CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
SÁNG KIẾN, CẢI TIẾN ĐỀ NGHỊ XÉT CÔNG NHẬN DANH HIỆU
CHIẾN SĨ THI ĐUA CƠ SỞ NĂM 2015
I. SƠ LƯỢC BẢN THÂN
- Họ và tên: Dương Thị Kim Long. Năm sinh: 1978
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học Tiếng Anh
- Chức năng, nhiệm vụ được phân công: Giáo viên dạy lớp
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học An Bình B
II. NỘI DUNG
1. Thực trạng
Ngày nay, trong trường phổ thông thì việc giảng dạy của người truyền đạt tri thức và
việc học của người tiếp thu tri thức là hai vấn đề rất cần thiết, đòi hỏi chất lượng cao. Thực
tế trong giảng dạy thì thầy dạy tốt nhưng chưa hẳn là trò học tốt.Tuy nhiên nếu dạy có
phương pháp thích hợp thì hiệu quả sẽ cao hơn, nhất là môn Tiếng Anh ở trường Tiểu học,
cần phải làm cho học sinh phấn khởi, hồ hởi, tự giác, vui vẻ tiếp nhận và chờ đón những
điều mới mẻ, phải làm sao cho học sinh thích học chứ không đơn thuần là truyền thụ tri
thức, học sinh không có cảm giác bị gò bó, là gánh nặng hay bắt buộc từ bên ngoài. Học
sinh “thích” học thầy cũng “ muốn” dạy và hiệu quả giáo dục cũng cao hơn. Một trong các
quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông mà chúng ta đang thực hiện là tích cực hóa các hoạt
động của học sinh. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải làm cách nào? Dạy ra sao? Dạy như
thế nào để thích hợp với tâm lí lứa tuổi và khả năng học tập của học sinh.Trong dạy và học
Tiếng Anh, từ vựng là một kiến thức quan trọng, là phương tiện, điều kiện hình thành và
phát triển kỹ năng giao tiếp. Vì vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng
là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ, tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và Tiếng Anh
nói riêng. Nó được thể hiện dưới hai hình thức: Lời nói và chữ viết. Muốn sử dụng ngôn
ngữ đó tức là phải nắm vững hình thức biểu đạt của chúng. Song do có mối liên quan của
từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ ( ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu…) hoặc trong
pháp dạy và học từ vựng phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Tiếng Anh ở
trường Tiểu học”. Qua đề tài sẽ nhìn thấy được thực tế học tập của học sinh. Những thuận
lợi, khó khăn, từ đó đưa ra phương pháp thích hợp cho phân môn này.
3. Mô tả nội dung, bản chất của sáng kiến
A . Nội dung:
a. Kỹ năng giới thiệu từ vựng:
Khi nói đến ngữ liệu mới là nói đến ngữ pháp và từ vựng. Chúng có mối quan hệ
khắng khích với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của câu.Trong một bài học
luôn xuất hiện từ mới, nhưng không phải từ vựng mới nào cũng cần được đưa vào để dạy.
Lưu ý có 2 dạng từ chọn để dạy:
- Từ “chủ động” và từ “bị động”
2
Từ “chủ động” là những từ cốt lõi để hiểu văn bản và có tần suất dùng nhiều trong giao
tiếp. Nó có liên quan đến các kỹ năng ( Nghe – nói – đọc – viết ). Dạng từ này giáo viên
lưu ý đầu tư thời gian để giới thiệu và cho các em luyện tâp nhiều hơn.
Từ “ bị động” giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết không cần đầu tư vào các hoạt
động ứng dụng, chỉ cần đọc hiểu trong văn cảnh.
+ Khi dạy từ mới cần làm rõ các yếu tố cơ bản sau:
• Form ( dạng từ)
• Meaning (ý nghĩa)
• Use ( cách sử dụng)
b. Một số phương pháp để giới thiệu từ một cách sinh động:
+ Giới thiệu từ thông qua các dụng cụ trực quan:
- Dùng đồ vật thật, các đồ chơi trẻ em, các mô hình… Ví dụ: doll, ball,
robot…unit 14
- Tranh ảnh: Vẽ trực tiếp lên bảng, dùng tranh ảnh, biểu đồ, tranh treo
tường…Ví dụ: cat, dog, tiger (unit 15)
+ Giới thiệu từ thông qua hành động của giáo viên: dùng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ,
….Ví dụ: brush teeth, sing, headache,….
