Chế tạo, nghiên cứu và ứng dụng vật liệu tổ hợp từ giảo - áp điện dạng tấm có cấu trúc nanô - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Hoàng Mạnh Hà CHẾ TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG VẬT LIỆU
TỔ HỢP TỪ GIẢO - ÁP ĐIỆN DẠNG TẤM
CÓ CẤU TRÚC NANÔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ

8
1.2.1 Lý thuyết áp điện 8
1.2.2 Vật liệu PZT 10
1.2.3 Khả năng ứng dụng của vật liệu PZT 11
1.3 Hiệu ứng từ-điện
11
Chương 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
14
2.1 Chế tạo mẫu
14
2.1.1 Chế tạo băng từ FeCoBSi bằng phương pháp nguội nhanh 14
2.1.2 Xử lý nhiệt 15
2.1.3 Chế tạo vật liệu tổ hợp từ-điện 15
2.2 Đo t
ừ giảo bằng phương pháp quang
16
2.3 Hệ đo hiệu ứng từ-điện
19
2.4 Các phương pháp thực nghiệm khác
21
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
23

iv

3.1 Phân tích cấu trúc của băng từ (Fe
0.8
Co
0.2
)

B
0.1

28
3.4. Hiệu ứng từ-điện của mẫu vật liệu tổ hợp FeCoBSi/PZT
30
3.4.1 Sự phụ thuộc của hệ số hệ số từ-điện
α
E
vào từ trường
H
DC

30
3.4.2 Sự phụ thuộc của hiệu ứng từ-điện vào góc định hướng φ
giữa véc tơ phân cực P
E
với từ trường ngoài H
DC
và h
ac

33
3.4.3 Ngoại suy đường cong λ(H) từ đường cong α
E
(H) 39
3.4.4 Sự phụ thuộc của hệ số từ-điện vào từ trường h
ac
40
3.4.5 Sự phụ thuộc của hiệu ứng từ-điện vào cấu hình vật liệu tổ

và từ trường H* tại đó hiệu ứng từ-điện
đạt cực đại đo được trên cấu hình sandwich
46
Bảng 3.3. Sự thay đổi hiệu ứng ME phụ thuộc vào quá trình ủ nhiệt của
băng từ FeCoBSi
47
Bảng 3.4. Bảng so sánh sensơ chế tạo được và các loại sensơ đo từ trường
dựa trên các hiệu ứng khác nhau đang được sử dụng rộng rãi hiện nay

51 vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Chương 1: Tổng quan
Hình 1.1. Hiệu ứng từ giảo của mẫu hình cầu:(a) từ giảo thể tích và (b) từ
giảo tuyến tính Joule [12]

Hình 1.6. Hiệu ứng áp điện xảy ra khi một đĩa gốm áp điện (a) chịu tác
dụng của ứng suất nén (b) và giãn cơ học (c).
9
Hình 1.7. Ô đơn vị tinh thể PZT trong trạng thái Perovskite bốn phương
(trái) và mặt thoi (phải) [22]
10
Hình 1.8. Cảm biến gia tốc áp điện 11
Hình 1.9. Cảm biến siêu âm 11
Hình 1.10. Các vật liệu tổ hợp từ-đi
ện: (a) dạng hạt, (b) dạng màng đa lớp
và (c) dạng tấm.
13
Chương 2: Các phương pháp thực nghiệm Trang
Hình 2.1. Quy trình chế tạo băng vô định hình bằng phương pháp nguội
nhanh.
15
Hình 2.2. Cấu trúc sandwich của vật liệu tổ hợp từ-điện
FeCoBSi/PZT/FeCoBS, và ảnh chụp sau khi chế tạo
16
Hình 2.3. Cấu trúc mẫu băng từ dán trên tấm Si trong phép đo từ giảo
bằng phương pháp phản xạ quang học.
17
Hình 2.4. Ảnh chụp (a) và sơ đồ minh họa (b) hệ đo từ giảo bằng phương 18

