Nghiên cứu hệ thống thông tin di động thế hệ 3 và một số giải pháp đáp ứng chất lượng dịch vụ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ VŨ ĐỨC HƯNG
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG THÔNG TIN
DI ĐỘNG THẾ HỆ 3 VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐÁP ỨNG CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 60 52 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VƯƠNG ĐẠO VY Hà Nội – 2008
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU
1
Chương 1 – QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TỪ 2G LÊN 3G

21
2.2.1.2 Mã xáo trộn
23
2.2.1.3 Các kênh vật lý dùng chung tuyến xuống
24
2.2.1.4 Các kênh truyền tải
31
2.2.2 Tuyến lên chế độ UTRA FDD
32
2.2.2.1 Điều chế và trải phổ tuyến lên
34
2.2.2.2 Kênh truy cập ngẫu nhiên RACH
36
2.2.2.3 Kênh gói chung vật lý PCPCH
37
2.3 Chế độ UTRA TDD
39
2.3.1 Lớp vật lý
39
2.3.2 Song công theo thời gian
40
2.3.3 Cấu trúc cụm
40
2.3.4 Các kênh vật lý điều khiển chung
43
2.3.5 Kênh truyền tải
46
2.3.6 Dịch thời trước
46
Chương 3 : GIẢI PHÁP ĂNTEN THÔNG MINH TRONG HỆ THỐNG

3.4.3 Kết hợp tương thích
62
3.4.4 Kết hợp lai ghép
63
3.5 Mô hình kênh
64
3.5.1 Giới thiệu
64
3.5.2 Tương quan đường bao
66
3.5.3 Mô hình đường bao địa lý (GBSB)
66
3.5.4 Mô hình kênh của ITU
68
3.5.5 Mô hình kênh pha đinh tương quan không gian và không chặt
69
3.5.6 Mô hình kênh pha đinh tương quan đường bao
70
3.5.7 Thủ tục lấy thông tin kênh sử dụng GBSB
72
3.6 Ưu điểm của ănten thông minh trong thông tin di động
73
Chương 4: HIỆU SUẤT CỦA ĂNTEN THÔNG MINH TẠI THIẾT BỊ DI
ĐỘNG TRONG HỆ THỐNG 3GPP WCDMA
75
4.1 Hiệu suất của kết hợp phân tập
75
4.1.1 Môi trường mô phỏng
75
4.1.2 Kết quả mô phỏng với mô hình kênh đường tròn GBSB


AC
Adaptive Combining
Kết hợp tương thích
ADC
Analogue – Digital Convert
Bộ chuyển đổi tương tự số
AOA
Angle Of Arrival
Góc tới
AT- GSC
Absolute Threshold Generalized
Selection Combining
Kết hợp lựa chọn tổng quát
hoá ngưỡng tuyệt đối
AWGN
Additive White Gaussian Noise
Tạp âm Gaussian trắng cộng
B BER
Bit Error Rate
Tỷ lệ lỗi bit
BPSK
Binary Phase Shift Keying
Khoá dịch pha nhị phân
C
Hướng góc đến
DSP
Digital Signal Procesor
Bộ xử lý tín hiệu số
E ECFCM
Envelope correlated Fading Channel
Model
Mô hình kênh pha đinh tương
quan đường bao
ESPRIT
Estimation of Signal Parameters by
Rotation Invariance Technique
Ước tính tham số tín hiệu dựa
trên kỹ thuật quay bất biến
EGC
Equal Gain Combining
Kết hợp độ lợi cân bằng
F FDMA
Frequency Division Multi Access
Đa truy cập phân chia theo tần
số
FDD
Frequency Division Duplex
Ghép song công theo tần số
HC
Hybrid Combining
Kết hợp lai ghép
HSCSD
High Speed Circuit Switched Data
Chuyển mạch dữ liệu tốc độ
cao
I IMT
International Mobile
Telecommunication
Hội thông tin di động quốc tế
ITU
International Telecommunication
Union
Liên đoàn viễn thông quốc tế
IF
Intermidiate Frequency
Trung tần
L LCFCM
Loosely Correlated Fading Channel
Model
Mô hình kênh pha đinh tương

