quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam 2014 - Pdf 25

Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng ( Vanamei Shrimp ) ở Việt Nam năm 2014
Biên soạn : Ông BanChong BuaHung
Chức vụ: Gíam đốc kỹ thuật công ty CP. Vietnam Corporation.
Tài liệu tập 1. 8
th
Aug 2014( 8 tháng 8 năm 2014) Việt Nam. Từ năm 2010-2012 Việt Nam xảy ra dịch bệnh EMS (bệnh chết sớm) rất nghiêm trọng vùng dịch
bệnh xảy ra ở trên cả nước ước tính bệnh chiếm 50-60% diện tích cả nước .Từ đó đội hỗ trỡ kỹ
thuật bộ phận bán thức ăn tôm của công ty CP.Vietnam Corporation đã nghiên cứu tìm ra nguyên
nhân và hướng khắc phục vấn đề cấp bách trên.Nhằm đề phòng dịch bệnh EMS và giảm diện tích
nhiễm bệnh cho người nuôi tôm.
1. Nghiên cứu con đường lây lan của bệnh EMS
Bệnh EMS gặp và lây lan lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 2009 từ đó bệnh EMS được lây lan
tới miền Nam của Việt Nam ở năm 2010.Phần lớn diện tích bị lây lan ở miền Nam của Việt
Nam là diện tích đang nuôi tôm sú.Sau đó năm 2011 tiếp tục lây lan lên miền Trung của Việt
Nam phần lớn ở đây nuôi tôm Thẻ chân Trắng( Vanamei Shrimp ) đến năm 2012 EMS lại lây lan
đến miền Bắc của Việt Nam vị trí gần với miền Nam Trung Quốc.Sau đó lây lan qua Malaxia và tới
Miền Đông của Thái Lan bệnh dịch cũng lây lan xuống miền Trung và miền Nam của Thái Lan .
Con đường lây lan của bệnh EMS bắt đầu năm 2009 từ Trung Quốc lây lan tới Thái Lan và lây
khắp các miền của nước này.Nếu chúng ta chú ý đến kỹ thuật nuôi tôm và sự phát triển
trong cách xây xựng Farm nuôi của từng đất nước thì sẽ thấy được sự khác nhau hoàn toàn.
Khi so sánh cách quản lý Farm hoặc ao nuôi tôm của người nuôi thì phần lớn người nuôi tôm
ở Trung Quốc phát triển chưa được hoàn thiện.Đồ dùng và dụng cụ để sử dụng trong quá
trình nuôi tôm còn chưa đầy đủ hay hệ thống nước để nuôi tôm còn giống với nuôi tôm Sú,
quá cũ so với nuôi tôm thẻ chân trắng.Khi so sánh việc quản lý Farm nuôi tôm với Việt Nam
thì cách quản lý của người nuôi tôm ở Việt Nam tốt hơn nhiều so với người nuôi tôm ở Trung
Quốc.Từ đó quá trình lây lan bệnh EMS xuất hiện ở Trung Quốc trước khi lan sang Việt Nam.
Khi nghiên cứu con đường lây lan của dịch bệnh EMS ở Việt Nam thì nhận thấy rằng EMS bắt
đầu xuất hiện ở miền Nam của Việt Nam.Các tỉnh Sóc Trăng,Bạc Liêu,Cà Mau, đây là vùng

lên tới 40 độ và nhiệt độ giao động trong ngày có sự khác biệt rõ.Từ việc môi trường thay
đổi nhiệt độ của trái đất cao lên có thể phù hợp cho một số Bacteria có hại cho tôm phát
triển nhân rộng ra.Bên cạnh nhiệt độ tăng lên kèm theo ánh sáng nhiều thì rất thích hợp cho
Tảo thực vật phát triển.Khi tảo thực vật có sự phát triển và chết nhiều hơn thì sẽ làm xuất
hiện những chất thải ở dưới đáy ao tăng lên. Chất thải nằm ở đáy ao đó có thể là thức ăn,nơi
sinh sống hay chỗ bám cho các Bacteria mang mầm bệnh đến cho tôm.