vii
pháp quang.
Hình 2.5. Sơ đồ minh họa hệ đo hiệu ứng từ-điện. 21
Chương 3: Kết quả và thảo luận Trang
Hình 3.1. Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu ngay sau khi chế tạo và sau khi
ủ với các nhiệt độ T

s
) đo trong mặt phẳng, theo hai
phương từ trường song song với chiều dài và chiều rộng của băng sau khi
ủ ở T
a
= 250 °C.
28
Hình 3.7. Đường cong từ giảo đo theo phương từ trường nằm trong mặt
phẳng, dọc theo chiều dài (λ
//
) và chiều rộng (λ

) của băng từ
(Fe
0.8
Co
0.2
)
0.78
Si
0.12
B
0.1
ngay sau khi chế tạo
29
Hình 3.8. Đường cong độ cảm từ giảo theo phương song song (χ
λ//
) với
chiều dài băng từ (Fe
0.8

vào từ trường
một chiều H
DC
của băng từ ngay sau khi chế tạo. Phép đo được thực hiện
trong từ trường xoay chiều có cường độ h
ac
= 1 Oe tại tần số cộng hưởng
và nằm trong mặt phẳng theo hai phương song với chiều dài băng và
chiều rộng băng
31

viii

Hình 3.11. Mối liên hệ giữa hiệu ứng từ-điện và tính chất từ giảo của pha
của vật liệu tổ hợp từ giảo/áp điện khi chịu tác dụng của từ trường một
chiều H và xoay chiều h
ac
trong hai trường hợp: pha từ có độ cảm từ giảo
(độ dốc đường cong) lớn (1) và nhỏ (2)

33
Hình 3.12. Đường cong sự phụ thuộc của thế từ-điện V
ME
vào từ trường
H
DC
đo tại các góc ϕ giữa véc tơ phân cực điện và trường ngoài H
DC,
h
ac

(H) so sánh với đường cong thực nghiệm
40
Hình 3.17. Đường cong sự phụ thuộc của hệ số từ-điện α
E
vào cường độ
từ trường xoay chiều h
ac
đo tại tần số cộng hưởng trong trường hợp từ
trường tác dụng song song với chiều dài băng
41
Hình 3.18. Đường cong mô tả sự phụ thuộc hệ số α
E
(H) và µ
o
H* vào từ
trường h
ac

41
Hình 3.19. Đường cong sự phụ thuộc V
ME


hệ số α
E
(H)
vào từ trường h
ac
trong vùng từ trường thấp 0 ≤ h
ac

Hình 3.24. Đường cong sự phụ thuộc của

hệ số α
E
vào từ trường H
DC
trong mặt phẳng mẫu theo phương song song với chiều dài băng
khi chưa ủ và khi ủ với các nhiệt độ T
a
= 350 °C và 450 °C
47
Hình 3.25. Ảnh chụp vật liệu multiferroic FeCoBSi/PZT (a) và sensơ đo
từ trường (b,c)
48
Hình 3.26. Sự phụ thuộc tín hiệu điện thế lối ra sensơ vào từ trường đo 49
Hình 3.27. Đường cong sự phụ thuộc tín hiệu điện thế V
out
của sensơ vào
góc định hướng φ khác nhau giữa từ trường và pháp tuyến với mặt phẳng
mẫu đo tại các giá trị từ trường khác nhau μ

H = 80, 150, 200 và 50 Oe.
Đường liền nét là đường cong sự phụ thuộc của V
out
vào H khi φ = 90°
50
1