N-LMS
Normalized Least Mean Square
Bình phương trung bình tối
thiểu chuẩn hoá
NT-GSC
Normalized Threshold Generalized
Selection Combining
Kết hợp lựa chọn tổng quát
ngưỡng chuẩn hoá
P PDF
Propability Density Function
Hàm mật độ phổ công suất
PCH
Pilot Channel
Kênh hoa tiêu
PN
Pseudo - Noise
Giả tạp âm
PCS
Personal Communication Service
Dịch vụ truyền thông cá nhân
Q QPSK
Quadrature Phase Shift Keying
Khoá dịch pha cầu phương

Space Division Multiple Access
Đa truy cập phân chia theo
không gian
SINR
Signal - to – Interference plus Noise
Ratio
Tỷ số tín hiệu trên tạp âm
cộng nhiễu
SIR
Signal - to – Interference Ratio
Tỷ số tín hiệu trên nhiễu
SLC
Square Law Combining
Kết hợp theo luật bình phương
SMI
Sample Matrix Inversion
Nghịch đảo ma trận mẫu
SNR
Signal- to- Noise Ratio
Tỷ số tín hiệu trên tạp âm
SF
Spreading Factor
Hệ số trải phổ
SGSN
Serving GPRS Support Node
Node hỗ trợ dịch vụ GPRS
TDD
Time Division Duplex
Ghép song công phân chia
theo thời gian

dải rộng
W WLAN
Wireless Local Area Network
Mạng vô tuyến nội hạt 1
Mở đầu
Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng cao. Chính vì vậy các hệ thống
thông tin ngày càng phát triển. Các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai được xây
dựng theo tiêu chuẩn IS-95, GSM, phát triển rất nhanh trong những năm 1990. Các
yêu cầu về dịch vụ mới của các hệ thống thông tin di động, nhất là các dịch vụ truyền
số liệu đòi hỏi các nhà khai thác phải đưa ra được các hệ thống thông tin di động mới.
Trong bối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hoá hệ thống thông tin di động thế
hệ thứ ba với tên gọi IMT-2000 nhằm những mục tiêu sau đây:
Tốc độ số liệu cao để đảm bảo các dịch vụ truy nhập Internet nhanh hoặc
các dịch vụ đa phương tiện.
Tương thích với các hệ thống thông tin di động hiện có để đảm bảo sự
phát triển liên tục của thông tin di động.
Cải thiện tầm phủ của các hệ thống thông tin di động.
Nhiều tiêu chuẩn cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba đã được đề xuất,
trong đó hai tiêu chuẩn WCDMA và Cdma2000 đã được ITU chấp thuận và được triển
khai trong những năm đầu của thế kỷ 21. WCDMA sẽ là sự phát triển tiếp theo của các
hệ thống thông tin di động thế hệ hai sử dụng công nghệ TDMA như: GSM, IS-136,
PDC. Cdma2000 sẽ là sự phát triển tiếp theo của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ
hai dựa trên chuẩn IS-95. Tại Việt Nam các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba
cũng đang được triển khai và thử nghiệm bởi các nhà cung cấp dịch vụ.

Tuy nhiên trình độ bản thân và điều kiện còn hạn chế nên luận văn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để đề tài
này được hoàn thiện hơn.
Qua đây, tác giả cũng xin cảm ơn các thầy, cô giáo, đặc biệt là thầy giáo,
PGS.TS Vương Đạo Vy đã tận tình hướng dẫn và góp ý để luận văn được hoàn thành.

