1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LÊ THỊ NHỊ NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG
MẠNG XÃ HỘI HỌC TẬP TẠI VIỆT NAM Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Công nghệ phần mềm
Mã số: 60 48 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRƯƠNG ANH HOÀNG
CHƢƠNG I : TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI 9
1.1
Khái niệm mạng xã hội 9
1.1.1
Khái niệm 9
1.1.2
Lịch sử 10
1.1.3
Lợi ích 10
1.2
Các đặc tính của mạng xã hội 12
1.2.1
Dựa trên người dùng 12
1.2.2
Tính cá nhân 12
Bình luận, gửi tin nhắn riêng (comment, private messaging) 15
1.3.4
Tạo nhóm và diễn đàn 15
1.3.5
Tạo blog 16
1.3.6
Chia sẻ, đánh dấu, xếp loại 16
1.3.7
Ảnh 16
1.3.8
Video/Audio 16
CHƢƠNG II: MẠNG XÃ HỘI VÀ LĨNH VỰC GIÁO DỤC 17
3
2.1
Giáo dục điện tử (E-Learning) và Cộng đồng học tập trực tuyến (Online learning
2.4.1
Xu hướng hiện nay 24
2.4.2
Đánh giá 28
CHƢƠNG III: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG 30
MẠNG XÃ HỘI HỌC TẬP 30
3.1
Đặc điểm cần có của mạng xã hội học tập 30
3.1.1
An toàn, khép kín 30
3.1.2
Dễ truy cập và sử dụng 30
3.1.3
Thể hiện luồng hoạt động 31
3.1.4
3.2.4
Một số tính năng cơ bản của hệ thống 34
3.2.5
Mô tả một số use case 40
3.2.6
Các yêu cầu phi chức năng và môi trường 45
3.3
Thiết kế 46
3.3.1
Kiến trúc tổng thể của hệ thống 46
3.3.2
Biểu đồ tuần tự (Phụ lục) 47
3.3.3
Biểu đồ thành phần 47
3.3.4
4.2.4 Tạo lớp 51
4.2.5
Gia nhập là học sinh 51
4.2.6
Giao diện Bài tập 52
4.2.7
Gửi bài giải 53
4.2.8
Chấm điểm 53
CHƢƠNG V: ĐÁNH GIÁ VÀ TRIỂN KHAI 54
5.1
Đánh giá mạng xã hội học tập classroom.net 54
5.2
Đánh giá khả năng triển khai mạng xã hội học tập tại Việt Nam 54
5.2.1 Điều kiện khả thi 54
Hình 4. 6 Giao diện trao đổi về bài tập 52
Hình 4. 7 Giao diện gửi bài giải 53
Hình 4. 8 Giao diện chấm điểm 53
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và sự thâm nhập
mạnh mẽ của Internet, cuộc sống của con người ngày càng gắn bó nhiều hơn với
môi trường ảo. Sự ra đời của thế hệ web 2.0 tạo nên một cuộc cách mạng thật sự
trong thế giới Internet. Đó là cuộc cách mạng không chỉ về công nghệ mà còn ở
cách thức sử dụng, trong đó mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội ảo
tạo thành một môi trường cộng đồng, chứ không chỉ đơn thuần “duyệt và xem”
như trước đây. Các loại dịch vụ web 2.0 như mạng xã hội, blog, các trang web
bán hàng trực tuyến… đang đạt đến một mức độ phát triển như vũ bão, và thực
sự làm khuấy động thế giới Internet. Trong đó, mạng xã hội đã và đang dần trở
thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Nó mang đến cho con
người cơ hội được kết nối một cách dễ dàng, để chia sẻ sở thích, thói quen và
suy nghĩ. Mạng xã hội đã trở thành một kho dữ liệu số ghi lại nhiều khía cạnh
khác nhau của cuộc sống của mỗi người.