3
-PbTiO
3
) (PZT) và từ giảo Terfenol-D dạng tấm bằng phương
pháp kết dính [10,11]. Tuy nhiên, cho đến nay, khả năng ứng dụng hệ vật liệu này
còn hạn chế do nó đòi hỏi từ trường rất lớn (~ 5000 Oe) đặt vào. Ở Việt Nam,
nhóm nghiên cứu của N.H. Đức và các đồng nghiệp đã thành công bước đầu trong
việc tìm ra vật liệu multiferroics sử dụng màng mỏng từ giảo Terfecohan và tấm áp
điện PZT và ứng dụng chế t
ạo sensơ đo từ trường cũng đã được nghiên cứu [5, 16].
Các nghiên cứu cho đến nay chủ yếu tập trung vào tìm ra vật liệu có hiệu
ứng từ-điện lớn rất nhạy với sự thay đổi nhỏ của từ trường ngoài. Gần đây, kết quả
nghiên cứu của Srinivasan và các đồng nghiệp đã thành công trong việc chế tạo ra
các vật liệu dạng màng đa lớp NiZnFeO/PZT bằng ph
ương pháp Tape casting. Vật
liệu này cho hệ số α
E
∼ 1500 mV/cmOe tại từ trường 100 Oe [8, 24]. Tuy nhiên,
hạn chế của phương pháp này là công nghệ chế tạo phức tạp và giá thành cao. Tại
khoa Vật lý Kỹ thuật và Công nghệ Nanô, trường Đại học Công nghệ, ĐHQG Hà 2
nội, hướng nghiên cứu vật liệu tổ hợp từ-điện theo định hướng ứng dụng đã được
chúng tôi tiếp tục triển khai và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Trong
nghiên cứu của mình, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu trên các vật liệu multiferroic
dạng tấm sử dụng tấm áp điện PZT và các băng từ mềm FeCoBSi. Chúng tôi mong
đợi với công nghệ chế
tạo đơn giản, giá thành thấp mà vẫn tạo ra được một vật liệu
có hiệu ứng từ-điện cao trong từ trường thấp nhờ tính chất từ và từ giảo siêu mềm

3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Hiện tượng từ giảo và khả năng ứng dụng
1.1.1. Hiện tượng từ giảo
Từ giảo là hiện tượng hình dạng và kích thước của vật liệu từ thay đổi khi
trạng thái từ của vật liệu thay đổi. Hiện tượng từ giảo đã được James Prescott Joule
(1818 - 1889) phát hiện lần đầu tiên vào năm 1842 [12]. Trạng thái từ của vật liệu
có thể bị
thay đổi khi nhiệt độ thay đổi hoặc dưới tác dụng của từ trường ngoài
(hình 1.1). Hiện tượng thể tích của vật liệu từ thay đổi do sự thay đổi trạng thái từ
khi nhiệt độ thay đổi được gọi là hiện tượng từ giảo tự phát hay từ giảo thể tích
(hình 1.1a). Từ giảo xuất hiện khi đặt vật liệu từ trong từ trường ngoài được gọi là
từ gi
ảo cưỡng bức hay từ giảo tuyến tính Joule (hình 1.1b).

Hình 1.1. Hiệu ứng từ giảo của mẫu hình cầu:
(a) từ giảo thể tích và (b) từ giảo tuyến tính Joule [12].
Từ giảo tuyến tính Joule liên quan đến sự định hướng của mômen từ dưới tác
dụng của từ trường ngoài. Hiện tượng từ giảo tuyến tính của các vật liệu từ được
giải thích dựa trên mô hình tương tác tĩnh điện giữa đám mây điện tử từ và điện 4
tích môi trường xung quanh. Dưới tác dụng của từ trường ngoài, sự phân bố của
điện tử (tức là mômen quỹ đạo) sẽ bị biến đổi tuỳ theo mức độ tương tác của chúng
với mômen từ (mômen spin). Các vật liệu khác nhau sẽ có từ giảo khác nhau tuỳ
thuộc vào hình dạng đám mây điện tử từ của chúng. Đối với trường hợp các nguyên
tố có đám mây điện tử
dạng đối xứng cầu (L = 0 và hệ số Steven