Từ việc nghiên cứu quá trình thay đổi của môi trường và nhiệt độ của trái đất hiện nay .Ta
nhận thấy nhiệt độ tăng lên có thể thích hợp cho một số Bacteria gây bệnh cho tôm.Nhiệt độ
tăng lên cũng có thể làm cho chất thải ở đáy ao tăng và đó cũng là yếu tố thích hợp cho sự
phát triển của Bacteria mang mầm bệnh.

3 . Nghiên cứu quá trình chết do bệnh EMS ( Early Mortality Syndrome: EMS )

Qua báo cáo của các nghiên cứu thấy rằng đây là bệnh do gan ( Acute Hapatopancreatic
Necrosis Disease : AHPND).Cuối năm 2012 phát hiện ra rằng Bacteria gây bệnh này là
Bacteria nằm trong nhóm Vibrio Parahaemolyticus.Nhóm nghiên cứu bệnh này gồm có Tiến
sỹ Donald Lightner và một số thành viên của trường đại học Arizona.Có thể tìm ra nguyên
nhân gây bệnh của EMS hay AHPND.Các nhà nghiên cứu đã gặp EMS có nguyên nhân từ sự
lây lan qua đường ăn của Bacteria.Bacteria tăng số lượng trong ruột tôm và sản xuất độc tố
gây hại cho mô.Từ đó làm cho quá trình làm việc của gan và tụy xảy ra bất thường đây là 2
bộ phận trong hệ thống tiêu hóa thức ăn của tôm.Bacteria loại này không có hại cho người
(sưu tầm: The Global Aquaculture Alliance New Releases .2013).

4. Nghiên cứu vai trò chung và nơi sinh sống của Vibrio Parahaemolyticus từ báo cáo của các
nhà nghiên cứu.
Vibrio là Bacteria Gram âm có hình que thẳng hoặc cong nhiều loài có thể di động được nhờ
polar flagellum có trong thức ăn lỏng.Nhưng khi lớn lên ở trong thức ăn khô (cứng) có thể
tạo ra peritrichous flagella .Bacteria trong Chi Vibrio không hình thành bào tử có thể lớn lên
trong môi trường có hoặc không có oxy (facultative anaerobe).Dùng chất hữu cơ làm nguồn

Vai trò của thức ăn Probiotics và vi sinh vật trong tình trạng EMS.
(Tiến sỹ Saiwut Xutthongkong trung tâm nghiên và phát triển thủy sản ven biển
Samutsakon văn phòng nghiên cứu và phát triển thủy sản ven biển bộ thủy sản )

Đặc điểm của vi khuẩn Vibrio Parahaemolyicus
1. Vi khuẩn gram âm
2. Hình que thẳng hay uốn cong
3. Không hình thành bào tử và không hình thành capsule (quả nang)
4. Nhiệt độ thích hợp cho phát triển 35-37 độ
5. Độ pH khoảng 6-9
6. Độ mặn thích hợp cho phát triển 10-30 ppt (0.5-80ppt)
7. Phát triển được ở nhiệt độ 9.5-45 độ
8. Sự lây lan của vi khuẩn phụ thuộc vào nhiệt độ, vi khuẩn ở trong mùn bã khi nhiệt độ
thấp
9. Khi nhiệt độ cao vi khuẩn sẽ lây lan từ mùn bã ở mặt nước hay tảo động vật ở mặt ao và
sử dụng Chitin là thành phần của tảo động vật làm thức ăn
10. Vi khuẩn bị diệt ở nhiệt độ 60 độ trong khoảng thời gian là 15 phút
11. Bị diệt với a xít acetic pH 4.4 trong khoảng thời gian 30 phút
12. Vi khuẩn sẽ chết khi Nacl có nồng độ nhiều hơn 10 %
13. Có thể sống ở nhiệt độ thấp ví dụ như trong thịt cua (1-15 độ) lâu 30 ngày,vỏ tôm (3-18
độ) lâu 6 ngày,Hàu đá lâu 40-130 ngày.
14. Vi khuẩn sẽ tăng số lượng ở 10 đến 15 phút với nhiệt độ 37 độ
Cách dùng Probiotics để khống chế EMS
Probiotics được xuất phát từ ngôn ngữ Hy lạp có nghĩa là vì cuộc sống (for life) trái ngược với
(antibiotic) có nghĩa là sự chống cự cuộc sống .Probiotics chung có nghĩa là vi sinh vật cư trú trong hệ
tiêu hóa thức ăn có vai trò đối với việc duy trì sự cân bằng trong hệ tiêu hóa.Qúa trình tiêu hóa khi
dùng Probiotics ở động vật nước là việc thêm chất hay sinh vật sống vào đường tiêu hóa.Giúp cân
bằng vi sinh vật nhằm làm cho hệ thống tiêu hóa làm việc được tốt hơn.Có lợi cho cơ thể của động
vật nước ,quá trình trưởng thành tốt hơn .Một số loài có thể tạo chất để miễn dịch cho nhau hay
một số loài xâm nhập vào để dành thức ăn.Một số loài bám vào thành dạ dày và ruột của động vật