Mạng xã hội có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với tất cả mọi đối tượng, từ
người trẻ tuổi đến người trung niên, từ học sinh đến giáo viên, từ mọi lứa tuổi và
mọi ngành nghề…Con người đã dần chuyển đời sống thực của mình lên
Internet, Internet trở thành một môi trường đầy tiềm năng để phát triển các dịch
vụ kinh doanh, thương mại Với số lượng lớn người dùng sử dụng các trag
mạng xã hội là học sinh, sinh viên, việc đưa giáo dục vào thế giới mạng xã hội là
một xu hướng cần được quan tâm nhằm tăng hiệu quả của giáo dục, đồng thời
làm giảm bớt những điều bất lợi mà mạng xã hội mang lại.
Hiện nay, xu hướng ứng dụng mạng xã hội trong các hoạt động giáo dục
trên thế giới ngày càng trở nên phổ biến và thể hiện sự phát huy hiệu quả của nó.
Mối quan hệ giữa mạng xã hội và hoạt động học tập, giáo dục.
Mô hình giáo dục ứng dụng mạng xã hội phù hợp với Việt Nam.
3. Mục đích và phƣơng pháp nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là nhằm đề xuất một mô hình mạng xã hội dành
riêng cho học tập để góp phần làm phong phú các hình thức giáo dục, đào tạo,
phát huy hiệu quả của Internet đối với hoạt động giáo dục, đào tạo.
Phương pháp chủ yếu là tổng hợp, nghiên cứu dựa trên các kết quả nghiên
cứu đã có, từ đó đề xuất mô hình, giải pháp phù hợp với thực trạng hiện tại ở
Việt Nam.
8
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vai trò của các trang mạng xã hội
đối với hoạt động giáo dục, đào tạo. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ đưa ra một mô
hình học tập thông qua Internet, góp phần làm đa dạng hơn các hình thức giáo
dục, đào tạo hiện nay cũng như phát huy hiệu quả của Internet trong hoạt động
học tập.
9
CHƢƠNG I : TỔNG QUAN VỀ MẠNG XÃ HỘI
1.1 Khái niệm mạng xã hội
1.1.1 Khái niệm
Ngày nay, các trang mạng xã hội chẳng hạn như MySpace, Facebook,
Twitter, Cyworld đã thu hút hàng triệu người sử dụng và ngày càng trở nên có
sức thu hút đối với cộng đồng sử dụng mạng Internet. Nhiều người đã sử dụng
các trang mạng xã hội theo cách được tích hợp với cuộc sống, công việc hàng
ngày của họ. Cuộc sống của con người ngoài xã hội thực đã được đưa lên mạng
xã hội ảo trên môi trường mạng.
Khái niệm: Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo, (tiếng Anh: social
network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với
lưỡi: server của Friendster thường bị quá tải mỗi ngày, gây bất bình cho rất
nhiều thành viên.
Năm 2004, MySpace ra đời với các tính năng như phim ảnh (embedded
video) và nhanh chóng thu hút hàng chục ngàn thành viên mới mỗi ngày, các
thành viên cũ của Friendster cũng lũ lượt chuyển qua MySpace và trong vòng
một năm, MySpace trở thành mạng xã hội đầu tiên có nhiều lượt xem hơn cả
Google và được tập đoàn News Corporation mua lại với giá 580 triệu USD.
Năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống
mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình "Facebook Platform" cho phép
thành viên tạo ra những công cụ (apps) mới cho cá nhân mình cũng như các
thành viên khác dùng. Facebook Platform nhanh chóng gặt hái được thành công
vược bực, mang lại hàng trăm tính năng mới cho Facebook và đóng góp không
nhỏ cho con số trung bình 19 phút mà các thành viên bỏ ra trên trang này mỗi
ngày.
1.1.3 Lợi ích
Bên cạnh những nguy cơ và phiền toái mà mạng xã hội mang lại cho cuộc
sống con người như: dễ lộ thông tin cá nhân, làm con người ngày càng xa rời
cuộc sống thực, tiêu tốn thời gian của người dùng thì không thể không kể tới
những lợi ích to lớn mà nó mang lại đối với cộng đồng.