Tác giả
Vũ Đức Hưng
3
Chương 1 - QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN TỪ 2G LÊN 3G
Chương này sẽ khái quát quá trình phát triển của hệ thống thông tin di động,
quá trình phát triển từ mạng 2G lên mạng 3G.
1.1 Giới thiệu
Các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 2 (2G-generation) là GSM và IS-95
đã được triển khai tại nhiều nơi trên thế giới và chúng sẽ tiếp tục tồn tại trong thập kỷ
tới. Tuy nhiên, hiện nay các hệ thống này phải đối mặt với các hạn chế về dung lượng.
Chính vì vậy sự ra đời của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (3G) là một điều tất
yếu.
Các hệ thống 3G hứa hẹn một dung lượng thoại lớn hơn, tốc độ kết nối di động
cao hơn và sử dụng các ứng dụng đa phương tiện. Các hệ thống vô tuyến 3G cung cấp
các dịch vụ với chất lượng tương đương với các hệ thống hữu tuyến và các dịch vụ

Tuy nhiên sự thành công của GSM cho tới nay là cực lớn cho nên quá trình tiến
hoá từ 2G lên 3G cần được cân nhắc. Mặc dù mạng xương sống của GSM và UMTS
có thể xem là giống nhau, song giao diện vô tuyến lại khác nhau đáng kể.
Đã có những mong chờ, hy vọng lớn ban đầu đối với UMTS. Nó không chỉ là tế
bào mà sẽ bao các loại mạng khác từ vô tuyến di động cá nhân (PMR- Private Mobile
Radio), các mạng nội hạt không dây (Wireless LAN) tới các hệ thống vệ tinh di động
MSSs. Các đặc điểm quan trọng là nó sẽ hoạt động toàn cầu, hỗ trợ các dịch vụ tốc độ
bit cao và quan trọng nhất là định hướng dịch vụ. Trong khi châu Âu xem mạng 3G
toàn cầu cho thế kỷ 21 là UMTS, hầu hết các kỹ sư của họ làm việc với UMTS hy
vọng rằng họ sẽ đạt được thỏa thuận với ITU để sớm điều chỉnh UMTS và điều cơ bản
là UMTS sẽ được chấp nhận là chuẩn toàn cầu.
Để giải thích việc hy vọng này, chúng ta cần chỉ ra là ITU đã tham gia trò chơi
3G từ lúc bắt đầu. Đồng thời với sự khởi đầu của RACE tại châu Âu, nhóm đặc biệt
được thành lập của ITU là TG 8/1 (task group thuộc CCIR). Uỷ ban này coi hệ thống
3G của họ như là hệ thống thông tin di động mặt đất, công cộng tương lai FPLMTS
(Future Public Land Mobile Telecommunication System). Người châu Âu, tất nhiên
cũng là thành viên của TG8/1 và dưới áp lực về chính trị cũng như thương mại thì
FPLMTS và UMTS dường như chung mục đích và đối tượng. Cái khác nhau cơ bản
giữa TG8/1 và cái đang diễn ra tại châu Âu là người châu Âu đã sẵn sàng đưa hệ thống
của họ vào thực tiễn trong khi TG8/1 vẫn chỉ là diễn đàn.
Còn người Mỹ thì sao? Tại Mỹ không có các chương trình R&D (Research and
Development) tầm cỡ quốc gia về hệ thống 2G hay 3G nào được tiến hành cả. Hệ
thống 1G dịch vụ thoại tân tiến của họ AMPS (Advanced Mobile phone Service) được
phát triển thành thế hệ 2 là IS-136 sau đó trở thành hệ thống hai mode là IS-95. Người
Mỹ cũng giới thiệu hệ thống IDEN có khả năng hỗ trợ các dịch vụ tế bào và vành vô
tuyến. Nó chiếm một phổ tần rất lớn cho 3G và nó cho phép GSM vào Mỹ dưới dạng
PCS1900. Việc sở hữu phổ như vậy đồng nghĩa là có các ưu điểm nổi trội khi mạng
lưới 2G được phát triển thành 3G.
Một yếu tố lớn không chỉ tại Mỹ mà trên cả thế giới là sự xuất hiện của IS-95,
nó ra đời sau so với GSM và một vài người tranh cãi rằng nó là 2,5G. Nó đã phải tranh

