Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
BĐS : Bất động sản
VND : Việt Nam đồng
USD : Đo la mỹ.
TCKT – XH : Tổ chức kinh tế - xã hội.
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài.
Để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là những tổ chức, cá nhân có nguồn
vốn nhàn rỗi nhưng không biết đầu tư vào đâu và một bên là các tổ chức, cá
nhân có phương án kinh doanh, mong muốn mở rộng quy mô sản xuất nhưng
lại không có vốn ngân hàng thương mại đã ra đời. Cũng chính vì nguồn gốc
hình thành như thế đã quyết định tới đặc điểm cơ cấu nguồn vốn của ngân
hàng, đó là: vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn
vốn. Đến đây đặt ra cho các nhà ngân hàng một câu hỏi là làm thế nào để huy
động được vốn, huy động ở đâu, như thế nào sao cho hiệu quả nhất?
Đây có lẽ đã trở thành một đề tài muôn thủa của các ngân hàng, tuy
nhiên câu trả lời của nó thì không bao giờ cũ. Đặc biệt trong thời buổi hội
nhập kinh tế quốc tế, khi mà hệ thống tài chính, tiền tệ giữa các quốc gia ảnh
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục chuyên đề được chia làm 3 chương
Chương 1: Hoạt động huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: thực trạng huy động vốn ngoại tệ tại phòng giao dịch số 1 –
Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Đề xuất nhằm tăng cường huy động vốn ngoại tệ tại phòng
giao dịch số 1 – ngân hàng bidv chi nhánh Thăng Long.
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Quan niệm về vốn trong nền kinh tế.
Vốn là các tài sản trong xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệu
quả trong tương lai . Trong nền kinh tế thị trường, dù hoạt động trong lĩnh vực
nào thì vốn cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt
động ngân hàng cũng vậy, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì công
tác huy động vốn cần được hết sức quan tâm.
Vốn phải được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn phải
được đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định. Mặt khác vốn
không chỉ biểu hiện thành tiền và những giá trị tài sản hữu hình mà còn được
biều biện thành những giá trị vô hình ( uy tín, phát minh sáng chế, thông tin,
công nghệ).
1.1.1.2 Vốn của NHTM
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua việc
huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác
Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình xản suất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở
chức tín dụng. Vốn tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ. Chính
vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân
hàng, là điều kiện sống còn đối với mỗi ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu
cần thiết, tức vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên
chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động.
Từ đặc trưng kinh doanh của ngân hàng: vốn vừa là phương tiện kinh
doanh, vừa là đối tượng kinh doanh. Các NHTM thực hiện kinhdoanh loại
hàng hóa đặc biệt – tiền tệ trên thị trường tiền tệ ( thị trường vốn ngắn hạn) và
thị trường chứng khoán( thị trường vốn dài hạn). Vì vậy, ngoài vốn ban
đầukhi thành lập theo quy định của pháp luật . các NH phải thường xuyên tìm
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mọi biện pháp để tăng trưởng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh.
1.1.2.2. Vốn quyết định khả năng thanh toán của ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngân
hàng phải tạo dựng được thương hiệu, lòng tin, phải có uy tín trên thị trường.
Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả
cho khách hàng. Như đã biết, mọi bộ phận vốn của NH là vốn tiền gửi và tiền
đi vay, (vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) do
đó, phải trả cho khách hàng đúng theo cam kết và khi khách hàng có yêu cầu.
Hoạt động của ngân hàng thực chất là hưởng chênh lệnh giữa lãi suất huy
động và lãi suất cho vay, nếu ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, hoạt động cho
vay sẽ bị hạn chế, nếu cho vay quá nhiều ngân hàng sẽ có thể roi vào tình
trạng mất thanh toán, ngược lại , một ngân hàng lớn vẫn có thể thực hiện dự
trữ đủ khả năng thanh toánđồng thời vẫn thỏa mãn nhu cầu vốn vay của nền
kinh tế, do đó họ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân
hàng càng lớn. Vì vậy, nếu loại trừ khỏi các nhân tố khác,khả năng thanh toán
của ngân hàng tỉ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng
của ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động
hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng
tổng hòa các nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả
năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là
cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê
mua(leasing) mua bán nợ(phactoring), kinh doanh trên thị trường chứng
khoán. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi
ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn và tăng sức cạnh tranh cho
ngân hàng .