Mạng xã hội làm cho thế giới trở nên mở hơn, con người gần gũi nhau hơn,
xóa tan mọi khoảng cánh về không gian và thời gian, tạo điều kiện cho sự phát
triển của hàng loạt lĩnh vực khác, trong đó có giáo dục, kinh doanh, quảng
cáo….
11
Mạng xã hội được xem là một môi trường lý tưởng để thực hành và phát
triển các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp xã hội. Theo đề cập của Julie
Holmquist [10], một nghiên cứu gần đây của MacArthur Foundation cho thấy
rằng các hoạt động trực tuyến có thể giúp thanh thiếu niên học được những kỹ
năng xã hội quan trọng và phát huy nó trong các mối quan hệ bạn bè của mình,
của mạng xã hội, nhiều trường học trên thế giới và ở Việt Nam đã bắt đầu sử
dụng các trang mạng xã hội để hỗ trợ giáo dục trong việc giúp học sinh tiếp cận
với bài tập nhanh chóng, đồng thời cung cấp những trợ giúp kịp thời với những
học sinh gặp khó khăn trong bài vở.
1.2 Các đặc tính của mạng xã hội
Các trang mạng xã hội có những đặc tính làm cho nó khác biệt so với các
trang web thông thường. Các đặc tính đó là: Dựa trên người dùng, tính cá nhân,
tính tương tác, tính cộng đồng, tính mở rộng quan hệ, tính cảm xúc vượt nội
dung.
1.2.1 Dựa trên ngƣời dùng
Trước khi các mạng xã hội như Facebook hay MySpace trở thành phổ biến
như hiện nay, các trang web dựa trên nội dung thường được cập nhật bởi một
người dùng và được đọc bởi khách truy cập Internet. Dòng thông tin theo một
hướng duy nhất, và sự định hướng nội dung cập nhật trong tương lai được xác
định bởi các quản trị web hay người viết chuyên nghiệp.
Ngược lại, mạng xã hội trực tuyến được xây dựng và định hướng bởi chính
người sử dụng. Người dùng sẽ quyết định nội dung của các trang mạng xã hội
trực tuyến. Nếu không có người sử dụng, mạng sẽ là một không gian trống rỗng
với các diễn đàn trống, ứng dụng trống, và các phòng chat trống. Người dùng
lấp đầy các khoảng trống đó với các cuộc đàm thoại và các nội dung đăng tải. Sự
định hướng nội dung đó được xác định bởi bất cứ ai tham gia vào cuộc thảo
luận. Đây là những gì tạo nên sự thú vị và tính động mà mạng xã hội mang lại
cho người dùng Internet.
1.2.2 Tính cá nhân
Ở các trang mạng xã hội, mỗi thành viên đều có một hồ sơ với một trang cá
nhân của riêng mình. Người dùng có quyền thiết lập các thông tin cá nhân, đăng
tải các bài viết và thiết lập cho nó tính riêng tư, công khai cho toàn bộ bạn bè
hoặc công khai trong giới hạn một số thành phần bẹn bè của họ. Tính cá nhân
này làm cho các trang mạng xã hội có tính năng blog. Đây cũng chính là một
trong những đặc tính làm nên sự hấp dẫn của các trang mạng xã hội hiện thời.
hệ đó, kết quả là người đó có thể có thêm số bạn bè gấp nhiều lần số 20 nếu
muốn.
14
Mặt khác các trang mạng xã hội trực tuyến cũng gợi ý giúp người dùng
những người “có thể bạn biết” để người đó có thể chủ động kết bạn và gia tăng
thêm các mối quan hệ.
1.2.6 Tính cảm xúc
Một đặc tính độc đáo của các mạng xã hội là yếu tố cảm xúc. Trong khi các
trang web trước đây đã tập trung chủ yếu vào việc cung cấp thông tin cho khách
truy cập, mạng xã hội thực sự cung cấp cho người dùng với cảm giác an toàn để
chia sẻ và ý thức rằng không có vấn đề gì là quá khó khăn, bế tắc, bạn bè của họ
luôn ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói bất kỳ lúc nào. Cho dù đau khổ vì li dị,
chia tay hoặc bất kỳ cuộc khủng hoảng gia đình nào khác, mọi người đều thấy
rằng khả năng giao tiếp trực tuyến với hệ thống bạn bè của họ cung cấp rất nhiều
hỗ trợ về mặt tinh thần cho họ. Chính vì điều này, con người cảm thấy tự tin,
gần gũi và dễ chia sẻ với nhau hơn khi ở trên mạng xã hội.