lý ao tốt > tôm bị EMS > chữa trị > khỏi/chết
2. Không có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa nhưng có ở trong
nước và đất của ao nuôi > quản ý và xử lý ao không tốt để khống chế vi khuẩn > bắt đầu
chết khi tôm tiếp xúc với vi khuẩn và ăn thức ăn dạng viên > chữa trị > khỏi/chết
3. Có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa và trong ao > tôm bị EMS
> chữa trị > không thể khống chế vi khuẩn > chết.
4. Tôm loại giống tốt có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa nhưng
quá trình chuẩn ao và xử lý ao không tốt > tôm bị EMS > chữa trị > khỏi
5. Tôm loại giống tốt không có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa
nhưng cũng có trong nước và trong đất ao nuôi > cách quản lý ao nuôi chưa đủ tốt để khống
chế vi khuẩn trong ao > tôm bắt đầu chết
6. Tôm loại giống tốt không có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa
nhưng cũng có trong nước và trong đất ao nuôi > cách quản lý ao nuôi tốt > khống chế được
vi khuẩn trong ao > không có EMS > lợi nhuận cao
7. Tôm không có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa nhưng quá
trình chuẩn bị ao và cách quản lý ở mức trung bình > không có Vi Rút WSSV hay YHV lẫn lộn
vào > tôm bị EMS + Vi rút > chữa trị > chết nghiêm trọng.
8. Không có vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus mang EMS trong hệ tiêu hóa và trong ao nuôi >
tôm mọi loại giống SIS,lớn nhanh,đưa vào lai tạo trong nước > quản lý tốt > không bị EMS.
Những yếu tố khác của vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus: Không hình thành bào tử và không
hình thành capsule (quả nang) phát triển tốt và có thể nhân rộng trong môi trường nhiệt độ 35-
37 độ .Nhiệt độ thích hợp nhất cho quá trình phát triển là 35-37 độ,pH nằm trong khoảng 6-9 là
phát triển tốt nhất.Cần sử dụng muối trong quá trình phát triển 10-30 ppt(0.5-0.8ppt) có thể
sống ở nhiệt độ từ 9.5-45 độ.Qúa trình lây lan của vi khuẩn này phụ thuộc vào nhiệt độ.Khi nhiệt
độ thấp thì vi khuẩn sẽ nằm trong mùn bã của đất.Khi nhiệt độ cao thì vi khuẩn sẽ phát tán ra từ
mùn bã ở trên mặt nước hay trên mặt ao và hấp thụ Chitin của phần vỏ trên Tảo động vật giống
như thức ăn. V. Parahaemolyticus bắt gặp ở vùng ven biển ,trong nước biển, khắp trái đất,mùn
bã đất,mùn bã lơ lửng trong nước,động vật biển,tảo và san hô.Qua đó ta thấy nếu đáy ao có vi
sinh vật tích tụ nhiều và không xử lý kịp thời thì khi nhiệt độ phù hợp đó sẽ là nguồn thức ăn cho
vi khuẩn Vibrio Parahaemolyticus.Khi đó nó sẽ phát triển và lây lan rồi nhân rộng khắp nơi, gây

