1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÃ THỊ ANH HOA ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc HÀ NỘI - 2013 3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn Lã Thị Anh Hoa
1.1.
Khái niệm chung về đăng ký bất động sản
7
1.1.1.
Khái niệm bất động sản
7
1.1.2.
Khái niệm đăng ký bất động sản
11
1.1.3.
Mục đích của đăng ký bất động sản
14
1.1.4.
Ý nghĩa và vai trò của đăng ký bất động sản
17
1.2.
Pháp luật về đăng ký bất động sản theo pháp luật một số
quốc gia
20
1.2.1.
Đăng ký bất động sản theo pháp luật Nhật Bản
20
1.2.2.
Đăng ký bất động sản theo pháp luật Liên bang Nga
22
1.2.3.
Đăng ký bất động sản theo pháp luật Thụy Điển
24
1.3.
Khái quát về đăng ký bất động sản theo pháp luật Việt Nam
35
2.1.2.1.
Đăng ký quyền sử dụng đất
35
2.1.2.2.
Đăng ký quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng và các tài
sản gắn liền với đất khác
39
2.1.2.3.
Đăng ký giao dịch về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất
44
2.2.
Những vấn đề về áp dụng pháp luật đăng ký bất động sản
47
2.2.1.
Về tính hệ thống và thống nhất trong quy định pháp luật về
đăng ký bất động sản
48
2.2.2.
Tính thống nhất trong cách hiểu về bản chất và giá trị pháp
lý của hoạt động đăng ký bất động sản
49
2.2.3.
Về tính công khai, minh bạch thông tin về bất động sản
52
2.2.4.
Về nội dung đăng ký bất động sản
54
2.2.5.
6
3.1.5.
Xây dựng thủ tục đăng ký bất động sản đơn giản, dễ áp
dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân
74
3.1.6.
Tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia trên
thế giới nhằm hoàn thiện pháp luật đăng ký bất động sản
74
3.2.
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký bất động sản
75
3.2.1.
Sửa đổi và hoàn thiện một số quy định của pháp luật hiện
hành về đăng ký bất động sản
75
3.2.1.1.
Đối với Bộ luật dân sự
75
3.2.1.2.
Đối với các văn bản pháp luật chuyên ngành
78
3.2.2.
Xây dựng văn bản pháp lý chuyên ngành về đăng ký bất
động sản
80
3.2.2.1.
Mục tiêu của Luật đăng ký bất động sản
81
3.2.2.2.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
93 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý giá và có vai trò
quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đó là tài
nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng
của môi trường sống, là địa bàn để phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.
Hệ thống quản lý đất đai chặt chẽ và chính sách đất đai phù hợp sẽ tác
động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó
hoạt động đăng ký bất động sản là công cụ cốt lõi, thiết thực của hệ thống
quản lý đất đai và bất động sản, là phương tiện hữu ích giúp công tác này
được thực hiện có hiệu quả, điều tiết hoạt động của thị trường bất động sản và
là công cụ không thể thiếu được để xác định các nguồn thu từ đất đai và tài
sản gắn liền với đất. Phát triển và quản lý tốt các thông tin và hoạt động liên
quan đến bất động sản, đặc biệt là đất đai là điều kiện quan trọng để sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.
Chính do tầm quan trọng đó mà trong thời gian qua đã có một số công
trình đề cập đến hệ thống đăng ký đất đai và bất động sản ở các góc độ và
mức độ chi tiết khác nhau. Đặc biệt là việc năm 2008, Bộ Tư pháp, Bộ Tài
nguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng đã họp bàn về việc xây dựng Dự thảo
Luật đăng ký bất động sản và lấy ý kiến của các chuyên gia. Các chuyên gia,
các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và xây dựng ý
kiến đóng góp cho dự thảo. Tuy nhiên, đến nay, việc trình Quốc hội thông qua
vẫn còn gặp nhiều vướng mắc.
luật về đăng ký bất động sản, Hà Nội, 2007.