1.3 Các chức năng phần mềm của mạng xã hội
1.3.1 Cho phép tạo hồ sơ cá nhân (Profile)
Profiles là trang duy nhất mà một cá nhân có thể thể hiện những gì thuộc về
riêng mình. Sau khi tham gia một trang mạng xã hội, một cá nhân được yêu cầu
điền vào các mẫu bao gồm các câu hỏi. Profile được tạo ra bằng cách sử dụng
câu trả lời cho những câu hỏi này, các câu hỏi thường bao gồm các mô tả như
tuổi tác, địa chỉ, sở thích, và "những thông tin về bản thân". Hầu hết các trang
khuyến khích người sử dụng đăng tải ảnh cá nhân làm ảnh hồ sơ của mình. Một
số trang web cho phép người sử dụng nâng cao profile của họ bằng cách thêm
các nội dung đa phương tiện hoặc thay đổi profile của họ. Một số khác, chẳng
hạn như Facebook, cho phép người dùng thêm các mô-đun ("Applications")
nhằm nâng cao hồ sơ của họ.
Thể hiện của một profile sẽ khác nhau bởi mỗi trang mạng và người sử
1.3.4 Tạo nhóm và diễn đàn
Hầu hết các mạng xã hội có diễn đàn. Đây là nơi người dùng có thể gửi suy
nghĩ, câu hỏi và ý kiến của mình. Nó cũng là nơi cá nhân có thể giao tiếp
với một nhóm bạn bè mà tất cả đều có cùng mối quan tâm hoặc vấn đề chung.
Nhiều mạng xã hội cung cấp tính năng nhóm. Nếu bản thân chúng không
có một nhóm mà người dùng thích, người dùng có thể tạo ra một nhóm của riêng
mình. Nhóm chỉ một nhóm người. Họ tham gia vào nhóm bởi vì tất cả họ đều có
một cái gì đó chung.
16
Có thể có các nhóm dựa trên bất cứ điều gì. Nhóm có thể là các thành viên
của một lớp học, là những người có một sở thích chung nào đó
1.3.5 Tạo blog
Hầu hết các mạng xã hội cung cấp cho người dùng một blog. Ở đây người
dùng có thể viết về bất kỳ điều gì. Nó giúp cho bạn bè cập nhật thông tin về
cuộc sống của họ, về những suy nghĩ, những điều xảy ra trong cuộc sống của
họ…. Một blog có thể là cá nhân, hoặc không liên quan tới ai, nếu như người
dùng muốn.
1.3.6 Chia sẻ, đánh dấu, xếp loại
Các trang mạng xã hội cho phép người dùng được đánh dấu vào các bức
ảnh hay đánh giá/xếp loại các blogs, các câu trả lời. Mạng xã hội cũng cung cấp
tính năng cho phép các thành viên chia sẻ thông tin cá nhân cũng như các dữ
liệu khác với bạn bè.
1.3.7 Ảnh
Các thành viên có thể đưa ảnh lên các trang mạng xã hội và trong một số
trường, các bức ảnh sẽ được sắp xếp vào các album. Đôi khi các mạng xã hội sẽ
chỉ cho phép thành viên thêm một số lượng nhất định các bức ảnh vào hồ sơ của
họ.
1.3.8 Video/Audio
Các trang mạng xã hội cũng cho phép người dùng đăng tải các file
công nghệ nhanh chóng và giảm thiểu khoảng cách thông qua việc sử dụng
Internet, tất cả mọi người phải được trang bị kiến thức cơ bản của công nghệ,
cũng như sử dụng nó như một phương tiện để đạt đến một mục tiêu cụ thể.
