ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TỐNG VIẾT NAM
DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI - 2012
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 5
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn 5
7. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: MÔ
̣
T SÔ
́
VÂ
́
N ĐÊ
̀
CHUNG VỀ DI SẢN DÙNG VÀO
VIỆC THƠ
̀
CU
́
NG 7
1.1. Khái niệm di chúc, quyền của người lập di chúc 7
1.1.1. Khái niệm di chúc 7
1.1.2. Quyền của người lập di chúc 9
1.2. Khái niệm di sa
̉
n 12
1.3. Khái niệm về thờ cúng và di sản dùng vào việc thờ cúng 13
người có quyền yêu cầu thay đổi 52
2.7. Căn cứ chấm dứt di sản dùng vào việc thờ cúng 54
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN
NHỮNG TRANH CHẤP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DI
SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG 59
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng trong
những năm qua 59
3.2. Nguyên nhân dâ
̃
n đến những tranh chấp về di sa
̉
n dùng vào việc thơ
̀
cu
́
ng 71
3.3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về di
sản dùng vào việc thờ cúng 73
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ cổ xưa đã bao hàm: Tín ngưỡng
phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người.
Trong tín ngưỡng sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên,
Điều đó giải thích việc tiến hành lễ giỗ theo các nghi thức long trọng: Các
món ăn nóng đặt trên bàn thờ tổ tiên, bên cạnh những nén hương và những
ngọn nến thắp sáng , người thân thuộc càng đông thì lễ giỗ càng tốn kém. Để
người tổ chức cúng viếng không bị đẩy vào tình thế khó khăn do phải sử dụng
tài sản riêng vào việc ấy, “tổ tiên” - người đã mất đều luôn có trách nhiệm
chuẩn bị một khả năng vật chất cụ thể để đảm bảo sự hòa thuận và ổn định
trách nhiệm của con cháu đời sau, từ đó khái niệm di sản dùng vào việc thờ
cúng manh mún ra đời.
Trong suốt quá trình phát triển của đời sống kinh tế - xã hội con người,
cho đến nay, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của xã hội loài người đã
phát triển một cách vượt bậc. Thêm vào đó, ở nước ta hiện nay, sự đa dạng và
phức tạp của nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến nề nếp sống của
mỗi gia đình, dòng tộc nên đôi lúc vấn đề thờ cúng không còn nguyên nghĩa
“bản chất đời sống tâm linh nữa” mà ở một khía cạnh nào đó nó bị xen lẫn các
mối quan hệ kinh tế. Vì thế, trong những năm gần đây, các cơ quan tư pháp đã
“vất vả” với vấn đề này trong việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế.
Do sự phát triển nhanh của xã hội nên đất “hương hỏa” ngày càng trở
thành một trong những “điểm nóng” về tranh chấp thừa kế. Hơn nữa, do sự
đa dạng về tính chất cũng như diện tích đất “hương hỏa” cho nên loại đất
này, những người thừa kế không chỉ dùng vào việc thờ cúng mà còn tận
dụng nó để khai thác lợi ích kinh tế. Trong điều kiện giá đất bất thường 3
trong những năm vừa qua, cộng với sự tác động của lợi ích kinh tế đã khiến
không ít người có trách nhiệm thờ cúng không những không làm tròn nghĩa
vụ của mình mà còn gây ra nhiều việc mâu thuẫn, tranh chấp giữa những
người thừa kế trong gia đình.