9
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về đề tài này của các nhà nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu trên có phạm vi rộng, toàn diện và đề cập đến một
số vấn đề hoạt động đăng ký bất động sản hiện nay. Các công trình nghiên
cứu nêu trên đã bước đầu đưa ra những nghiên cứu, đánh giá ban đầu về pháp
luật đăng ký bất động sản hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay
hầu hết các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có nội dung cập nhật với các
quy định hiện hành liên quan đến đăng ký bất động sản và thực trạng của việc
đăng ký bất động sản trong bối cảnh hiện nay. Với đề tài "Đăng ký bất động
sản theo pháp luật Việt Nam" tác giả tập trung nghiên cứu một cách toàn diện,
có tính hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng về đăng
ký bất động sản hiện nay, để từ đó đưa ra những giải pháp cho vấn đề này.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, đa số các quốc gia như Nhật Bản, Thụy Điển, Đức,
Pháp đều có hệ thống đăng ký bất động sản hình thành sớm và đã trải qua
một quá trình phát triển lâu dài. Nhật Bản ban hành Luật đăng ký bất động
sản năm 1899; Hàn Quốc ban hành Luật đăng ký bất động sản năm 1960;
Pháp ban hành nghị định về cơ chế công bố các giao dịch về bất động sản
năm 1955 v.v Các quốc gia này đã đều ban hành một đạo luật thống nhất về
đăng ký bất động sản đồng thời xây dựng được một hệ thống đăng ký bất
động sản tập trung, thuận tiện và hiệu quả.
Đối với vấn đề đăng ký bất động sản, các quốc gia trên thế giới trong
quá trình xây dựng hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản cũng đã tổ
chức những hội thảo quy mô, tập hợp các công trình nghiên cứu, lý luận của
nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Có thể kể đến như Hội thảo về Cải cách
đất đai, bao gồm pháp luật đất đai và hệ thống đăng ký đất đai, tại Stockholm
vào ngày 16-17 tháng 6 năm 1996; các hội thảo của Ủy ban kinh tế của Liên
hợp quốc tại Châu Âu bàn về chính sách đất đai và hệ thống quản lý đất đai
11
- Trên cơ sở phân tích nội dung và thông qua tìm hiểu thực tiễn áp
dụng những quy định của pháp luật của các cơ quan và các cá nhân, doanh
nghiệp trong việc đăng ký bất động sản, luận văn đưa ra một số kiến nghị và
đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật
về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật, kết hợp với việc sử dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Ngoài ra trong quá
trình nghiên cứu đề tài những phương pháp khoa học như: So sánh, phân tích,
tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài
đặt ra.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn khái quá hóa và liên hệ so sánh với pháp luật về đăng ký
bất động sản ở các nước.
- Luận văn phân tích những vướng mắc trong quá trình thực hiện việc
đăng ký bất động sản.
- Luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập của những quy định pháp
luật về đăng ký bất động sản, từ đó làm cơ sở cho những kiến nghị nhằm hoàn
thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khái quát
và cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm
công tác áp dụng pháp luật trong hoạt động đăng ký bất động sản. Trên cơ sở
đó giúp cho cá nhân, tổ chức nắm được các quy định của pháp luật về đăng ký
bất động sản để bảo vệ quyền và lợi ích của mình đối với bất động sản thông
qua việc đăng ký nhà nước. Góp phần hạn chế những tranh chấp và vướng
hiệu quả hơn. Dựa trên các cách thức phân loại tài sản khác nhau, nhà làm
luật sẽ xác lập các quyền và biện pháp quản lý đối với từng loại tài sản đó.
Đối với tài sản, có thể tiếp cận theo hướng tài sản được hình dung như
một quyền. Tùy theo quyền có thể được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua vai
trò của một chủ thể khác, người ta phân biệt giữa vật quyền và trái quyền. Do
tính chất quan trọng của vật quyền, đặc biệt là do ảnh hưởng sâu rộng của nó
đối với đời sống xã hội và giao lưu dân sự nói riêng, người làm luật có xu
hướng đòi hỏi vật quyền phải được luật ghi nhận mới được coi là tồn tại hợp
pháp và được bảo vệ. Cũng bằng phương pháp loại suy, người ta nói rằng
những tài sản không phải là vật quyền, thì được gọi là trái quyền. Theo thời
14
gian, có một loại quyền thứ ba, gắn với giá trị kinh tế của các công trình lao
động trí óc như tác phẩm văn chương, khoa học, nghệ thuật, gọi là quyền sở hữu
trí tuệ, đứng bên cạnh vật quyền và trái quyền như một loại tài sản đặc thù.