* Kiểm tra nghĩa từ bằng Tiếng Việt: Giáo viên hỏi có học sinh nào biết nghĩa
Tiếng Việt của từ đó không và yêu cầu các em nêu lên, giáo viên ghi lên bảng.
* Kiểm tra trọng âm của từ: Giáo viên phát âm lại các từ và yêu cầu học sinh nhận
diện âm tiết có trọng âm để đánh dấu.
Trong giảng dạy giáo viên cần cố gắng phát huy hết khả năng tự học hỏi của học
sinh. Bên cạnh đó, giáo viên còn phải biết sắp xếp các từ vựng sẽ dạy trong bài theo một
trình tự hợp lý, tạo các lời dẫn gợi mở theo chủ điểm của bài học. Trong tiết học chỉ dạy tối
đa 6-8 từ, các từ này phải thuộc loại hoạt động, nghĩa là các từ này học sinh phải sử dụng
thường xuyên ở lớp nhằm giúp các em rèn các kỹ năng cơ bản, đặc biệt là kỹ năng nói và
viết. Giáo viên nên phiên âm các nguyên âm chính của từ mới, để học sinh phát âm dễ
dàng hơn.
• Một số thủ thuật kiểm tra và củng cố từ mới:
Kiểm tra từ vựng của học sinh là việc rất quan trọng giúp cho giáo viên biết học sinh
nắm được từ ở mức độ nào để có biện pháp dạy thích hợp hơn.Các thủ thuật kiểm tra và
củng cố sẽ khuyến khích các em hăng say, tích cực hơn trong học tập, thuộc bài ngay tại
lớp. Việc kiểm tra thường diễn ra đơn giản.
- Kiểm tra đơn giản gồm một số trò chơi:
+ What and where : giáo viên vẽ vòng tròn và điền từ vào sau đó cho học
sinh đọc và xóa dần các từ. Cuối cùng yêu cầu các em viết lại các từ đó đúng vị trí.
(Unit 5) Ví dụ:
4
book
pen
ruler rubbe
r
penci
l
+ Bingo: Học sinh chọn 4 từ trong số các từ mà giáo viên đã cho, sau khi nghe giáo
book
rubber
book
desk
school bag
book
Pencil
case
trong một phút rồi đậy lại. Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm và yêu cầu 2 nhóm học sinh
lên bảng ghi lại tên các đồ vật sau đó mở mâm vừa đậy để kiểm tra. Nếu nhóm nào ghi
được nhiều từ chính xác, nhanh thì nhóm đó thắng.
+ Simon says: Khi giáo viên nói có từ “simon says” thì học sinh sẽ lặp lại từ, nếu
không có từ “simon say” thì học sinh không nói theo giáo viên.
Ngoài việc thực hành để hiểu và nhớ từ bằng các hình thức bài tập nêu trên, người
dạy còn có thể cho người học thực hành thêm nhằm mục đích củng cố hay tổng kết lại các
nội dung hoặc lĩnh vực từ vựng mà các em đã được học bằng cách tổ chức các trò chơi
như: lucky number, Network, Wordstorm, Nought and crosses, pelmanism, dictation
lists… Những hoạt động trò chơi này giúp các em vừa học vừa chơi tạo không khí thoải
mái mà khắc sâu kiến thức, không bị gò bó, cứng nhắc như những môn học khác.