Nhận thức được sự phức tạp của vấn đề này, Nhà nước ta đã có những
quy định tương đối cụ thể về di sản dùng vào việc thờ cúng, tuy nhiên do sự
cũng như thực tiễn áp dụng vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng được quy
định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến
nghị mang tính giải pháp để ngày càng hoàn thiện hơn những quy định về nội
dung này trong pháp luật Việt Nam hiện hành.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, nội dung của luận văn tập trung nghiên cứu
chuyên sâu những quy định của pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng
cũng như liên hệ qua các thời kỳ của đất nước để thấy rõ hơn vấn đề này dựa
trên cơ sở những tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đáp ứng mục đích nghiên cứu đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật. Đặc biệt là quan điểm của
Đảng và Nhà nước về thừa kế trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập. Để
hoàn thiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp: phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương
pháp khoa học chuyên ngành khác như: phương pháp logíc, phương pháp
tổng hợp, phương pháp phân tích và các phương pháp khoa học khác để giải
quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra. Ngoài ra, chúng tôi còn chọn lọc một
số vụ án giải quyết tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng để bình luận
nhằm giúp việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn. 5
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích: Việc nghiên cứu đề tài không ngoài mục đích học hỏi, rèn
luyện, nâng cao trình độ của bản thân. Đồng thời thông qua đề tài, chúng tôi
hy vọng có thể đóng góp một vài ý kiến giúp giải quyết những bất hợp lý còn
tồn tại trong lý luận và thực tiễn của vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
vào việc thờ cúng
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp
và kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp luật Việt Nam về di sản
dùng vào việc thờ cúng 7
Chương 1
MÔ
̣
T SÔ
́
VÂ
́
N ĐÊ
̀
CHUNG VỀ DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THƠ
̀
CU
́
NG
1.1. Khái niệm di chúc, quyền của người lập di chúc
1.1.1. Khái niệm di chúc
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của cá nhân để định đoạt tài sản
của mình khi còn sống cho người khác sau khi chết.
Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Di chúc như sau:
quyền đối với các tài sản mà người sau này sẽ để lại (nếu có để lại). Người
thừa kế theo di chúc không thể đòi hỏi sự bảo đảm quyền lợi gắn liền với tư
cách đó và thậm chí, cả sự bảo đảm cho việc duy trì tư cách đó, vì di chúc có
thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ theo ý chí của người lập ra nó.
- Di chúc có thể bị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ. Quyền này
được chính thức thừa nhận trong điều 662 Bộ luật dân sự năm 2005. Đó là hệ
quả của một trong những đặc điểm cơ bản của di chúc: sự bày tỏ ý chí sau
cùng của người có di sản. Trừ khi trút hơi thở cuối cùng, người có di sản có
quyền sửa đổi những dự tính của mình, những quyết định của mình mà chưa
có hiệu lực và chưa được công bố. Tuy nhiên, trong trường hợp vợ và chồng
lập di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế và hủy bỏ di chúc chỉ có thể
được thực hiện với sự đồng ý của cả hai người. Nếu một người đã chết, thì
người còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc có liên quan đến phần tài
sản của mình và nhất là không thể thay thế hoặc hủy bỏ di chúc chung được
nữa (theo điều 664 Bộ luật dân sự năm 2005).
Quy định trên có ý nghĩa pháp lý và thực tiễn như sau:
- Người lập di chúc không bị ràng buộc bởi di chúc đã lập ra. Người đó
có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di chúc khác
lập ra sau này. 9
- Không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định
là người thừa kế theo di chúc, trong thời gian người lập di chúc còn sống.
- Sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế
theo di chúc đó sẽ bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của
người lập di chúc để lại. Đây là hành vi pháp lý đơn phương của người thừa
kế nhận di sản theo di chúc.
Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho
họ hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Nếu trong di chúc có nhiều
tại sao. Nếu người lập di chúc không phân định rõ phần quyền của mỗi người
thừa kế, thì những người thừa kế được hưởng phần tài sản ngang nhau trong
khối di sản thừa kế.
3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
Dành một phần tài sản trong khối di sản để tặng cho người khác sau khi
người lập ra di chúc chết. Tài sản tặng cho này gọi là vật di tặng.
Người lập di chúc còn có thể dành một phần tài sản trong khối di sản để
dùng vào việc thờ cúng (vấn đề này được đề cập ở phần sau).
4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;
Người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cụ thể cho người thừa kế
(như giao cho người thừa kế phải trả một khoảng nợ của Nhà nước mà người
để lại di sản chưa trả, ). Người lập di chúc có thể giao nghĩa vụ cho một
người mà không cho họ hưởng di sản. Trường hợp này không bắt buộc người
được giao nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó. Nếu giao nghĩa vụ và cho
hưởng di sản thì người được giao nghĩa vụ đó phải thực hiện nghĩa vụ trong
phạm vi di sản được thừa kế.