1.3.a). Đó là trường hợp của các kim loại chuyển tiếp 3d (Fe, Co, Ni). 5

Hình 1.3. Hiện tượng từ giảo tương ứng với các trường hợp:
α
J
>0 (a),
α
J
<0 (b), liên kết spin – quỹ đạo yếu (c) [17].
- Hiện tượng từ giảo chỉ xảy ra khi đám mây của các điện tử từ không có dạng
đối xứng cầu và tương tác spin - quỹ đạo (
λ
LS) mạnh, khi đó sự quay của mômen
spin gắn liền với sự quay của mômen quỹ đạo. Trong trường hợp này từ giảo
thường có giá trị lớn. Dưới tác dụng của từ trường ngoài, ta sẽ quan sát được từ
giảo âm nếu sự phân bố đám mây điện tử từ có dạng hình chày (
α
J
> 0, hình 1.3.b)
và từ giảo dương nếu đám mây điện tử từ có dạng đĩa dẹt (
α
J
< 0, hình 1.3.c). 6
Từ giảo của các vật liệu được đặc trưng bởi hệ số từ giảo

thứ nguyên. Trong các vật liệu từ giảo dạng khối hoặc dạng băng, hiện tượng từ
giảo thể hiện bởi biến dạng tuyến tính (
Δl/l) phương từ trường ngoài (hình 1.4).

Hình 1.4. Hình minh họa biến dạng tuyến tính của vật liệu từ giảo dạng khối
hoặc dạng băng mỏng.
1.1.2. Vật liệu từ giảo và khả năng ứng dụng
Để nâng cao khả năng ứng dụng của các vật liệu từ giảo thì yêu cầu đặt ra đối
với các vật liệu từ giảo là không những phải có từ giảo (
λ
S
) lớn ở nhiệt độ phòng
(có nhiệt độ Curie
T
C
cao) mà còn có độ cảm từ giảo (
χ
λ//
=
∂λ
/

H) cao. Trong các
ứng dụng chế tạo các hệ vi điện - cơ, yêu cầu đặt ra cho các vật liệu phải có từ giảo
cao trong vùng từ trường thấp. Điều này cho phép động cơ có thể hoạt động với
công suất cao tại từ trường điều khiển thấp. Đối với các nguyên tố là kim loại
chuyển tiếp (nhóm 3
d), mặc dù có nhiệt độ Curie rất cao (T
C
của Fe, Ni và Co

f) và các vật liệu
có nhiệt độ
T
C
cao (các kim loại chuyển tiếp 3d) cho các hợp kim liên kim loại đất
hiếm - kim loại chuyển tiếp có từ giảo lớn ngay ở nhiệt độ phòng. Với những liên
kim loại giàu đất hiếm, từ giảo lớn và nhiệt độ Curie của chúng đã được cải thiện
đáng kể. Năm 1971, A.E Clark đã khám phá ra hợp kim liên kim loại TbFe
2

(TerfeNol, ở đây Ter là tên viết tắt của Tb, fe là Fe và Nol là tên phòng thí nghiệm,
nơi đã nghiên cứu ra hợp chất này) với giá trị từ giảo bão hòa lên tới
λ
S
= 1753×10
-6
[1,2]. Tuy nhiên, để đạt đến trạng thái bão hòa từ giảo trên các vật
liệu này cần phải có từ trường rất lớn đặt vào. Với ý tưởng thay thế một phần Tb
bằng Dy với thành phần tối ưu Tb
0.27
D
0.73
Fe
2
để bù trừ dị hướng, vật liệu từ giảo
dạng khối Terfenol-D (D là tên viết tắt của Dy) đang được ứng dụng rất rộng rãi
hiện nay. Vật liệu này có từ giảo bão hòa rất lớn
λ
S
= 2400x10