• Hướng dẫn học sinh học từ vựng ở nhà
Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, thì giáo
viên cần dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của họ.Thầy giáo chỉ là người hướng
dẫn, tổ chức thực hiện; người học đóng vai trò chủ đạo trong quá trình học tập ; tức là phải
phát huy cao độ tính tích cực của học viên trong luyện tập thực hành. Học sinh muốn lĩnh
hội tốt những kiến thức đó thì phải tự học bằng chính các hoạt động của bản thân, không sợ
mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát trong giai đoạn này là rất quan trọng. Bên cạnh đó,
thời gian học ở trường rất ít, cho nên phần lớn thời gian còn lại là ở nhà, các em phải tổ
chức cho được hoạt động học tập của mình. Nếu các em làm được điều đó thì hoạt động
4. Khả năng và phạm vi áp dụng sáng kiến
Sau khi đưa phương pháp mới về việc dạy từ vựng vào quá trình dạy học kết quả
cho thấy : Nguồn từ và câu của các em tăng lên rõ rệt, nhờ có nguồn này mà học sinh tích
cực học tập, mạnh dạn, tự tin. Hoạt động của các em mang tính tự giác, giờ học thoải mái,
hiệu quả mang lại rất cao. Đa số các em nắm được cách học, và khi làm bài tập đọc hiểu,
viết hay nói các em không còn lo lắng nữa và luôn đạt kết quả tiến bộ hơn trong các bài
kiểm tra. Số học sinh đọc kém, ít nhớ từ vựng, viết chậm trong lớp giờ đã giảm xuống rất
nhiều, chứng tỏ ý thức học của các em rất tốt. Những giờ học tiếng Anh rất hăng say, tích
cực trong các hoạt động trò chơi, thực hành, các em đọc to, rõ và nhớ từ rất giỏi khi chỉ
vừa học xong bài. Như vậy, việc vận dụng các thủ thuật giúp học sinh nhớ từ trên lớp
không chỉ tạo không khí vui vẻ, phấn khởi học tập của học sinh mà còn là một sự sáng tạo
của người thầy. Tôi nghĩ rằng nếu tiếp tục thực hiện Sáng kiến kinh nghiệm nghiêm túc,
thường xuyên trong giảng dạy thì chất lượng bộ môn Tiếng Anh trong trường Tiểu học An
Bình B nói riêng và cả huyện nói chung sẽ có được kết quả khả quan hơn.
Sáng kiến này được áp dụng dạy khối 3 trong phạm vị tại đơn vị trường Tiểu học An
Bình B. Triển vọng của sáng kiến là được triển khai rộng ở khối 4, 5 và một số trường Tiểu
học trong huyện.
5. Những lợi ích và hiệu quả mang lại khi nhân rộng sáng kiến
a. Lợi ích:
- Đối với học sinh:
+ Biết vận dụng một số cách học từ vựng ở nhà.
+ Giúp các em có thái độ học tập đúng đắn, tiếp thu bài tốt, khả năng tư duy
7
cũng tiến bộ rõ.
+ Các em có học được nhiều từ, biết đặt câu, biết nghĩa, và có thể áp dụng trong
thực hành giao tiếp. Từ đó các em sẽ say mê, thích thú khi học bộ môn này.
- Đối với giáo viên:
+ Thật ra không phải bài học nào cũng dạy cho học sinh từ vựng. Khi dạy phải
chuẩn bị trước những dụng cụ trực quan sinh động , những hoạt động phù hợp với từ đối
án, dự án của bản thân tôi trong năm 2015.
Kính đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến xem xét, công nhận đề tài sáng kiến cấp cơ
sở.
An Bình , ngày 23 tháng 3 năm
2015
Thủ trưởng đơn vị Người báo cáo
(Ký tên, đóng dấu) (Ký, ghi rõ họ tên)
Nguyễn Trường Hải Dương Thị Kim Long
9
Kết quả khảo sát ban đầu khối lớp 3
Tổng số : 55 học sinh
Kết quả sau khi thực nghiệm khối lớp 3
Tổng số 55 học sinh
10 điểm : 3 học sinh 10 điểm : 12 học sinh
9 điểm : 5 học sinh 9 điểm : 12 học sinh
8 điểm : 6 học sinh 8 điểm : 11 học sinh
7 điểm : 5 học sinh 7 điểm : 10 học sinh
6 điểm : 18 6 điểm : 6 học sinh
5 điểm : 8 5 điểm : 4 học sinh
4 điểm : 10 4 điểm : 0 học sinh
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH (TRƯỜNG/TT/ PHÒNG GDĐT)
1. Ưu điểm chính
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký tên và đóng dấu)
11
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Phần mở đầu 01
Phần nội dung 03
Chương 1. Cơ sở lý luận 03
Chương 2. Cơ sở thực tiễn 07
Chương 3. Biện pháp 12
Kết luận và kiến nghị 19
12
13
14