 /2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 quy
định quy chế quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư ở
doanh nghiệp khác, những bất cập liên tục nảy sinh, những điểm không phù hợp với
thực tiễn như 1 số TCT nhà nước đã huy động vốn để sản xuất kinh doanh trên 3 lần
vốn chủ sở hữu, đầu tư dàn trải vào những lĩnh vực ngành nghề không thuộc lĩnh
vực kinh doanh chính ( chủ yếu), người đại diện tại nhiều nơi chưa làm đúng, đủ
trách nhiệm… Vì vậy, sau khi lấy ý kiến tham gia từ các Bộ ngành địa phương; thảo
luận và lấy ý kiến đóng góp tại chính các tập đoàn, TCT nhà nước, BTC đã trình
chính phủ ban hành NĐ số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 thay thế Nghị định số
199/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 quy định quy chế quản lý tài chính tại công ty
nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư ở doanh nghiệp khác
*/ Theo cơ chế hiện hành, việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp
•Trao quyền và nghĩa vụ cho công ty nhà nước trong việc sử dụng vốn, huy
động vốn, đầu tư ra ngoài công ty nhà nước
- Công ty nhà nước được quyền chủ động sử dụng vốn nhà nước giao, các loại
vốn khác, các quỹ do công ty nhà nước quản lý và sử dụng vào hoạt động kinh
doanh. Chịu trách nhiệm về bảo toàn, phát triển vốn , hiệu quả sử dụng vốn.
- Công ty nhà nước được quyền quyết định hợp đồng vay vốn có giá trị lớn
bằng 3 lần vốn điều lệ.Đối với công ty nhà nước có nhu cầu vay vượt quá 3 lần vốn
điều lệ phải báo cáo đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định trên cơ sở các dự án
huy động vốn có hiệu quả.Sau khi quyết định, đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm
thông báo với Bộ tài chính để phối hợp theo dõi và giám sát.
- Công ty nhà nước được quyền sử dụng vốn và tài sản thuộc quyền quản lý
của công ty nhà nước vào doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật, phù
21
hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển công ty nhà nước,không làm ảnh
hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh được nhà nước giao;
đảm bảo nguyên tắc có hiệu quả,bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập
Tuy nhiên để quản lý việc sử dụng vốn đầu tư hiệu quả, tập trung vào các nhiệm
vụ chính, CP cũng quy định các công ty nhà nước phải sử dụng tối thiểu 70% tổng
nguồn vốn đầu tư vao doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thuộc ngành nghề
kinh doanh chính của công ty.Tổng mức đầu tư ra ngoài công ty nhà nước( bao gồm
đầu tư ngắn hạn và dài hạn) không vượt quá mức vốn điều lệ của công ty nhà nước.
Riêng đối với hoạt động đầu tư góp vốn vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm,
chứng khoán, công ty nhà nước được đầu tư vào mỗi lĩnh vực một doanh nghiệp;
mức vốn đầu tư không được vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp,
mức vốn góp vủa công ty mẹ và các công ty con trong tổng công ty, tập đoàn không
được vượt quá mức 30% vốn điều lệ của tổ chức nhận vốn góp.TH đặc biệt do thủ
tướng chính phủ xem xét quyết định
•Cơ chế phân phối lợi nhuận của công ty nhà nước cũng được gắn với hiệu
quả sản xuất kinh doanh và kết quả xếp loại của doanh nghiệp.các doanh nghiệp có
đặc thù về cơ cấu vốn được điều chỉnh bổ sung cơ chế phân phối lợi nhuận.Riêng
1.2 Cơ chế giám sát tài chính tập đoàn kinh tế
1.2.1. Khái niệm cơ chế giám sát tài chính các tập đoàn kinh tế Nhà nước
1.2.1.1 Giám sát tài chính nói chung:
Giám sát là hoạt động kiểm tra, theo dõi tất cả các khía cạnh liên quan tới kết
quả của một công việc hoặc quá trình thực hiện một công việc mà một người hay
một nhóm người nào đó đảm nhiệm để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu đã đề ra
một cách hiệu quả.
Giám sát tài chính là hoạt động kiểm tra, theo dõi các hoạt động tài chính của
đối tượng được giám sát (khách thể của hoạt động giám sát) nhằm giúp cho giám
sát viên nắm bắt được tình hình, thực trạng hoạt động của đối tượng giám sát và qua
đó kịp thời đưa ra các điều chỉnh, thay đổi nếu cần thiết để có thể đạt được các mục
tiêu đã đề ra. Các hoạt động tài chính bao gồm hoạt động tạo lập và huy động vốn,
hoạt động sử dụng vốn và tài sản, hoạt động phân phối lợi nhuận, hoạt động tài
chính, kế toán.