5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản;
Để đảm bảo di chúc không bị thất lạc, nhất là sau khi người lập di chúc
chết, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định người lập di chúc có quyền chỉ định
trong di chúc người giữ di chúc đó. Thông thường, sau khi người để lại di sản 11
chết một thời gian, di sản mới được phân chia cho những người thừa kế. Để
giữ gìn tài sản không bị hư hỏng, để đề phòng trường hợp tài sản có thể bị
người khác tẩu tán, chiếm đoạt thì người lập di chúc có thể chỉ định trong di
chúc người quản lý di sản sau khi người lập di chúc chết và cũng có thể chỉ
định cả người phân chia di sản. Việc chỉ định người giữ di chúc, người quản
lý di sản, người phân chia di sản là hoàn toàn theo ý chí tự nguyện của người
lập di chúc. Người lập di chúc có thể cử một người vừa giữ di chúc, đồng thời
quyết theo quy định của pháp luật. Việc hủy bỏ di chúc có thể được thực hiện
dưới các hình thức sau:
+ Người lập di chúc tự tiêu hủy tất cả di chúc đã lập.
+ Người lập di chúc lập một di chúc khác tuyên bố hủy di chúc đã lập
(văn bản hủy bỏ di chúc chỉ cần thiết khi người lập di chúc yêu cầu cơ quan
Nhà nước, công bố di chúc).
1.2. Khái niệm di sa
̉
n
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Điều 634. Di sản: Di sản bao gồm
tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với
người khác.
Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, di sản là
"Tài sản mà người đã chết để lại, bao gồm:
1. Tài sản mà người đã chết chủ sở hữu, gồm có:
a. Tài sản riêng như: tư liệu sinh hoạt (ví dụ: Quần áo, chăn màn,
giường tủ, máy thu thanh, máy thu hình, vv.); tư liệu sản xuất, vốn sản xuất
hoặc kinh doanh hợp pháp; nhà ở; tài sản được thừa kế, tặng cho; tiền mua
trái phiếu; tiền tiết kiệm gửi ngân hàng hoặc quỹ tín dụng; các thu nhập khác
(ví dụ: Tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền thưởng, tiền trúng xổ số, vv.).
b. Phần tài sản của người đã chết trong khối tài sản chung với người
khác (ví dụ: Sở hữu chung một ngôi nhà, một cơ sở sản xuất, kinh doanh, vv.). 13
c. Những quyền về tài sản do người chết để lại (ví dụ: Đòi nợ, đòi tài
sản cho thuê hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản đã cầm cố, đòi bồi thường thiệt
hại trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng, ).
2. Quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật (X. Thừa kế
quyền sử dụng đất)".
thành những thành tố quan trọng của một số tôn giáo; thẩm thấu vào các loại
hình tín ngưỡng dân gian. Ở nước ta, dù là tín đồ của tôn giáo nào, Cao đài
hay Hòa Hảo, Phật giáo hay Khổng giáo, kể cả Công giáo - đã là người dân
gốc Việt - họ đều hướng về vùng đất Tổ, đều coi trọng người sinh thành và
dưỡng dục mình nên người. Thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam là một tín ngưỡng
có sức sống lâu bền, có gốc rễ sâu xa trong cộng đồng người Việt. Do đó, Thờ
cúng tổ tiên là hiện tượng xã hội có tính phổ biến. Một thời gian không ngắn,
tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên chưa được hiểu đầy đủ, nên ứng xử với loại hình
tín ngưỡng này chưa thật thỏa đáng. Cho dù có thời kỳ lịch sử, ai đó đã từng
phê phán, thậm chí còn liệt kê thờ cúng tổ tiên vào loại “mê tín dị đoan” đi
nữa thì cho đến đầu thế kỷ XXI, thờ cúng tổ tiên lại trỗi dậy. Điều đó nói lên
sức sống trường tồn của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong lòng dân tộc. Cùng
với sự đổi mới tư duy về tôn giáo nói chung, gần đây thờ cúng tổ tiên được xã
hội nhìn nhận, đánh giá theo quan điểm mới. Trong Nghị quyết số 25-NQ/TW
ngày 12/03/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, có ghi: "Giữ gìn và
phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với Tổ quốc và nhân dân”.