Tuy nhiên, xét về mặt tài sản hữu hình, pháp luật lại có sự phân loại
tài sản thành động sản và bất động sản. Đây là cách phân loại đã có từ thời La
Mã cổ đại và pháp luật của hầu hết các nước đều coi đây là sự phân loại phổ
biến và cơ bản nhất. Theo Luật La Mã, bất động sản không chỉ bao gồm đất
đai và của cải trong lòng đất mà còn bao gồm cả những thứ được tạo ra do sức
lao động của người khác trên đất của mình. Bất động sản bao gồm các công
trình xây dựng, mùa màng, cây trồng và tất cả những gì liên quan trên đất
hay gắn liền với đất, những vật trên mặt đất cùng với những bộ phận cấu
thành nên lãnh thổ (khoảng không, lòng đất).
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thống nhất ở chỗ coi bất động
sản gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai, không tách rời với đất
đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật dân sự Cộng
hòa Pháp, Điều 86 Luật dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật dân sự Liên bang
Nga, Điều 94, 96 Luật dân sự Cộng hòa liên bang Đức ). Trong khái niệm về
bất động sản, đa số các quốc gia không đưa định nghĩa cụ thể về bất động sản
gia đình và xã hội (Điều 86, khoản 1, Điều 12 Bộ luật dân sự Nhật Bản).
Như vậy, có thể thấy hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới
đa phần xác định bất động sản theo phương thức miêu tả cụ thể những tài sản
được coi là bất động sản, những tài sản còn lại được coi là động sản. Sở dĩ
phương thức này được sử dụng rộng rãi là do những tài sản được coi là bất động
sản có phạm vi tương đối hẹp, và có thể xác định được một cách tương đối.
Việc phân loại bất động sản và động sản theo pháp luật Việt Nam
được xác định dựa trên tính chất, tính năng sử dụng của tài sản. Bộ luật dân sự
năm 1995 đã quy định về bất động sản dựa theo tính chất của tài sản, khoản 1
Điều 181 quy định:
16
Bất động sản là các tài sản không di, dời được bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả
công trình gắn liền với nhà ở, công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định [32].
Theo quy định trên thì việc xác định tài sản là bất động sản chủ yếu là
dựa vào đặc tính không di dời được của tài sản. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự
năm 1995 không quy định về bất động sản do công dụng. Bộ luật dân sự năm
2005 đã quy định một cách bao quát và sử dụng phương pháp liệt kê mở và
không giới hạn bất động sản chỉ là những "tài sản không di, dời được" như Bộ
luật dân sự năm 1995, điều này làm mở rộng phạm vi bất động sản là những
tài sản về bản chất là có thể di dời được, nhưng do công dụng, mục đích sử
dụng mà nó gắn liền với đất hoặc công trình xây dựng và được xác định là bất
động sản.
Theo qui định nêu trên, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhận
các loại bất động sản sau đây:
- Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của
động quản lý nhà nước trong lĩnh vực bất động sản.
Tại Việt Nam hiện chưa có quy định riêng về đăng ký bất động sản, vì
vậy, tuy các quyền liên quan đến bất động sản cũng như trình tự, thủ tục xác
lập quyền được quy định trong các luật chuyên ngành như Bộ luật dân sự,
Luật đất đai, Luật nhà ở nhưng khái niệm "đăng ký bất động sản" hầu như
chưa được sử dụng. Khái niệm này được hiểu cụ thể trong từng văn bản pháp
luật khác nhau và theo các loại bất động sản khác nhau. Vậy đăng ký bất động
sản cần phải hiểu như thế nào?