Ngoài ra vốn của ngân hầng dồi dào sẽ tạo điều kiện cho NHNN đảm
bảo khả năng thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ,
cân đối tiền hàng trong nền knh tế
1.1.3 Phân loại vốn của NHTM
1.1.3.1 Vốn của ngân hàng ( Bank capital)
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng , nó bao
gồm vốn tự có và vốn coi như tự có.
a. Vốn tự có bao gồm:
Vốn điều lệ ( Charter capital): Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng
ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTM
được thành lập. Nguồn vốn này là lượng vốn tối thiểu mà ngân hàng cần phải
có để đáp ứng điều kiện thành lập cũng như hoạt động kinh doanh. Các loại
hình ngân hàng khác nhau thì có nguồn hình thành vốn ban đầu cũng khác
nhau: Đối với các ngân hàng quốc doanh thì nguồn vốn hình thành ban đầu do
ngân sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên liên
doanh đóng góp, nếu là ngân hàng cổ phần thì do các cổ đông sáng lập góp
vốn; nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn chủ sở hữu của tư nhân.
• Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể gia tăng theo nhiều phương thức
cấp 1 – vốn tự có cơ bản, gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng
dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác,
các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng. Vốn cấp 2
– Vốn tự có bổ sung gồm cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu bổ sung
và giấp nợ.
1.1.3.2 Vốn huy động
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của
các ngân hàng thương mại bao gồm:
a. Tiền gửi không kỳ hạn( demand deposit)
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào( nên còn
gọi là tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu – demand deposit)
Đối với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà
chủ yếu phục vụ thanh toán. Chính vì vậy mà loại tiền gửi này còn gọi là tiền
gửi thanh toán. Loại tiền gửi này thường tồn tại dưới các hình thức:
- Tài khoản séc: tài khoản tiền gửi có khả năng phát séc
- Tài khoản NOW( negotiable oder Withdrawal account – Lệnh rút tiền có thể
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chuyển nhượng): Về bản chất, đây là một dạng tài khoản tiền gửi cho phép
phát hành séc nhưng được hưởng lãi cao hơn tài khoản séc thông thường.
- Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ( MMDA- Money market deposit
account): Tiền gửi loại này được dùng để đầu tư vào thị trường tiền tệ và cho
phép những người chủ tài khoản được phép phát séc. Tiền gửi loại này không
phải dự trữ bắt buộc
- Tài khoản ATS ( ATS account – Automatic transfer system account): Tài
khoản này cũng cho phép phát séc nhưng có thêm một đặc tính đặc biệt là khi
số dư trên tài khoản này vượt quá một mức nhất định thì phần tiền vượt quá sẽ
tự động chuyển sang một tài khoản tiết kiệm có lãi suất cao hơn và ngược lại
b. Tiền gửi có kỳ hạn ( Time deposit)
Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định
- Cho vay thế chấp hay ứng trước.
Do vậy, tiền vay NHTW còn gọi là tiền chiết khấu hay ứng trước.
Hiện nay NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:
-Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
- Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng :Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ
theo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản, dự trữ vật tư,
nguyên liệu, dự trữ vật tư…
b. Vay ngắn hạn các khoản dự trữ tù các TCTD khác
Mục đích của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy
định của NHTW. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những ngày
cho vay quá nhiều khiến cho thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại NHTW, trong khi
đó lại có một số ngân hàng khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ theo quy
định của NHTW, các ngân hàng thiếu dự trữ sẽ vay của các ngân hàng có thừa
dự trữ.
c. Vay từ các công ty
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ở các nước phát triển NHTM có thể vay trực tiếp từ các công ty qua một
số hình thức
- Vay ngắn hạn bằng các Hợp đồng mua lại: Là hợp đồng mà trong đó các ngân
hàng bán các tín phiếu kho bạc mà mình đang nắm giữ cho các tổ chức kinh tế
đang tạm thời thừa tiền mặt có kèm theo điều khoản mua lại số tín phiếu đó
sau một thời gian nhất định với một giá cao hơn.
- Vay từ công ty mẹ: Các công ty hay các tập đoàn kinh doanh có thể là chủ của
một ngân hàng hay nhiều ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng phát hành
trái phiếu hay giấy nợ để vay tiền từ thị trường nó sẽ chịu sự quản lý và rằng
buộc của NHTW về dự trữ, lãi suất và thủ tục. Trong khi đó nếu công ty mẹ
1.2.1.1 Ngoại tệ
Tiền mặt của nước ngoài dùng trong việc mậu dịch .
1.2.1.2 Huy động vốn ngoại tệ
Để đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh doanh các NHTM không chỉ
huy động vốn bằng đồng VND mà còn huy động bằng ngoại tệ( chủ yếu là
USD và EUR). Mặc dù việc huy động vốn bằng ngoại tệ chỉ chiếm một tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM nhưng trong thời gian
gần đây nguồn vốn này ngày càng cho thấy vai trò quan trọng của mình. Các
NHTM có thể huy động vốn ngoại tệ thông qua các cách sau:
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tầng lớp dân cư: Tiền gửi bằng ngoại tệ
của các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc huy động vốn bằng ngoại tệ
luôn bị tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trưởng quốc tế, và tình
trạng khan hiếm đồng VND
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH: Đây chủ yếu là các khoản tiền
gửi trong thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn từ 1 – 3 tháng.