1.2.2.2 Giám sát tài chính tập đoàn kinh tế nhà nước:
Giám sát tài chính TĐKTNN là kiểm tra, theo dõi các hoạt động tài chính và
tình hình tuân theo các quy định, luật pháp về quản lý tài chính của các tập đoàn
kinh tế nhà nước. Cơ chế giám sát tài chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt
động giám sát tài chính. Nó bao gồm các yếu tố sau:
•Chủ thế giám sát là các nhà quản trị và người lao động trong tập đoàn, các
chủ sở hữu của tập đoàn, các cơ quan quản lý của nhà nước.
•Đối tượng giám sát là thực trạng các hoạt động tài chính của tập đoàn kinh tế
23
nhà nước, bao gồm hoạt động tạo lập và huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và
tài sản, hoạt động phân phối lợi nhuận, hoạt động tài chính, kế toán.
•Phương pháp giám sát có thể là điều tra, theo dõi, kiểm tra, phỏng vấn, quan
sát… và được chủ thể giám sát sử dụng một cách linh hoạt cả về thời gian và không gian.
•Mục đích của giám sát tài chính các tập đoàn kinh tế nhà nước là để đảm bảo
các hoạt động tài chính của tập đoàn được triển khai hiệu quả, mối quan hệ giữa các
công ty trong tập đoàn lành mạnh, phù hợp với mục tiêu hoạt động đề ra ban đầu,
càng trở nên cần thiết hơn đối với các tập đoàn kinh tế Nhà nước bởi nguồn vốn của
nó không chỉ thuộc sở hữu của một nhóm các cá nhân mà là toàn thể nhân dân.
1.2.2.2 Xuất phát từ đặc điểm của các TĐKTNN ở Việt Nam
•Vị trí - vai trò quan trọng của các TĐKTNN (có thể tham khảo thêm các số
liệu ở mục 2.1.6 – Đánh giá tác động của các TĐKTNN đối với nền kinh tế)
Vị trí đầu tàu, dẫn dắt nền kinh tế của các TĐKTNN được thể hiện qua tỷ
trọng của các TĐKT so với khu vực DNNN và so với các khu vực khác của nền
kinh tế. Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ quốc hội trình lên Quốc
hội ngày 04 tháng 11 năm 2009 đã nêu lên một số thành tích đáng chú ý của các TĐ
như: tổng nguồn vốn của 8 tập đoàn đến 31/12/2008 là 1 triệu 92 nghìn tỷ đồng;
năm 2008, khối doanh nghiệp nhà nước mà nòng cốt là các tập đoàn, tổng công ty,
đã đóng góp gần 40% giá trị GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên
50% kim ngạch xuất khẩu và 28,8% tổng thu nội địa.
Các tập đoàn nhà nước còn là cánh tay đắc lực cho Chính phủ trong việc điều
tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện các chính sách ổn định giá cả, giúp giảm thiểu các tác
động tiêu cực khi có biến động cung- cầu hàng hóa trên thị trường.
Các tập đoàn cùng với các tổng công ty nhà nước cũng đi đầu trong thực hiện
các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giải quyết công ăn việc làm, giảm
nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và đền ơn, đáp nghĩa. Theo số liệu chưa đầy đủ của
95/99 tập đoàn, tổng công ty thì đến 31/12/2008, các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước đã giải quyết việc làm cho 1 triệu 179 nghìn lao động với mức thu nhập bình
quân trong năm 2008 là 3 triệu 8 trăm nghìn đồng, , chỉ riêng trong 2 năm 2007 và
2008 đã tham gia khoảng 420 tỷ đồng để thực hiện nhiệm vụ xã hội. Phạm vi hoạt
động của hầu hết các tập đoàn, tổng công ty được mở rộng đến các địa bàn nông
thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có hạ tầng cơ sở còn yếu kém
để thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội.
•Bản chất phức tạp của hoạt động quản lý tập đoàn, đặc biệt là TĐKTNN:
o Quan hệ sở hữu hỗn hợp:
Về bản chất, các tập đoàn kinh tế hình thành do quy mô sản xuất lớn đòi hỏi
một lượng vốn khổng lồ, cần phải huy động vốn từ nhiều cá nhân, tổ chức. Đó là