2+ được biết đến là EDGE, (Enhanced Data Rates for GSM Evolution-tốc độ
dữ liệu được cải thiện cho sự phát triển của GSM).
1.1.2 Phổ của IMT-2000
Hội nghị về quản lý vô tuyến của thế giới tháng 3/1992 đã chỉ định 200 MHz
trong dải tần 2G cho IMT-2000 sử dụng toàn cầu. Các dải tần thực tế là 1885-
2025MHz và 2110-2200MHz. Thật không may là một vài phần của dải tần này đã
được các dịch vụ khác sử dụng. Hình 1.1 là sơ đồ phổ của IMT-2000 và việc sử dụng
tại châu Âu, Mỹ, Nhật dải phổ này.
Phổ IMT-2000 có thể chia thành 7 khoảng. Tần số các khoảng này như bảng 1.1

6
 Khoảng 1: được dùng cho DECT tại châu Âu và cho PHS, PCS, DECT tại
một số vùng trên thế giới.
 Khoảng 2: tại Mỹ, Nhật dùng cho PCS, PHS
 Khoảng 3 và 6 hình thành các dải ghép phân kênh theo tần số 60 MHz
 Khoảng 4,7: dùng cho các dịch vụ vệ tinh di động cung cấp các dải tần
30MHz kiểu FDD.
 Khoảng 4: dùng cho tuyến lên.
 Khoảng 7: dùng cho tuyến xuống.
 Khoảng 1,2,5: không cặp đôi phù hợp với các hoạt động ghép kênh phân chia
theo thời gian.
 Khoảng 5: có thể sử dụng cho các dịch vụ MSS tuyến lên tại Mỹ.
5
2010-2025
Không cặp đôi
6
2110-2170

7
2170-2200

1.2 Sự phát triển của GSM.
Hệ thống GSM ban đầu được thiết kế cho tín hiệu thoại và số liệu tốc độ thấp.
Tín hiệu thoại đã được đề cập nhiều vì vậy ở đây chúng ta sẽ tập trung vào số liệu. Tốc
độ dữ liệu của người dùng qua giao diện vô tuyến sử dụng một kênh vật lý riêng lẻ có
nghĩa là trong một khe thời gian TDMA khởi đầu là 9,6 kbps. Tốc độ này được tăng
lên 14,4 kbps bằng cách ngắt quãng các symbol mã trên kênh lưu lượng toàn tốc.
Người ta có thể tăng tốc độ lên hơn 14,4 kbps bằng cách tăng mức ngắt quãng hơn nữa
hoặc cho phép MS truy cập nhiều khe thời gian trong một khung TDMA hoặc sử dụng
điều chế nhiều mức.
Có hai dịch vụ đã được giới thiệu ở giai đoạn 2+ của GSM cho phép tăng tốc độ
người dùng bằng cách cho phép 1MS truy cập nhiều khe thời gian trong một khung
TDMA. Đó là các dịch vụ HSCSD (High Speed Circuit Switched Data -dữ liệu chuyển
mạch tốc độ cao) và GPRS (General Packet Radio Service -dịch vụ vô tuyến gói
chung). HSCSD cho phép một MS được cấp phát một số khe thời gian trong một
khung TDMA trên nền tảng chuyển mạch có nghĩa là MS độc quyền sử dụng các tài
nguyên được cấp phát trong thời gian cuộc gọi. Ngược lại GPRS sử dụng các kết nối
định hướng gói trên giao diện vô tuyến bằng cách cấp cho người dùng một hay một số
các kênh lưu lượng chỉ khi có yêu cầu truyền thông tin. Các kênh này sẽ được thu hồi
khi mà việc truyền hoàn tất. Trong những phần sau chúng ta sẽ miêu tả chi tiết hơn hai
dịch vụ này.
Cách tiếp cận thứ hai để tăng tốc độ số liệu người dùng là phương pháp điều