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng khác. Nguồn tiền này
chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ. Tại Việt
Nam đối tượng cho vay chủ yếu là NHNN
Tiền vay bằng ngoại tệ: Cũng giống tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sự
cần thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biến
động. Do vậy lượng vay này nhỏ.
1.2.2 Vai trò của vốn ngoại tệ đối với NHTM
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Phục vụ hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng: Một trong nhungwc
mảng kinh doanh quan trọng của ngân hàng chính là hoạt động knh doanh
ngoại tệ. Nguồn vốn ngoại tệ dồi dào giúp ngân hàng có lợi thế, luôn chủ
động trong hoạt động kinh doanh của mình.
• Đáp ứng nhu cầu vay ngoại tệ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân: Các
doanh nghiệp có nhu cầu về vốn ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu, máy móc
• Nguồn ngoại tệ huy động không nhiều: So với đồng nội tệ, nguồn ngoại tệ huy
động được không nhiều. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ, nội tệ là đồng tiền của
Việt Nam, người dân tạo ra thu nhập, sinh hoạt đều sử dụng đồng tiền này,
đồng nội tệ có thể huy động từ nhiều đối tượng khác nhau do đó quy mô huy
động cũng dồi dào hơn
• Đối tượng huy động nội tệ không đa dạng: Đối tượng có đồng ngoại tệ chủ
yếu là các doanh nghiệp, mà chủ yếu là doanh nghiệp xuất khẩu, các gia đình
có người thân ở nước ngoài. Vì vậy việc tiếp cận nguồn ngoại tệ cũng khó
khăn.
• Huy động vốn ngoại tệ thường mang tính thời vụ cao: Đây có lẽ là đặc trưng
khách biệt nhất giữa huy động vốn ngoại tệ và huy động vốn nội tệ. Tiền gửi
của các doanh nghiệp chiếm đa số trong tổng nguồn vốn ngoại tệ ngân hàng
huy động được. Các doanh nghiệp thường có nhu cầu về ngoại tệ vào cuối
năm, nên nguồn vốn này thường khan hiếm vào cuối năm.
• Huy động vốn ngoại tệ chịu nhiều rủi ro:Việc huy động vốn ngoại tệ không
chỉ chịu những biến động kinh tế trong nước, mà nó còn chịu tác động từ
những nền kinh tế khác trên thế giới. Những chính sách tài chính, tiền tệ của
các nước khác trực tiếp ảnh hưởng tới lãi suất huy động của đồng ngoại tệ mà
ngân hàng huy động.
1.2.4 Điều kiện đảm bảo cho công tác huy động vốn ngoại tệ của
NHTM
1.2.4.1 Về pháp lý
Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo công tác huy động vốn ngoại tệ. Bất
kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều chịu sự điều tiết của pháp luật, hoạt
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ddoongjhuy động vốn ngoại tệ của ngân hàng cũng vậy. Huy động thành công
hay không một phần quan trọng chịu ảnh hưởng của các chĩnh sách điều tiết
của Chính phủ, của NHNN. Ví dụ như gần đây, khi Chính phủ nghiêm cấm
các hoạt động giao dịch ngoại tệ trện thị trường tự do, kiến nghị về việc minh
công tác huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng. NHNN và Chính phủ cần có
những chính sách tốt hơn nữa đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho phát triển kinh tế,
thúc đẩy huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng.
1.2.4.2 Về nhân sự
Vấn đề huy động vốn ngoại tệ đòi hỏi ngân hàng phải có đội ngũ cán bộ
có trình độ chuyên môn cao, đạo đức nghề nghiệp, am hiểu sâu sắc về quy
trình, thủ tục huy động vốn, về điều kiện kinh tế trong nước cũng như trên thế
giới, am hiểu pháp luật, và thông hiểu nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Đồng thời, cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ huy động vốn ngoại tệ
phải năng động, sáng tạo, chủ động tìm kiếm khách hàng mới, duy trì quan hệ
với khách hàng cũ. Trong bối cảnh rất nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt
Nam, với lợi thế về vốn, công nghệ và kinh nghiệm lâu năm trong ngàng ngân
hàng trên thế giới, ngân hàng càng cần quan tâm tới đội ngũ nhân viên một
cách thích đáng hơn nữa để có thể giữ được nhân tài.
1.2.4.3 Về cách thức huy động
Đặc điểm của nguồn vốn ngoại tệ kể cả về huy động và cho vay chính là
về tính thời vụ. Nguồn ngoại tệ thường khan hiếm vào các tháng cuối năm do
nhu cầu thanh toán của các daonh nghiệp nhập khẩu về cuối năm thường cao.