18
Trước khi nghiên cứu khái niệm đăng ký bất động sản, cần làm rõ
khái niệm "đăng ký". Khái niệm này được giải thích cụ thể trong các công
trình nghiên cứu cụ thể. Theo Từ điển Tiếng Việt thì "đăng ký" nghĩa là "Ghi
vào sổ của cơ quan quản lý" [1, tr. 286]. Đại từ điển Tiếng Việt thì định
nghĩa: "Đăng ký: đứng ra khai báo để được cấp giấy công nhận về quyền hạn,
nghĩa vụ nào đó" [46, tr. 601]. Hay như Từ điển Giải thích thuật ngữ giải
thích: "Đăng ký quyền sở hữu là công nhận và chứng thực về phương diện
pháp lý về quyền của chủ sở hữu đối với tài sản. Đăng ký quyền sở hữu là thủ
tục do pháp luật quy định. Tùy thuộc từng loại tài sản và tại cơ quan có thẩm
quyền khác nhau" [24].
Theo các định nghĩa trên, có thể thấy đặc điểm chung của đăng ký là
hành vi ghi nhận quyền hoặc sự kiện pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân
vào sổ sách để từ đó có cơ sở xác định hoặc công nhận quyền và nghĩa vụ
nhất định của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đối với Nhà nước và/hoặc đối với
chủ thể khác.
Như vậy, từ việc tìm hiểu khái niệm "đăng ký" có thể hiểu đăng ký bất
động sản là việc ghi nhận của cơ quan nhà nước các thông tin liên quan về
mặt pháp lý của bất động sản.
Trên thế giới, các quốc gia đều thống nhất cách hiểu về đăng ký bất
động sản là hoạt động đăng ký quyền đối với bất động sản đó. Luật đăng ký
Thông qua đăng ký bất động sản, một mặt Nhà nước công nhận quyền
sở hữu, quyền sử dụng của cá nhân, tổ chức đối với bất động sản, mặt khác,
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với loại hình tài sản có giá trị lớn
về kinh tế, quy mô và tính chất là bất động sản. Như vậy, xét về bản chất,
đăng ký bất động sản là việc công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý của
bất động sản, phục vụ cho sự vận hành một cách minh bạch của thị trường bất
động sản và đảm bảo yêu cầu về mặt quản lý nhà nước. Về nội dung, đăng ký
bất động sản là việc công bố sự tồn tại của các quyền đối với bất động sản.
20
Theo đó, đăng ký bất động sản được thừa nhận rộng rãi là một dạng đăng ký
vật quyền (quyền của các chủ thể đối với bất động sản), chứ không phải đơn
thuần là đăng ký đối với vật là bất động sản.
Từ những phân tích, so sánh pháp luật các nước và trên cơ sở nghiên
cứu pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể đưa ra định nghĩa về đăng ký bất
động sản như sau:
Đăng ký bất động sản là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận
các thông tin về hiện trạng và lý lịch pháp lý của bất động sản của cá nhân,
cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bất động sản
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp đối với bất động sản đó.
1.1.3. Mục đích của đăng ký bất động sản
Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường với đa dạng các loại
hình sở hữu, các hoạt động giao dịch sôi động, việc đăng ký bất động sản
ngày càng đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước và của người
dân. Muốn hoạt động đăng ký bất động sản đạt được hiệu quả trên thực tế, trước
hết các quy định về đăng ký bất động sản phải đạt được các mục đích sau:
Thứ nhất, đăng ký bất động sản nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý
nhà nước đối với các tài sản này.
Tại Việt Nam, với đặc thù đất đai và các tài sản gắn liền với đất đóng
vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế. Riêng đối với bất động
đến bất động sản và đưa ra quyết định phù hợp với định hướng và nhu cầu
của mình.