Tuy nhiên, khái niệm thờ cúng Tổ tiên đang còn nhiều ý kiến khác
nhau. Một số người cho rằng, thờ cúng tổ tiên là một phong tục, là luật
tục. Phan Kế Bính coi mỗi nước có phong tục riêng. Phong tục ấy ban đầu
thuộc một vài người rồi bắt chước nhau thành thói quen… dần dần tiêm
nhiễm thành tục. Cụ khẳng định: "Xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là 15
thành kính, ấy cũng là một lòng bất vong bản, ấy cũng là một việc nghĩa của
người. Cây có gốc mới nở ngành xanh ngọn, nước có nguồn mới bề rộng sông
sâu" [Theo http://truongtoc.vn/info/Ban-sac-van-hoa-Viet/Khai-niem-va-gia-
tri-cua-tho-cung-to-tien-145/]. Toan Ánh và một số tác giả khác khẳng định
thờ cúng tổ tiên là một phong tục [Theo http://truongtoc.vn/info/Ban-sac-van-
thuỷ mang tính sơ khai. GS. Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, thờ cúng tổ tiên ở
Việt Nam nằm trong hệ thống tôn giáo dân tộc. Ông còn khẳng định, đó chính
là một tôn giáo chính thống của người Việt Nam, tuy nó: “Không có tổ chức
chặt chẽ, nhưng dường như toàn bộ cộng đồng quan niệm tiến hành các lễ
thức giống nhau và là tâm linh chủ yếu của cộng đồng là lực hút các yếu tố
ngoại sinh hay là những yếu tố ra nhập vào các tôn giáo khác”. Cùng quan
điểm này, còn có Gôxe Lanh (người Pháp) đầu thế kỷ XX nhận xét: “Thờ
cúng tổ tiên là tôn giáo thân thiết nhất với người Việt” [Theo
http://truongtoc.vn/info/Ban-sac-van-hoa-Viet/Khai-niem-va-gia-tri-cua-tho-
cung-to-tien-145/]. Có tác giả khẳng định thờ cúng tổ tiên: “Đích thực là một
tôn giáo bản địa”. Thậm chí có học giả khuyên nên coi Thờ cúng tổ tiên là
quốc đạo(!). Cũng có người tỏ ra thận trọng hơn khi nhận xét: “Đạo gốc ở
nước ta có vẻ là Thờ cúng tổ tiên, về mặt tôn giáo học thì còn phải tranh luận,
nhưng về thực tiễn thì rất rõ nét”.
Cũng có người còn phân vân mà coi thờ cúng tổ tiên: “Gần như một
thứ tôn giáo”. Nhưng cũng lại có ý kiến cho rằng: “Có thể coi thờ cúng tổ tiên
là một phong tục đã được tôn giáo hóa, hoặc những hành vi có tính chất tôn
giáo được thế tục hóa để trở thành phong tục”. Nhưng rồi tác giả lại phải dùng
thuật ngữ có tính thỏa hiệp là: “Hiện nay có một cách dùng, một thuật ngữ
mang tính chất “trung hòa”, đó là Đạo (nghĩa là con đường và cách thức) -
Đạo thờ tổ tiên”. GS. Phan Đại Doãn quan niệm thờ cúng tổ tiên như một tín
ngưỡng gắn liền với sự củng cố quan hệ họ hàng, gia đình. Không ít người 17
cho rằng thờ cúng tổ tiên không phải là tôn giáo mà là một loại hình tín
ngưỡng, hay tín ngưỡng dân gian. Quan điểm này được Viện Nghiên cứu Tôn
giáo và Tín ngưỡng (nay là Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng),
thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tán thành. Tác giả Huyền
Giang lý giải: “Từ xa xưa, thờ cúng tổ tiên rõ ràng là một tín ngưỡng sâu sắc
nhân dành một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng.
Di sản dùng vào việc thờ cúng dường như là một “đặc thù” của Việt
Nam vì trong nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới không thấy xuất hiện chế
định này. Theo một tác giả: “trong các quy tắc cơ bản của pháp luật thừa kế
cổ điển Việt Nam, ta đã biết, có quy tắc về tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên và chữ
hiếu”. “Theo cổ Luật Việt Nam, thì người có của mà chết vô hậu, thì vợ hay
chồng, hoặc anh em có bổn phận phải lập hương hỏa để cúng giỗ người ấy”.