Tuy nhiên, vật liệu này có hệ số từ giảo rất thấp
λ
= 30×10
-6
. Sự có mặt của các
nguyên tố pha tạp B, Si, C tuy có làm giảm từ giảo của vật liệu này so với Fe đơn
chất (
λ
Fe
∼ 40×10
-6
) nhưng chúng có tác dụng tạo pha vô định hình của băng và do
đó tăng cường đáng kể tính chất mềm của Metglass so với Fe tinh thể. Với mục
đích làm tăng cường hơn nữa từ giảo trên các băng từ này mà vẫn duy trì được tính
mềm từ giảo ở trạng thái vô định hình, nguyên tố cũng thuộc họ kim loại chuyển 8
tiếp Co với từ giảo lớn hơn Fe (
λ
Co
∼ 60×10
-6
) đã được lựa chọn để pha tạp. Dựa
trên các kết quả nghiên cứu sự thay đổi từ độ của hợp kim FeCo (hình 1.5), tại
thành phần thay thế Co cho Fe nằm trong khoảng 0,2
≤ x ≤ 0,35 thì hợp kim này lại
có từ độ lớn hơn rất nhiều so với các kim loại Fe và Co nguyên chất [4,5,9].

Hình 1.5. Đường cong thực nghiệm mô tả sự thay đổi từ độ M

0,12
B
0,1
. Các nghiên cứu đã được
thực hiện trên các băng từ ngay sau khi chế tạo và sau khi được ủ nhiệt tại các nhiệt
độ khác nhau từ 150 °C đển 450 °C để tìm ra cấu hình tối ưu đáp ứng yêu cầu ứng
dụng chế tạo các senso đo từ trường với độ nhạy siêu cao
[4, 5, 9].
1.2. Hiện tượng áp điện
1.2.1. Lý thuyết áp điện
Hiệu ứng áp điện được phát hiện vào năm 1880 bởi Jacques và Pierre Curie là
hiện tượng vật liệu khi chịu tác dụng của ứng suất kéo hoặc nén thì trong lòng vật
liệu sẽ xuất hiện sự phân cực điện cảm ứng hoặc ngược lại. Khi vật liệu chịu tác
dụng của đi
ện trường thì vật liệu sẽ bị biến dạng dài ra hoặc ngắn lại tùy thuộc vào 9
điện trường ngoài cùng chiều hay ngược chiều với véc tơ phân cực điện của vật liệu.
Hiệu ứng áp điện dưới tác dụng của ứng suất bên ngoài được mô tả trên hình 1.6.
Nếu vật liệu chịu ứng suất nén (hình 1.6a) hoặc kéo theo hướng phân cực (hình
1.6b) sẽ dẫn đến sự giảm hoặc tăng độ phân cực điện trong lòng vật liệu và kết quả
sẽ làm xuất hiện trong lòng vật liệu một điện trường cùng chiều hay ngược chiều
với véc tơ phân cực điện. Kết quả là trên hai mặt đối diện của vật liệu áp điện sẽ
xuất hiện thế áp điện có dấu và độ lớn phụ thuộc vào ứng suất tác dụng theo công
thức [3, 14]:
33
Eg
σ
=

10
tính chất tối ưu tùy vào mục đích sử dụng đã được thương mại hóa và sản xuất
hàng loạt theo yêu cầu được cung cấp bởi các công ty với giá thành thấp.
1.2.2. Vật liệu PZT
PZT là tên viết tắt của vật liệu áp điện có thành phần hóa học PbZn
x
Ti
1-x
O
3.
Trong thành phần cấu tạo PZT, tỉ lệ Zn:Ti là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới
hiệu ứng áp điện. Vật liệu PZT ở trạng thái đơn tinh thể có thể tồn tại ở cấu trúc
perovskite bốn phương (tetragonal) hoặc thoi (rhombohedral) (hình 1.7) [22].
Trong các trạng thái này, ô đơn vị là sắt điện chứa mômen lưỡng cực được tạo ra
do cấu trúc bất đối xứng của các ion O
2-
và Zn
4+
/Ti
4+
so với trục tinh thể. Tùy thuộc
vào hướng của điện trường ngoài đặt vào (hướng trục Oz), vị trí của các ion này sẽ
xác định tính chất áp điện của tinh thể.