2.1.2 Cộng đồng học tập trực tuyến
Một cộng đồng học tập trực tuyến là một địa điểm công cộng hay riêng tư
trên Internet để giải quyết nhu cầu học tập của các thành viên của nó bằng cách
tạo điều kiện thuận lợi cho học tập peer-to-peer. Thông qua mạng xã hội và giao
18
tiếp qua trung gian máy tính, mọi người làm việc như một cộng đồng để đạt
được một mục tiêu cùng nhau học tập. Mục tiêu học tập có thể được đề xuất bởi
chủ sở hữu cộng đồng hoặc có thể phát sinh các cuộc thảo luận giữa các thành
viên để phản ánh các nguyện vọng cá nhân. Trong một cộng đồng học tập trực
tuyến, mọi người chia sẻ kiến thức thông qua thảo luận bằng văn bản (đồng bộ
hoặc không đồng bộ), âm thanh, video, hoặc các phương tiện hỗ trợ Internet
khác. Sự kết hợp các trang cá nhân với mạng xã hội để tạo ra môi trường với cơ
hội cho sự trình bày quan điểm cá nhân.
Các dạng của cộng đồng học tập trực tuyến bao gồm cộng đồng e-learning
và cộng đồng học tập hỗn hợp. Cộng đồng học tập trực tuyến có thể được phân
loại dựa trên tri thức, dựa trên thực hành và dựa trên tác vụ. Cộng đồng học tập
trực tuyến có thể tập trung vào khía cạnh cá nhân, quá trình hoặc công nghệ.
Chúng có thể sử dụng công nghệ và công cụ trong nhiều loại khác nhau:
- Đồng bộ (chẳng hạn như tin nhắn)
- Không đồng bộ (như bảng tin và các diễn đàn)
- Blog
- Quản lý khóa học (Moodle, Lectureshare )
- Hợp tác (như wiki)
- Mạng xã hội
Học tập trên môi trường trực tuyến cũng có thể cung cấp đầy đủ những đặc
tính của cách học truyền thống face-to-face, ví dụ như, các thành viên của bất kỳ
nhắn tin, email, gửi video, hình ảnh. Ngoài ra, một số trang mạng xã hội còn cho
phép tạo thêm các ứng dụng, khi đó hoàn toàn có thể hỗ trợ cho chức năng giáo
dục.
Ngoài lợi thế về tỷ lệ sử dụng cao và một số lợi ích về mặt công nghệ, các
trang mạng xã hội có thể cung cấp rất nhiều lợi thế khác về mặt sư phạm cho cả
giáo viên và học sinh.
Các trang mạng xã hội là một mạng lưới kết nối các học sinh, sinh viên với
nhau, gián tiếp tạo ra một cộng đồng học tập. Các học sinh có thể giúp đỡ và hỗ
trợ bạn bè của mình bằng cách xây dựng các khóa học của mình trong cộng
đồng được xây dựng bởi chính họ. Nhiều nghiên cứu cho rằng, sinh viên học
thông qua trao đổi trên diễn đàn trực tuyến, qua các trang mạng xã hội thường
hiệu quả hơn so với cách học truyền thống.
Các trang mạng xã hội làm tăng sự giao tiếp của các giáo viên và học sinh
trong các cách thức giao tiếp dựa trên nền web. Các trang mạng xã hội giúp giáo
20
viên tương tác với học sinh của họ về các bài tập, các sự kiện sắp tới, các link có
ích và các bài tập bên ngoài phạm vi lớp học.
Học sinh có thể sử dụng các trang mạng xã hội để liên lạc với các bạn cùng
lớp về các câu hỏi trao đổi về bài tập trên lớp, tranh luận cũng như hợp tác với
các bài tập hoặc các đồ án theo nhóm trên môi trường online.
Xây dựng mối quan hệ trực diện giữa giáo viên và học sinh, mạng xã hội
cho phép học sinh xem hồ sơ của giáo viên có chứa thông tin cá nhân, sở thích,
nền tảng, và bạn bè, có thể nâng cáo động lực học tập của học sinh, nâng cao
hiệu quả học tập cũng như không khí trong lớp học.