Chẳng hạn Bộ luật Hồng Đức quy định tại Điều 388 “cha mẹ mất cả, có ruộng
đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em, chị em tự chia nhau, thì lấy 1/20 số
ruộng đất làm phần hương hỏa”. Tương tự, “Thiện chính thư đoạn 12 và 13 nói
người chết mà không còn thừa kế thì giao một phần di sản cho trong họ cày cấy
để giỗ chạp”. Tính “bắt buộc” dành một phần tài sản cho việc thờ cúng đã bị
mất đi trong pháp luật cận và hiện đại và việc này dường như là do sự ảnh
hưởng của pháp luật phương tây. Tại Điều 83, Luật Gia Long quy định: “bó
buộc phải để dành một phần di sản của người quá cố để lập làm hương hỏa”.
Tuy nhiên, Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trung kỳ (hai Bộ luật được
hình thành với sự tác động của Pháp) đã bãi bỏ nguyên tắc bó buộc phải lập
hương hỏa cho người chết vô hậu”. Ở hai Bộ luật này chúng ta thấy nêu: “khi
không có con cháu trai không một người nào bó buộc phải lập tự để thờ cúng
cho mình cả”. Các văn bản về sau cũng không bó buộc phải lập hương hỏa
cho người chết. Trong pháp lệnh thừa kế năm 1990 cũng như trong hai Bộ
luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đều có quy định người lập 19
di chúc có quyền dành tài sản của mình dùng vào việc thờ cúng. Theo khoản 3,
Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005 (tương tự Điều 651 Bộ luật dân sự năm
1995), người lập di chúc có quyền: “Dành một phần tài sản trong khối di sản
để di tặng, thờ cúng” và theo Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Điều 21: “nếu
người lập di chúc có để di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản đó được coi
thì đối với những điền sản thuộc tài sản riêng của người chồng được chia làm hai
phần bằng nhau: Một phần dành cho gia đình bên chồng để lo việc tế lễ; phần
còn lại dành cho vợ để phụng dưỡng một đời mà không được quyền sở hữu,
Đối với tài sản chung do hai vợ chồng tạo dựng, nếu một trong hai
người chết trước sẽ được chia thành hai phần bằng nhau, một phần dành cho
người vợ (hoặc chồng) để làm của riêng; phần còn lại chia làm ba, một phần
để gia đình người chết lo tế lễ, hai phần dành cho người còn sống phụng
dưỡng một đời
Đối với nhà cửa thì chia làm đôi, người còn sống được dùng một nửa
làm chỗ ở, một nửa để cho gia đình người chết làm nơi tế lễ
Ngoài ra, đối với những tài sản được coi là của nổi, nếu một trong hai
vợ chồng chết trước thì số tài sản đó dùng vào việc tế lễ và thực hiện tục trả
nợ riêng. Số còn lại thì để lại cho người còn sống hưởng dụng.
- Trường hợp hai vợ chồng có con chung:
Pháp luật thời Lê quy định: Khi bố mẹ chết con cái được hưởng thừa kế
toàn bộ tài sản và được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất. Quyền thừa kế tuyệt
đối này được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị (theo
các Điều 377, Điều 378 Quốc triều Hình luật).
Giữa các con với nhau, việc phân chia tài sản thừa kế được pháp luật
thời Lê quy định như sau:
Nếu bố mẹ không còn, thì phải trích 1/20 số ruộng đất để làm ruộng
hương hỏa thờ cúng cha, mẹ, tổ tiên. Phần ruộng này về nguyên tắc được giao
cho người con trai trưởng. Nếu con trai trưởng chết trước mà chưa có con thì
đất này giao cho con trai thứ. Trường hợp gia đình không có con trai thì ruộng
đất hương hỏa có thể giao cho con gái trưởng (các Điều 388, 389, 390 và
Điều 391 Quốc triều Hình luật). 21
Ngoài ra, đối với những tài sản được coi là của nổi, nếu một trong hai