Hình 1.7. Ô đơn vị tinh thể PZT trong trạng thái Perovskite
lập phương (trái) và mặt thoi (phải) [22].
Hiệu ứng áp điện có thể giải thích bằng sự dịch chuyển của các ion trong ô
đơn vị được minh họa trên hình 1.7. Dưới tác dụng của một điện trường ngoài theo
phương trục Oz, các ion O
2-

3
(PZT) đặc biệt thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu (do có độ phân cực tự phát và hiệu ứng áp điện lớn). Trên thế giới, đặc biệt là
các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, các nước Châu Âu… vật liệu
PZT đã có nhiều ứng dụng triển khai trong thực tế dưới dạng các sản phẩm thương
mại. Nhờ hiệu ứng áp điện thuận (bi
ến đổi năng lượng cơ thành năng lượng điện)
và nghịch (biến đổi năng lượng điện thành năng lượng cơ), các nhà khoa học đã chế
tạo thành công nhiều thiết bị cảm biến và tích hợp chúng trên các vi mạch hoặc các
mạch số [7, 20, 22]. Một trong các ứng dụng sử dụng vật liệu áp điện phải kể đến
cảm biến gia tốc áp đ
iện và cảm biến siêu âm được minh họa trên hình 1.8 và 1.9.

Hình 1.8. Cảm biến gia tốc áp điện Hình 1.9. Cảm biến siêu âm
1.3. Hiệu ứng từ-điện
Hiệu ứng từ-điện là hiện tượng vật liệu bị phân cực điện (P
E
) khi đặt trong từ
trường ngoài, hay ngược lại vật liệu bị phân cực từ khi có điện trường ngoài đặt vào
[6]. Đây là một hiệu ứng tích của hai hiệu ứng: hiệu ứng từ và hiệu ứng điện và
được đặc trưng bởi hệ số từ-điện
α
E
= dE/dH.
Hiệu ứng từ-điện thường được quan sát thấy trên các vật liệu tồn tại đồng thời
cả hai pha sắt từ và sắt điện. Đây là một hiệu ứng mới và đang được nghiên cứu
mạnh mẽ trên thế giới trong vài năm trở lại đây [10, 11]. Vật liệu có hiệu ứng từ-
điện có thể được chia thành hai loại: (i) vật liệu đơ
n pha và (ii) vật liệu tổ hợp.


khoảng 300 μm phân tách nhau trên nền nhựa Vinyl ester resin (hình 1.10b). Bằng
phương pháp kết dính, v
ật liệu tổ hợp chế tạo được cho hệ số từ-điện cao
α
E
= 2700 (mV/cmOe) tại từ trường nhỏ hơn rất nhiều
μ
ο
H ∼ 70 mT. Một dạng vật
liệu tổ hợp có hiệu ứng từ-điện cao trong từ trường thấp phải kể đến cấu trúc dạng
màng đa lớp (hình 1.10c). Trong số các dạng vật liệu tổ hợp thì phải kể đến vật liệu
dạng màng đa lớp cấu tạo bởi các lớp từ và áp điện được lắng đọng xen kẽ nhau
nhau. Trong đó, cho đến th
ời điểm hiện tại, vật liệu tối ưu nhất cho hệ số
α
E
= 1500
(mV/cmOe) tại từ trường rất nhỏ
μ
ο
H ∼ 10 mT đã được công bố trên vật liệu dạng
màng đa lớp {NiZnFeO/PZT}
n
chế tạo bằng phương pháp tape casting [8].
Do đặc điểm công nghệ chế tạo đơn giản, giá thành thấp, có thể sản xuất và
ứng dụng hàng loạt với qui mô lớn nên trong nghiên cứu của mình, chúng tôi tiếp
tục triển khai nghiên cứu trên hệ vật liệu tổ hợp dạng tấm bằng phương pháp kết
dính. Ở đây, thay vì s
ử dụng vật liệu từ giảo dạng khối, chúng tôi đã sử dụng các