Nhiều dịch vụ không yêu cầu dòng dữ liệu người dùng hai hướng liên tục trên
giao diện vô tuyến. Để minh họa điều này, hãy xem xét người dùng W3 khi PC của họ
sử dụng kết nối quay số qua mạng tế bào. Khi một trang thông tin được tải xuống thì
có một khoảng dừng trong dòng thông tin giữa MS và mạng khi mà người dùng đọc
thông tin và trước khi thông tin được yêu cầu. Sử dụng kết nối chuyển mạch cho
những dịch vụ như vậy thường không đem lại hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên
vô tuyến vì người dùng liên tục chiếm một kênh vô tuyến trong thời gian cuộc gọi. Sự
bất cập kiểu này có thể chấm dứt bằng sử dụng dịch vụ kết nối định hướng gói.
Hệ thống GSM ban đầu được thiết kế để hỗ trợ chỉ kết nối chuyển mạch kênh
tại mức giao diện vô tuyến với tốc độ người dùng lên tới 9,6Kbps. Tuy nhiên các quy
định trong giai đoạn 2+ hiện nay bao gồm cả việc hỗ trợ dịch vụ kết nối định hướng
gói được biết đến là dịch vụ vô tuyến gói chung GPRS. Dịch vụ này cố gắng tối ưu tài
nguyên mạng và vô tuyến. Sự phân chia nghiêm ngặt giữa các hệ thống con vô tuyến
với các hệ thống phụ trợ của mạng được duy trì cho dù các hệ thống phụ trợ của mạng
tương thích với các thủ tục truy cập vô tuyến của GSM. Kết quả là, MSC của GSM

9
không bị ảnh hưởng. Việc phân bổ một kênh vô tuyến GPRS là rất mềm dẻo, giới hạn
từ 1-8 khe thời gian của giao diện vô tuyến trong một khung TDMA. Khe thời gian
tuyến lên và tuyến xuống được cấp phát riêng. Tài nguyên giao diện vô tuyến có thể
được chia xẻ linh hoạt giữa dịch vụ chuyển mạch kênh và dịch vụ gói. Tốc độ bit biến
đổi từ 9 Kbps-150 Kpbs trên một người dùng GPRS có thể cùng tương tác với mạng
IP và X25. Các dịch vụ điểm nối điểm và nhiều điểm được hỗ trợ cũng như là dịch vụ
bản tin ngắn (SMS). GPRS có thể hoạt động theo kiểu truyền dữ liệu gián đoạn, cũng
như là truyền dữ liệu liên tục.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét tổng quan kiến trúc lô-gic của GPSR. Hình 1.2 là
sơ đồ khối minh họa cấu trúc một mạng GSM và giao tiếp giữa các thành phần của
mạng. Các dịch vụ GPRS yêu cầu thêm hai thành phần của mạng là: nút hỗ trợ cổng
GPRS (GGSN –Gateway GPRS Support Node) và nút hỗ trợ GPRS (SGSN -Serving
GPRS Support Node). Như tên gọi của nó, GGSN hoạt động như là cổng giữa mạng

Vào năm 1998, sự ủng hộ mạnh mẽ cho CDMA băng rộng đã dẫn tới việc chọn
WCDMA là chuẩn vô tuyến mặt đất cho UMTS tại ETSI (European
Telecommunication Standards Institute) cho các dải tần của FDD. WCDMA cũng
được các nhà khai thác GSM tại châu Á và châu Mỹ. Đối với các dải tần của TDD,
phương án TD-CDMA được lựa chọn.
Tại Mỹ tháng 3/1998, uỷ ban TR45.5 của TIA (Telecommunication Industry
Association) chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn của IS-95 đưa ra một cấu trúc cho CDMA
băng rộng tương thích với IS-95 gọi là Cdma2000. TR45.3 chịu trách nhiệm về chuẩn
IS-136 đưa ra một chuẩn cho thế hệ ba dựa trên TDMA gọi là UWC-136 ( Universal
Wireless Communication).
Tại Hàn Quốc, người ta vẫn cân nhắc giữa hai công nghệ CDMA băng rộng là
WCDMA và Cdma2000.
Công nghệ được lựa chọn cho thế hệ di động thứ ba phụ thuộc vào các yếu tố
kỹ thuật, chính trị và kinh tế. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét các hoạt động nghiên cứu
và chuẩn hoá tại một số khu vực và các nước dẫn tới việc lựa chọn được đề cập ở trên.
11
1.3.1 Tại châu Âu.
 Các hoạt động nghiên cứu vô tuyến thế hệ 3 tại châu Âu:
Như đã đề cập trong phần 1.1 châu Âu đã tiến hành các chương trình đối với
thế hệ 3G (UMTS) của họ là RACE-I, RACE-II dưới sự bảo trợ của cộng đồng châu
Âu.
Chương trình RACE-I kéo dài từ năm 1988-6/1992. Nghiên cứu của RACE-I
tập trung vào các công nghệ riêng lẻ như: truyền dẫn tế bào, chuyển giao và cấp phát
các tài nguyên vô tuyến một cách linh hoạt, điều chế, san bằng, mã hoá, quản lý kênh
và chức năng di động của mạng cố định. Các công nghệ này về sau là cơ sở phát triển
hệ thống giai đoạn hai RACE-II.
Chương trình RACE-II được tiến hành từ 1992-1995 gồm các dự án CODIT