Cách sử dụng hệ thống Biosecure nhằm làm cho kết quả sản xuất đạt mức cao nhất theo mô hình
của CPF Turbo Program.
Vấn đề mầm bệnh xuất phát từ Vi rút như bệnh đốm trắng,đầu vàng đã gây thiệt hại nặng cho kinh
tế của người nuôi tôm.Từ đó người nuôi tôm phải tìm cách để giải quyết vấn đề bằng việc đưa hệ
thống Biosecure vào áp dụng trong Farm nuôi tôm.Nhằm giảm khả năng rủi ro và mất mát do bệnh
từ vi khuẩn gây ra.Hệ thống Biosecure được đưa vào áp dụng trong quá trình nuôi tôm và đã đưa
đến những thành công lớn.Đối với việc áp dụng hệ thống này vào nuôi tôm thì đã được tiến hành rất
chu đáo từ hơn 10 năm trước.Thực trạng hiện nay thì sự lây lan của bệnh có phần giảm xuống rõ rệt
so với trước đây do hiện nay người nuôi tôm đã có sự hiểu biết và coi trọng việc phòng ngừa bệnh
bằng hệ thống Biosecure tốt hơn nhiều.Hệ thống Biosecure áp dụng trong Farm nuôi tôm có mục
đích nhằm giảm thiểu khả năng xâm nhập của Vi rút từ bên ngoài vào.Ngoài ra còn phòng ngừa sự
lây lan của vi khuẩn từ các ao nuôi khác.Trong trường hợp bệnh xảy ra ở Farm phần lớn thì hệ thống
nuôi sẽ là kiểu khép kín ví dụ như trại giống (Hatchery) việc phòng bệnh sẽ được chú trọng hơn việc
nuôi.Hầu như ao nuôi có kích thước lớn và có vị trí nhận ánh sáng tốt.Bên cạnh đó việc sử dụng hệ
thống Biosecure trong Farm nuôi tôm có thể tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào khả
năng chịu đựng rủi ro cũng như quy mô của Farm đó.Theo phướng pháp của CPF Turbo Program sẽ
có các bước như sau:
1. Cải tạo và xử lý hệ thống của Farm.
1.1 Quản lý ngăn chặn và cách ly với môi trường bên ngoài,không được rò rỉ nhằm không
cho các nhân tố có thể gây bệnh xâm nhập vào môi trường ao nuôi.
1.2 Tách diện tích của Farm thành 2 phần gồm phần diện tích nuôi và diện tích văn phòng sẽ
có kho thức ăn,nhà ở,nhà ăn đây là diện tích đặt phía ngoài so với diện tích nuôi.
1.3 Có ao đựng nước tái sử dụng và ao lắng
1.4 Quy định vùng ao nuôi khi ao có số lượng nhiều
- Mỗi vùng tốt nhất nên thả tôm cùng một thời gian hoặc sát ngày với nhau nhằm
dễ quản lý và khống chế khi dịch bệnh xảy ra.
- Quy định và phân chia người chịu trách nhiệm ở mỗi vùng không được lẫn lộn với
vùng khác.
2. Phòng ngừa vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống nuôi.
2.1 Cần phải sử dụng tôm giống sạch vi khuẩn (CPF)