Pháp luật về đăng ký của các nước đều khẳng định quyền được tiếp
cận thông tin về bất động sản của các tổ chức, cá nhân trong sổ đăng ký và
trong cơ sở dữ liệu được lưu giữ tại cơ quan đăng ký bất động sản. Tại Việt
Nam, mặc dù việc truy cập, tra cứu các thông tin về bất động sản và các hoạt
động giao dịch liên quan đến bất động sản còn hạn chế. Tuy nhiên, sau khi
22
Luật đất đai năm 2003 được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội
vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BNTMT-BNV hướng
dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất và tổ chức phát triển quỹ đất, theo đó Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng đất có nhiệm vụ cung cấp bản đồ địa chính thửa đất, trích sao
lục hồ sơ về địa chính và các thông tin khác về đất đai phục vụ nhu cầu quản
lý nhà nước và nhu cầu của cộng đồng. Như vậy, quy định này cho phép các
chủ thể có nhu cầu tìm hiểu thông tin giao dịch quyền sử dụng đất có thể tiếp
cận thông qua Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Thứ ba, đăng ký bất động sản nhằm đảm bảo an toàn về mặt pháp lý đối
với các giao dịch về bất động sản cho chủ sở hữu và các chủ thể khác liên quan.
Như đã nêu tại phần trên, đăng ký bất động sản là một trong những
hoạt động ghi nhận quyền đối với bất động sản. Tuy nhiên, không phải mọi
loại bất động sản đều có thể được đăng ký, việc đăng ký một bất động sản
phải đáp ứng những điều kiện nhất định như điều kiện về chủ sở hữu hợp
pháp của bất động sản, tình trạng pháp lý của bất động sản v.v… Đối với bất
động sản đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xem là
tài sản hợp pháp có thể thực hiện giao dịch trên thị trường. Việc đăng ký sẽ
tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể tham gia giao dịch.
Ngoài ra, việc các thông tin về bất động sản được đăng ký công khai,
minh bạch đặc biệt có ý nghĩa đối với các bên tham gia giao dịch. Khi bên thứ
nguồn thu không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Từ những nguồn thu này, Nhà
nước lại tái đầu tư vào các công trình công cộng, phúc lợi và các hoạt động
khác của quốc gia.
Cũng thông qua hoạt động đăng ký bất động sản, Nhà nước cũng xác
định được hiện trạng sử dụng bất động sản của từng vùng, từng địa phương
nhất định để đưa ra chính sách điều chỉnh phù hợp, đưa ra những biện pháp
24
thiết thực trong công tác phòng chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng
trong việc sử dụng bất động sản, đặc biệt là đất đai.
Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện chủ sở hữu
là Nhà nước, do đó việc đăng ký bất động sản còn tạo thuận lợi cho việc thực
hiện các thủ tục hành chính để cấp quyền sử dụng đất và lưu giữ thông tin về
cấp quyền. Đồng thời, đảm bảo duy trì mối quan hệ giữa Nhà nước - với tư
cách chủ sở hữu đất đai với người dân - với tư cách người sử dụng đất trong
quá trình quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng này.
- Đối với các cá nhân, tổ chức
Đăng ký bất động sản là hoạt động xác lập quyền của chủ sở hữu và
các chủ thể liên quan. Việc đăng ký bất động sản của cá nhân, tổ chức sẽ là cơ
sở để Nhà nước bảo đảm cho quyền và lợi ích được thực hiện. Nếu có tranh
chấp xảy ra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể căn cứ vào thông tin và
hiện trạng của bất động sản để giải quyết và đảm bảo cho lợi ích hợp pháp của
các bên.
Đăng ký bất động sản có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc công
khai và minh bạch tình trạng pháp lý của bất động sản, giúp cho cá nhân, tổ
chức có nguồn thông tin cần thiết để xem xét kỹ lưỡng các điều kiện về mặt
pháp lý trước khi thực hiện các giao dịch. Với việc không hạn chế tiếp cận các
thông tin về bất động sản đã được đăng ký, người dân có thể dễ dàng tìm hiểu
và nắm bắt các thông tin cơ bản về bất động sản để thực hiện các hoạt động
đầu tư phù hợp.
phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời, khách quan và đúng pháp luật.
Lợi ích đem lại từ một thị trường bất động sản lành mạnh đó là việc
thu hút tốt hơn các nguồn đầu tư vào thị trường, các chủ thể có thể thực hiện
các giao dịch một cách an toàn và tăng nguồn lợi cho quốc gia, xã hội.
Từ những phân tích trên cho thấy, giá trị tổng quát nhất của việc đăng
ký bất động sản, về phía Nhà nước chính là sự kiểm soát thông tin về bất động