Mạng xã hội cũng là một môi trường tuyệt vời để các thầy cô giáo nâng cao
kiến thức chuyên môn của mình. Thông qua các mối quan hệ được thiết lập trên
các trang mạng xã hôi, các giáo viên có thể chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm
giảng dạy, kiến thức chuyên môn. Trước một kế hoạch dạy học, một phương
pháp dạy học mới hay một vấn đề cần giải quyết, giáo viên có thể đưa ra để tất
Mạng xã hội góp phần thể hiện các quan điểm khác nhau của học sinh, diễn
đàn chẳng hạn như chat rooms tồn tại trong mạng xã hội cung cấp cơ hội để học
sinh trao đổi quan điểm về các chủ đề, làm tăng cơ hội để các học sinh nắm bắt
tận dụng được các quan điểm khác nhau và giúp hình thành một nền tảng kiến
thức vững chắc cho học sinh.
Các lý thuyết giáo dục xác nhận rằng sự tương tác của con người là một
yếu tố quan trọng trong quá trình học tập. Và mạng xã hội cung cấp sự tương tác
này một cách hiệu quả thông qua những lớp học ảo, phòng chat và các cuộc họp
qua video.
2.3.1.2 Tính lặp lại
Việc ghi nhớ thông tin tri thức phụ thuộc vào tất cả các giác quan của
chúng ta, trong khi phản ứng phụ thuộc vào các tính năng của cá nhân và động
lực học. Vì vậy, thông tin phải được cung cấp một cách lặp lại nhiều lần, điều
này hiếm khi được cung cấp bởi các phương pháp giáo dục truyền thống. Thông
tin trên các trang mạng xã hội được cung cấp theo cách này thông qua các trang
web, nghĩa là, người học có thể lấy thông tin được cung cấp trên các trang web
ngay lập tức hoặc sau này.
2.3.1.3 Tính thuận tiện và dễ truy cập
Các mạng xã hội cung cấp sự dễ dàng và nhanh chóng trong việc truy cập,
rà soát, cập nhật và chỉnh sửa tài liệu học tập cần thiết bất cứ lúc nào và bất cứ
nơi đâu. Ngoài ra, nó cho phép tùy chọn để lựa chọn tài liệu học tập từ số lượng
22
lớn các khóa học đã được cung cấp trực tuyến mà người học cần và nó cũng làm
cho việc phân phối các tài liệu học tập trở nên dễ dàng hơn.
Các mạng xã hội giúp làm giảm căng thẳng và tăng sự hài lòng của sinh
viên. Nó cho phép mỗi học sinh (chậm hoặc nhanh) được học tập, nghiên cứu tại
nơi của họ với tốc độ của chính họ và không bị chi phối bởi những học sinh bên
cạnh. Hơn nữa, các trang mạng xã hội giúp các học sinh dễ dàng để tham gia các
cuộc thảo luận ở bất kỳ lúc nào, hoặc có thể thăm các lớp học khác và các giáo
100% trung thực và đáng tin cậy, và họ không xác minh các chi tiết cá nhân
(tuổi, địa điểm, ) của các thành viên của họ. Các trang mạng xã hội cung cấp
cơ hội để các cá nhân thể hiện rõ ràng và chính xác bản thân mình, nhưng chính
điều này cũng mang lại khả năng các thông tin trên các trang mạng xã hội có thể
bị lợi dụng vào các mục đích xấu. Càng nhiều bạn bè, thông tin của mỗi cá nhân
càng được phổ biến rộng rãi hơn, và càng có nguy cơ bị lợi dụng nhiều hơn. Vì
vậy, có nhiều bạn bè thông qua các trang web mạng xã hội có thể sẽ có hại hơn
là có lợi. Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng các mạng xã hội trong giáo
dục.