Đây là một bài toán khó cho công tác huy động vốn ngoại tệ.
Để có thể đáp ứng yêu cầu này, ngân hàng cần phải tạo ra những phương
thức huy động vốn một cách linh động, đa dạng, đáp ứng yêu cầu của động
đảo khách hàng. Đồng thời cần tạo ra khoảng cách về lãi suất giữa lãi suất
huy động kỳ hạn ngắn và dài hạn để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, thu
hút nguồn vốn có kỳ hạn dài.
Ngân hàng cũng cần có những dự báo về nhu cầu ngoại tệ trong tương
lai để có chính sách huy động một cách tối ưu, đạt được kết quả kinh doanh
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tốt. Bên cạnh đó, việc dự trữ nguồn ngoại tệ một cách thích hợp là vô cùng
cần thiết để có thể đảm bảo cấp tín dụng cho khách hàng trong mọi thời điểm.
khẳng định được vị thế,tầm quan trọng của mình không chỉ trong hệ thống
BIDV toàn quốc mà còn trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch số 1 –
Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long.
2.1.3.1 Thuận lợi
Khủng hoảng tài chính năm 2007 khởi nguồn là Mỹ đã dẫn tới khủng
hoảng kinh tế thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Khi
khủng hoảng tài chính xảy ra có lẽ ngành tài chính – ngân hàng gặp khó khăn
nhiều nhất và các ngân hàng Việt Nam đã và đang phải từng bước vật lộn với
những khó khăn, thách thức của nền kinh tế. Tuy nhiên trong muôn vàn khó
khăn ấy hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV
chi nhánh Thăng Long vẫn có được một số thuận lợi nhất định
Chính sách tiền tệ tương đối ổn định
Năm 2008, việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới lỏng dần cuối năm đã
tạo nên tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử. Đó là
8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5
lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; 3 lần nới
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
biên độ tỷ giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng. Xét về tần
suất điều chính đó, năm 2009 chính sách tiền tệ có sự ổn định hơn.
Cụ thể, trong nãm Ngân hàng Nhà nýớc chỉ một lần giảm lãi suất cơ bản
từ 8,5% xuống 7%/năm và duy trì đến hết tháng 11 để rồi tăng trở lại 8% từ
1/12 đến cuối năm. Riêng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu có 3
lần điều chỉnh, 2 lần giảm trong tháng 1 và 4, 1 lần tăng đầu tháng 12. Tỷ lệ
dự trữ bắt buộc có 1 lần điều chỉnh giảm từ tháng 3. Biên độ tỷ giá có 2 lần
điều chỉnh, lần nới rộng từ +/-3% lên +/-5% từ 24/3 và thu hẹp lại từ +/-5%
Tuy có được một số thuận lợi như vậy nhưng trong những năm vừa qua,
cùng chung hoàn cảnh với các doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh của
phòng giao dịch số 1 gặp rất nhiều khó khăn
2.1.3.2 Khó khăn
Năm 2008:
Chóng mặt với thay đổi của các công cụ điều hành
Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm
2008 chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm.
Đi cùng với quá trình này là tần suất điều chỉnh các công cụ điều hành chưa
từng có của Ngân hàng Nhà nước, tập trung ở các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ dự
trữ bắt buộc và biên độ tỷ giá.
Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi
suất cơ bản. Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều
chỉnh tương ứng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có 1 lần tăng trong tháng 2, 4 lần giảm
trong 3 tháng cuối năm (2 lần giảm đối với dự trữ bằng ngoại tệ). Lãi suất tiền
gửi dự trữ bắt buộc có 5 lần điều chỉnh (3 lần tăng, 2 lần giảm).
Cơ chế điều hành tỷ giá cũng ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có
trong lịch sử. Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bình
quân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vŕo tháng 6 vŕ cuối tháng 12.
Một công cụ được Ngân hàng Nhà nước sử dụng đến nữa là đợt phát
hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc (17/3). Đi cùng với kế hoạch này, nhà
điều hành đã 2 lần điều chỉnh lãi suất cho tín phiếu, 1 lần tăng từ 7,8% lên
Đỗ Minh Tập Lớp: Tài chính Quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
13%, tháng 12 giảm xuống còn 4,5%.
Chính những thay đổi liên tục, đột ngột trong chính sách tiền tệ của
Chính phủ đã khiến cho phòng giao dịch gặp rất nhiều khó khăn kể về huy
động cũng như cho vay. Đặc biệt là đợt phát hành tín phiếu bắt buộc của Ngân
hàng Nhà nước đã khiến cho phòng giao dịch khó khăn lại càng thêm chồng
chất, làm giảm lợi nhuận kinh doanh.