riêng lẻ hay phối hợp chúng.
- 12/1997 lựa chọn một phương pháp UTRA cụ thể.
- 6/1998 xác định các mặt kỹ thuật chủ chốt của UTRA (dải thông sóng mang, điều
chế, mã hoá kênh, loại kênh, cấu trúc khung, giao thức truy nhập, cấp phát kênh,
chuyển giao và lựa chọn các cell). Các khái niệm về giao diện vô tuyến được phân
thành 5 nhóm khái niệm khác nhau. FMA2 và ba phương án CDMA băng rộng của
Nhật Bản được đệ trình lên nhóm Alpha. Nhóm Beta đánh giá FMA1 không trải phổ
cùng với một vài phương án TDMA. Các phương án OFDM được nhóm nghiên cứu
Gamma xem xét. Nhóm Delta xem xét FMA1 có trải phổ còn gọi là dự án TD-CDMA
cùng với các phương án lai ghép khác như CTDMA. Nhóm Epsilon xem xét ODMA
(Opportunity Driven) là các ứng dụng dựa trên tất cả các phương án đa truy cập.
Cuối cùng, vào tháng 1/1998, dựa trên FMA2 và các phương án CDMA băng
rộng của Nhật Bản ETSI SMG đã tiến tới một nhất trí về UTRA như sau:
 Trong dải cặp đôi (FDD) của hệ thống UMTS ứng dụng các công nghệ
truy cập vô tuyến được nhóm W-CDMA đưa ra.
 Trong dải không cặp đôi (TDD) hệ thống UMTS ứng dụng các công
nghệ truy cập vô tuyến được nhóm TD-CDMA đưa ra.
Các tiêu chuẩn của UMTS phải đáp ứng được điều kiện cho ra một giá thành
thấp, dễ dung hoà được với GSM và hỗ trợ các đầu cuối hoạt động hai chế độ
FDD/TDD.
Đến tháng 4/1998 các khái niệm của UTRA được hoàn tất, hai chế độ FDD và
TDD có cùng độ dài khung, số khe thời gian và tốc độ lấy mẫu.
1.3.2 Tại Nhật Bản.
Uỷ ban nghiên cứu IMT-2000 của ARIB được thành lập tháng 4/1993 nhằm
nghiên cứu và phát triển IMT-2000.
Tháng 10/1994 nhóm chuyên trách về truyền dẫn vô tuyến (RTSG) được thành
lập để thực hiện các nghiên cứu và phát triển các chuẩn cho IMT-2000, nhóm này gồm
hai nhóm nhỏ là: CDMA và TDMA.
Đối với TDMA có 8 đề nghị, từ đó nhóm này đưa ra một hệ thống TDMA một
sóng mang là MTDMA (Multimode & Multimedia). Hệ thống này xây dựng và thử