14
Chương 2
CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
Một số quá trình thực nghiệm đã được thực hiện trong khóa luận này bao gồm
các quá trình chế tạo và nghiên cứu đặc trưng cấu trúc, tính chất từ, từ giảo và hiệu
ứng từ-điện của vật liệu nghiên cứu sẽ được giới thiệu trong trong chương này.
2.1. Chế tạo mẫu
2.1.1. Chế tạo băng từ FeCoBSi bằng phương pháp nguội nhanh
Phương pháp nguội nhanh (melt-spun hay melt-spinning) là m
ột phương pháp
rất phổ biến để chế tạo các hợp kim vô định hình và nanô tinh thể ở dạng băng
mỏng. Qui trình chế tạo băng (Fe
0.8
Co
0.2
)
0.78
Si
0.12
B
0.1
sử dụng phương pháp này
thực hiện tại Phòng thí nghiệm từ học, Trường Đại học Tổng hợp Rouen, CH Pháp
có thể mô tả ngắn gọn như sau (xem hình 2.1).

kiện khí trơ, với áp su
ất thấp trong vòng 30 phút, tại các nhiệt độ ủ T
a
= 250 °C,
350 °C và 450 °C.
2.1.3. Chế tạo vật liệu tổ hợp từ-điện
Vật liệu tổ hợp từ-điện dạng tấm được chế tạo bằng phương pháp kết dính sử
dụng keo để gắn kết tấm áp điện giữa hai lớp băng từ (Fe
0.8
Co
0.2
)
0.78
Si
0.12
B
0.1
chế
tạo được. Sơ đồ minh họa cấu trúc của mẫu vật liệu tổ hợp được minh họa trên hình
2.2. 16

Hình 2.2. Cấu trúc sandwich của vật liệu tổ hợp từ-điện
FeCoBSi/PZT/FeCoBS, và ảnh chụp sau khi chế tạo
Trong các nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng vật liệu áp điện PZT (Pb,
Zr, Ti) dạng tấm chiều dày
t
PZT

vô định hình nghiên cứu, để có thể sử dụng được phương pháp này, chúng tôi đã
dán băng lên một tấm Si với mặt phản xạ hướng lên trên (hình 2.3). 17

Hình 2.3. Cấu trúc mẫu băng từ dán trên tấm Si trong phép đo từ giảo bằng
phương pháp phản xạ quang học.
Từ giảo của băng (Fe
0.8
Co
0.2
)
0.78
Si
0.12
B
0.1
do có liên kết với tấm Si (không có
từ tính) nên khi có tác dụng của từ trường ngoài, hiện tượng biến dạng của hệ này
không thể hiện bởi biến dạng tuyến tính
(
Δ
l/l) như các vật liệu dạng khối, mà thể
hiện bởi hiệu ứng uốn cong. Khi tác dụng một từ trường theo phương Ox, biến
dạng của mẫu xảy ra theo 2 phương Oy và Oz là ngược nhau. Nếu mẫu có dạng dài
theo trục Ox, tức là
l << L, có thể xem sự biến dạng của mẫu chỉ xảy ra theo
phương Oz. Khi đó độ uốn cong của mẫu được dặc trưng bởi góc lệch
α

Trích đoạn Tính chất từ của (Fe0.8Co0.2)0.78Si 0.12B0.1 dạng băng 1 Tính chất từ của mẫu ngay sau khi chế tạo Sự phụ thuộc của hiệu ứng từ-điện vào băng từ sau khi ủ nhiệt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status