2.3.2.3 Tiêu tốn thời gian
Các trang mạng xã hội trở thành một phần không thể thiếu được trong cuộc
sống hàng ngày của mỗi người dùng Internet. Điều này có ảnh hưởng đến sức
khỏe của cá nhân, bởi vì việc sử dụng rất nhiều thời gian duyệt các mạng xã hội
có thể ảnh hưởng đến cách các gen hoạt động trong cơ thể con người, và làm suy
yếu các cấp miễn dịch và nội tiết tố, và chức năng của động mạch. Ngoài ra, nó
cũng có tác động đến sức khỏe tâm thần. Hơn nữa, việc sử dụng các mạng xã hội
trong giáo dục có thể gây ra thiếu động lực hướng tới học tập và có thể gây ra
nhàm chán ngồi trước máy tính trong một thời gian dài, đặc biệt là nếu các tài
liệu khoa học được trình bày là các hiệu ứng âm thanh và hình ảnh đó sẽ thu hút
người học đối với việc học tập.
Các trang mạng xã hội cũng thường hấp dẫn người sử dụng bởi các quảng
cáo, các ứng dụng hay. Điều này chi phối hoạt động và sự chú ý của học sinh
đối với công việc học tập của mình.
2.3.2.4 Giao tiếp không đầy đủ
Giáo dục điện tử dựa trên môi trường mạng là sự giao tiếp gián tiếp thông
qua văn bản, người học và người dạy không được mặt-đối-mặt với nhau vì vậy
nó sẽ không thể có những tranh luận, giải thích thuyết phục và rõ ràng như trong
giáo dục truyền thống. Học viên phải đối mặt với một số khó khăn thông qua các
mạng xã hội để bày tỏ quan điểm và ý tưởng của mình bằng văn bản. Bởi nhiều
24
thông qua mail, chat hoặc đăng tải thông tin trên “tường nhà”, qua tài khoản cá
nhân của mình, giáo viên có thể gửi tới các học sinh của mình những file văn
bản, hình ảnh, âm thanh, đường link tới trang web khác …
25
Ngoài ra, tiện ích hữu dụng cho giáo dục mà Facebook mang lại đó là
“Group”. Giáo viên có thể tạo các lớp học riêng, đó chính là các group. Giáo
viên có thể gửi file văn bản, hình ảnh, âm thanh, đường link tới các học sinh của
mình, là các thành viên của group.
Tại Việt Nam, Zing Me là mạng xã hội có số lượng người truy cập nhiều
nhất và theo thống kê từ Mạng xã hội Zing Me, hiện tại đã có nhiều trường Đại
học tạo fanpage trên mạng xã hội này như ĐH Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, ĐH
Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh…. [3]. Fan page là nơi sinh viên không những có
thể thu thập thông tin, mà còn được bày tỏ quan điểm, suy nghĩ thông qua các
dòng bình luận .
b) Xây dựng các trang mạng xã hội dành riêng cho học tập
Hiện tại, trên thế giới có khá nhiều mạng xã hội dành riêng cho học tập với
mục đích tạo môi trường trao đổi cho riêng đối tượng là giáo viên, học sinh. Một
số trang mạng xã hội đang được sử dụng phổ biến hiện nay là: Classroom 2.0,
EDU2.0, SymbalooEDU, Collaborize Classroom, Edublogs, Kidblog, Edmodo,
TeacherTube, SchoolTube và YouTube
Classroom 2.0 (http://www.classroom20.com): một mạng xã hội cho giáo
dục quan tâm đến việc sử dụng Web 2.0 trong giáo dục. Trong thực tế, mục tiêu
của Classroom 2.0 là để cung cấp sự tự giáo dục với một khả năng để nhanh
chóng xem nó có thể thay đổi cá nhân như thế nào để xây dựng hoặc là một
phần của một mạng lưới học tập cá nhân trực tuyến. Classroomm 2.0 phát triển
khá nhanh chóng và được hưởng ứng đông đảo trong thực tế.
EDU2.0 (http://www.edu20.org): khá tương đồng với các hệ thống quản lý
bài giảng trực tuyến như Blackboard và Moodle, nhưng có thêm hàng loạt tính
năng độc đáo. Chẳng hạn, người dạy có thể chia sẻ các kế hoạch giảng dạy của