2.5.2 Bên trong Farm.
- Mỗi dụng cụ chỉ được sử dùng cho 1 ao nuôi không được sử dụng lẫn lộn với ao
khác.Nếu có những dụng cụ cần thiết sử dụng chung ví dụ như chài dùng để xem
tôm thì chúng ta cũng nên có ít nhất 2 bộ để có đủ thời gian diệt khuẩn cho từng
bộ.
- Phương tiện vận chuyện hay dụng cụ trong Farm thì nên chia ra từng loại ví dụ
như xe chở vôi,chở thức ăn,dụng cụ bắt tôm…Sau khi sử dụng xong thì nên vệ
sinh sạch sẽ và diệt khuẩn. Ngoài ra phương tiện của người ở trong mỗi vùng thì
chỉ được sử dụng trong vùng đó cấm không được đưa đi sử dụng chung với vùng
khác.
- Quy định nội quy làm việc đối với những người làm việc ở bộ phận phòng ngừa
dịch bệnh và những người này phải tuân thủ theo quy tắc đã được quy định.Đó là
phải đi Ủng và mặc áo quần uniform sau đó tiến hành việc diệt khuẩn bằng cách
nhúng Ủng và tay vào dung dịch diệt khuẩn.
3. Cách phòng ngừa sự lây lan của vi khuẩn khi bệnh xuất hiện
3.1 Trong trường hợp tôm còn nhỏ thì chúng ta xả bỏ hết.
- Tách những dụng cụ sử dụng ở ao nuôi này không được lẫn lộn sang ao nuôi khác.
- Diệt tôm bằng thuốc hóa học phu hợp.
- Thu những xác tôm đã chết đem đi đốt hoặc nấu chín nhằm diệt khuẩn.
- Rửa và diệt khuẩn những dụng cụ sử dụng hằng ngày ở ao bị nhiễm bệnh.
- Ngâm nước khoảng 14 ngày sau đó tháo nước ra để chuẩn bị ao mới
3.2 Bắt nhanh trong trường hợp tôm có kích cỡ lớn có thể bán được
- Tách dụng cụ cũng như người đã tiếp xúc với ao nhiễm bệnh nhằm ngăn chặn
bệnh lây lan qua ao khác.
- Chuyển tôm từ ao đến nơi bán tôm và phải chú ý tránh đi qua những ao đang
nuôi.
- Vệ sinh và diệt khuẩn dụng cụ sử dụng trong ao nhiễm bệnh
- Thu xác tôm trên mặt ao và đưa đi đốt hoặc nấu chín nhằm diệt khuẩn
- Người đã làm việc trong ao nhiễm bệnh thì phải vệ sinh tắm rửa sạch sẽ trước khi
làm việc

suốt quá trình nuôi cho đến khi thu hoạch tôm.
- Để sử dụng Probiotic đúng thì nên tham khảo hướng dẫn của kỹ sư hiểu biết hoặc
nhân viên bán của công ty tại vùng đó.
Yếu tố đầu tiên trong nuôi tôm để đi tới thành công đó là quản lý.Việc áp dụng hệ
thống Biosecure làm cho sản lượng tăng lên rõ rệt.Đối với CPF Turbo Program thì
chúng ta cần phải hiểu rõ được và phải thực hiện đúng.Đây là yếu tố đầu tiên để
đội Technical Team Vietnam được học hỏi cũng như hiểu biết đến cách làm theo
hướng CPF Turbo Program.Từ đó đã lên kế hoạch phòng ngừa
V.Parahaemolyticus (EMS) và bệnh xảy ra do các loại vi khuẩn khác.

Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng (Vanamei Shrimp) ở Việt Nam trong tình trạng xảy ra bệnh EMS.
1. Quản lý Farm nuôi tôm áp dụng hệ thống CPF Turbo Program
1.1 Tiến hành làm hệ thống Biosecure trong ao nuôi và trong Farm nuôi tôm.
1.2 Sử dụng tôm giống CP
1.3 Dùng thức ăn CP
1.4 Dùng Probiotic của công ty CP cũng như sử dụng kỹ thuật của công ty CP
2. Kỹ thuật nuôi tôm và cách quản lý .
Hiểu và đề ra những khẩu hiệu cần thực hiện theo:
“Không để nước đứng yên “
“Không để nước lâu”
“Không bơm nước trực tiếp”
“Không để nước sâu”
“Tìm hiểu và áp dụng Probiotic đúng theo CP-Probiotic Farming Program “
Chúng ta đi vào tìm hiểu ý nghĩa của Slogan(Khẩu hiệu) mà đội Kinh doanh và đội hộ trỡ kỹ thuật CP
Việt Nam phải đưa đi hỗ trợ và thực hiện”
“Không để nước đứng yên “ có nghĩa là khi lấy nước vào ao nuôi tôm vừa đủ để sử dụng rồi thì
chúng ta phải mở máy quạt nước.Để chất mùn bã,xác tảo và các tạp chất khác có trong nước được
tập trung ở giữa đáy ao lúc đó ta siphon ra ngoài trước khi thả tôm giống xuống ao.Nếu trong trường
hợp chúng ta không mở quạt nước cho nước chuyển động thì những chất mùn bã,xác tảo và tạp
chất sẽ rơi xuống đáy ao lúc đó tạo thành Bio-film lan khắp ao.Như chúng ta đã biết thì chất mùn

- Trong quá trình nuôi nước sử dụng để nuôi phải diệt khuẩn bằng Chlorine 30ppm
trở lên “Không bơm nước trực tiếp”
- Mức nước trong quá trình nuôi tôm ở tháng đầu tiên có độ sâu không sâu hơn 1,2
m “Không để nước sâu”
- Sử dụng Vi sinh hoặc Probiotic hằng ngày sau khi hóa chất dùng để chuẩn bị nước
phân hủy hết.Bắt đầu sử dụng vi sinh từ ngày đầu tiên bằng 3 loại để cải thiển
chất lượng nước đó là : pH Fixer , Supper VS và CP Bioplus ủ với đường mật sử
dụng xen kẽ nhau hằng ngày nhằm cho vi sinh vật có lợi đa dạng phong phú
hơn.Giúp phân hủy Bacteria có hại cho tôm cách dùng ví dụ ngày đầu tiên dùng
pH Fixer ngày thứ 2 dùng Super VS ngày thứ 3 dùng CP Bioplus ủ với đường mật
ngày thứ 4 dùng pH Fixer ngày thứ 5 dùng Super VS ngày thứ 6 dùng CP Bioplus ủ
với đường mật.Thay đổi xen kẽ nhau hằng ngày nhất là lúc chuẩn bị nước trước
khi thả tôm nếu tốt hơn thì chúng ta có thể dùng trong suốt quá trình nuôi
tôm.Có thể dùng thêm 1 loại vi sinh nữa đó là CP Zymetin trộn với thức ăn cho
tôm ăn hằng ngày nhằm làm cân bằng vi sinh trong hệ tiêu hóa của tôm giúp tôm
tiêu hóa thức ăn tốt tỷ lệ sống sót cao,khỏe mạnh và giảm chất bẩn từ tôm thải
ra.Cách dùng vi sinh cùng đường mật hòa tan trong nước ta dùng đường mật 5-
10 ppm hòa tan trong nước rồi tạt hằng ngày bắt đầu từ chuẩn bị nước ngày đầu
tiên.Cho tới tôm khi được 5-7 ngày tuổi thì chúng ta giảm xuống hoặc dùng ngày
cách ngày hay 3 ngày dùng lần tùy thuộc vào chất lượng nước và màu của nước
trong ao.Việc dùng cách này để nuôi tôm thì màu của nước sẽ có màu nâu nhạt
pH ổn định hoặc giao động không quá 0,3 đơn vị trong ngày, lượng tảo thực vật
màu xanh hoặc xanh lục cũng sẽ giảm xuống.Qúa trình sử dụng vi sinh có lợi hằng
ngày sẽ giúp cho số lượng vi sinh có lợi ở trong ao tăng lên giúp phân hủy chất
bẩn ở đáy ao.Khi vi sinh có lợi có số lượng nhiều thì sẽ dành thức ăn cũng như
nơi cư trú của Bacteria có hại cho tôm.Từ đó số lượng Bacteria có hại sẽ giảm
xuống và giúp cho các yếu tố trong nước ổn định hơn tôm phát triển tốt hơn.
2.2 Qúa trình xử lý chất bẩn trong ao và đáy ao.
Ao lót bạt 100%:
- Tuần đầu tiên tôm có tuổi 4-5 ngày bắt đầu xuống ao chà đáy và xung quanh ao