Tình hình chuẩn hoá tại Mỹ đa dạng hơn so với châu Âu và Nhật Bản. Các hoạt
động chuẩn hoá chính cho các hệ thống vô tuyến được thực hiện bởi uỷ ban TR45 và
TR46 trực thuộc TIA và uỷ ban T1P1 của T1. TR45.5 chịu trách nhiệm về chuẩn hoá
IS-95, TR45.3 chịu trách nhiệm về chuẩn hoá IS-136. T1P1 và TR46 chịu trách nhiệm
về GSM1900 và một số công nghệ khác. Ngoài các cơ quan chuẩn hoá, còn có các hội
nghị xem xét các vấn đề chính sách liên quan tới chuẩn: UWCC cho IS-136, nhóm
phát triển CDMA (CDG) cho IS-95, nhóm liên minh Bắc Mỹ GSM đối với GSM.
Vào tháng 4/1997, CDG đã phát động một cuộc khởi tạo Hệ thống tân tiến để
phát triển các giao tiếp vô tuyến cho thế hệ thứ ba dựa trên IS-95. Trong năm 1997,

14
cũng có một và đề xuất về CDMA băng rộng lên TR45.5 để phát triển CDMA2000 từ
các công ty Hughes, Lucent, Motorola, Nokia, Nortel. Một đặc điểm chung của các
phương án này là tính tương thích của chúng với IS-95. Vào tháng 3/1998, TR45.5 đã
thông qua cấu trúc cho CDMA2000.
Vào đầu năm 1997, UWCC, GTF (Global TDMA Forum) thành lập nhóm HSD
(High Speed Data) để đánh giá các ứng cử viên cho phát triển IS-136 thành thế hệ ba.
Còn có một vài phương án, bao gồm TDMA, CDMA băng rộng, và 2 phương án cho
OFDM được đưa lên HSD. Dựa vào những đề xuất này, UWCC đã phát triển phương
án UWC-136 được TR45.3 chấp thuận vào tháng 2/1998. UWC-136 gồm một sóng
mang 30 KHz của IS-136 cải tiến, sóng mang dữ liệu tốc độ cao 200 KHz và sóng
mang HSD 200 KHz có cùng tham số với sóng mang GSM cải tiến (EDGE). TDMA
băng rộng dựa trên FMA1 không trải phổ của FRAMES.
TR46.1 cũng phát triển một giao diện vô tuyến CDMA băng rộng cho các ứng
dụng của mạch vòng vô tuyến nội hạt (WLL). Cơ sở cho phương án CDMA băng rộng
của TR46.1 là chuẩn IS-665 cho PCS của Mỹ. CDMA băng rộng có độ rộng băng là 5
MHz. Nó cũng được sử dụng cho đề xuất nhóm B tại Nhật Bản.

15
Chương 2 - CÁC HỆ THỐNG IMT-2000 TẠI CHÂU ÂU

đóng vai trò tổng đài cổng, thực hiện chuyển mạch với các mạng CS bên ngoài. Vì giai
đoạn 2
+
của GSM được trang bị GPRS nên mạng UMTS cũng sẽ có các nút hỗ trợ
GPRS là SGSN và các nút hỗ trợ cổng GSGN. SGSN là nút hỗ trợ GPRS đóng vai trò
tổng đài chuyển mạch gói. GGSN là nút hỗ trợ GPRS cổng, có chức năng giống
GMSC nhưng hỗ trợ số liệu. Các thành phần khác của mạng hỗ trợ có chức năng nhận
thực, đăng ký tạm trú, thường trú, và nhận dạng thiết bị (AuC, HLR, EIR, VLR ) để
hỗ trợ cả hai mạng chuyển mạch kênh và số liệu gói.

Trích đoạn Kờnh gúi chung vật lý PCPCH (Physical Common Packet CHannel). Cỏc kờnh vật lý điều khiển chung. Cỏc tham số của dàn ănten Ứng dụng của ănten thụng minh và cỏc lược đồ kết hợp 1 Ứng dụng ănten thụng minh tại thiết bị di động Mụ hỡnh kờnh 1 Giới thiệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status