thức ăn lý tưởng cho vi khuẩn V.Parahaemolyticus cũng như Bacteria có hại cho
tôm.Xác tảo, mùn bã,chất bẩn trong ao trải qua một thời gian sẽ phân hủy và sinh ra
Bio-Film bám ở đáy ao.Khi đáy ao xuất hiện nhiều Bio-Film và chất bẩn mà không có
quá trình xử lý thì sau một thời gian sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn Vibrio xuất hiện và
phát triển.Khi chúng ta thả tôm xuống thì tôm sẽ tìm thức ăn ở đáy ao theo đặc tính
của nó.Tôm ăn thức ăn viên mà chúng ta cho ăn nhưng có nhiều trường hợp tôm tìm
không thấy thức ăn viên trong nước lúc đó tôm sẽ tìm ăn thức ăn tự nhiên như xác
tảo,chất mùn bã,xác động vật,chất bẩn hoặc Bio-Film có trong ao.Khi đó tôm sẽ có cơ
hội ăn phải Bacteria gây bệnh và có thể là cả vi khuẩn V.Parahaemolyticus cư trú
trong xác tảo,chất mùn bã,xác động vật,chất bẩn.Sau một thời gian thì tôm ăn càng
nhiều và tích tụ trong cơ thể lúc đó sẽ làm cho tôm yếu và chết đi.Trong việc phòng
ngừa thì nhóm Technical team Vietnam đã chú trọng tới việc xử lý chất bẩn ở đáy ao
là một yếu tố quan trọng.Gỉam số lượng tảo phát triển nhanh và tảo chết đi bằng cách
dùng vi sinh và đường mật hằng ngày tạo màu nước nâu nhạt.Bên cạnh đó cũng xử lý
chất bẩn,mùn bã,thức ăn thừa bằng vi sinh hay làm vệ sinh đáy ao hằng ngày và
siphon ra ngoài.Xử lý chất bẩn ra khỏi ao nuôi nhằm mục đích cho tôm khi thả xuống
sẽ tiếp xúc với chất bẩn ít nhất.Gỉam thiểu tình trạng tôm ăn Bacteria có hại.Việc sử
dụng vi sinh có lợi theo chương trình CP-Probiotic farming program để khống chế
Bacteria có hại.Theo chương trình này thì giá trị của oxy không được thấp hơn 5 ppm
trong suốt ngày .Ngoài ra chúng ta cũng phải áp dụng Biosecure theo “CPF-Turbo
Program” và phải coi đây là yếu tố quan trọng.Từ quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng
(Vanamei Shrimp) ở Việt Nam trong tình trạng xảy ra bệnh EMS nói trên.Chúng ta
phải chú trọng nhất đến quá trình quản lý Farm bằng việc áp dụng kỹ thuật CPF-Turbo
Program làm tiêu chuẩn.Áp dụng kỹ thuật quản lý đáy ao cho sạch sẽ nhằm không cho
Bio-Film xuất hiện gây bệnh cho tôm.Áp dụng CP-Probiotic Farming Program trong
quá trình quản lý chất lượng nước,màu nước cũng như khống chế Bacteria và quản lý
các yếu tố liên quan khác(Hiểu và ghi nhớ Slogan,Khẩu hiệu, và cần thực hiện nghiêm
túc).Về cơ bản nói chung thì nếu chúng ta thực hiện và áp dụng những kiến thức trên
một cách đúng đắn có thể giúp chúng ta tránh được EMS ở một mức độ hài lòng.
Quy trình nuôi tôm áp dụng CPF-Turbo Program nói trên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status