đại diện giữa vợ và chồng theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành. - Pdf 22



1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HẠNH
ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌc
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên HÀ NỘI - 2012
3 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn cha từng đợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

1.1.2. Bản chất và các đặc điểm pháp lý về đại diện giữa vợ và chồng

12
1.1.2.1.

Khái niệm chung về đại diện giữa vợ và chồng 12
1.1.2.2.

Đặc điểm chung của đại diện giữa vợ và chồng trong tương
quan với đại diện
15
1.2. Sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam điều chỉnh về quan hệ
đại diện giữa vợ và chồng.
26
1.2.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 26
1.2.2. Giai đoạn từ 1945 đến nay 28
Chương 2:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN
HỆ ĐẠI DIỆN GIỮA VỢ CHỒNG Ở VIỆT NAM

32
2.1. Thực trạng pháp luật hiện hành về đại diện theo pháp luật
giữa vợ và chồng và thực tiễn áp dụng
32
2.1.1. Đại diện giữa vợ chồng khi một bên vợ, chồng bị mất năng
lực hành vi dân sự
32 5

57
2.2.1.1.

Chủ thể đại diện trong quan hệ đại diện giữa vợ và chồng 57
2.2.1.2.

Phạm vi đại diện trong đại diện theo ủy quyền giữa vợ
và chồng
60
2.2.1.3.

Hình thức văn bản ủy quyền của đại diện giữa vợ và chồng 61
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng với tư cách là người đại
diện theo ủy quyền
65
2.2.2.1.

Vợ, chồng đại diện cho nhau trong việc thực hiện các giao
dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, tài sản là
nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc chung tài sản để đầu
tư kinh doanh
65
2.2.2.2.

Vợ, chồng đại diện cho nhau trong việc thực hiện các giao
dịch liên quan đến tài sản riêng của một bên vợ, chồng
74 6

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cũng như các nước khác, tại Việt Nam đại diện là một chế định pháp
luật, được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm hỗ trợ việc thực
hiện năng lực chủ thể trong các quan hệ pháp luật nói chung và để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, của những người bị hạn
chế, mất hoặc không có năng lực hành vi dân sự nói riêng. Đại diện không
những bảo vệ cho cá nhân mà còn liên quan đến pháp nhân.
Trên cơ sở quyền bình đẳng nam - nữ, quyền tự do của công dân, đảm
bảo các quyền và lợi ích của những chủ thể pháp luật ngay cả khi họ không
thể trực tiếp tham gia được các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, lao
động…và các quan hệ xã hội khác. Xuất phát từ nguyên tắc tự do cam kết,
thỏa thuận trong luật dân sự trong khuôn khổ pháp luật mà các cá nhân có thể
tự do thỏa thuận giúp đỡ nhau và thỏa mãn lợi ích của nhau.
Theo đó quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được pháp luật công nhận
và bảo vệ, vợ chồng đều có quyền đại diện cho nhau và đại diện cho gia đình
theo pháp luật và theo ủy quyền. Người vợ trong gia đình có quyền đại diện
trong các quan hệ hôn nhân và gia đình không bị phân biệt với người chồng.
Việc vợ, chồng đại diện cho nhau và cho gia đình trong các giao dịch dân sự
ngày càng phổ biến, đa dạng trong các hoạt động kinh doanh, mua bán, trao
đổi, cho vay, bảo lãnh…liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, hoặc có
thể liên quan đến tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
Xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của vợ, chồng thì việc đặt ra vấn đề đại diện là vô cùng cần
thiết, như vậy tránh việc các giao lưu dân sự giữa vợ chồng với người thứ ba
bị gián đoạn, hạn chế, tránh sự kìm hãm sự phát triển chung của xã hội. 8
9

nhắc đến như một nội dung nhỏ trong các bài báo, hay các công trình nghiên
cứu khác về quan hệ của vợ chồng như: Nguyễn Ngọc Điện: Bình luận khoa học
Luật Hôn nhân và gia đình, tập II: "Các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng",
Nhà xuất bản Trẻ, 2004, đã khái quát lên những vấn đề chung nhất về đại diện
giữa vợ và chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Cũng về vấn
đề đại diện giữa vợ và chồng thì có những thắc mắc có liên quan có trong mục
tư vấn pháp luật của các báo và tạp chí như Nguyễn Minh Hằng: "Đại diện
theo ủy quyền từ pháp luật nội dung đến tố tụng dân sự", Tạp chí nghiên cứu
lập pháp, số 5, 2005; hay trên các diễn đàn pháp luật: diendanphapluat.vn như
"thay đổi cổ đông công ty giữa vợ và chồng"… nhằm để giải quyết các vấn đề
trong thực tế xảy ra của các vụ việc hay giao dịch dân sự có liên quan đến tài
sản của vợ chồng, đến phạm vi đại diện giữa vợ và chồng, vượt quá phạm vi
đại diện của vợ chồng… Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Trường
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự của Viện Đại học Mở Hà Nội…
còn mang tính giới thiệu và phân tích hạn chế. Tất cả các nội dung bàn về đại
diện giữa vợ chồng đều chỉ là những giải thích trong các vụ việc cụ thể mà
chưa có sự khái quát, hơn nữa nó được nằm rải rác ở nhiều báo, tạp chí khác
nhau gây khó khăn cho việc thực hiện cũng như áp dụng pháp luật.
Như vậy đề tài đại diện giữa vợ và chồng chưa được đề cập đến một
cách toàn diện và đầy đủ trong một công trình chuyên khảo nào ở nước ta,
hơn thế nữa trước thực tế các vụ việc cũng như tranh chấp liên quan đến đại
diện giữa vợ và chồng ngày càng nhiều và phức tạp, cộng với khả năng đáp
ứng giải quyết của các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình còn hạn chế,
nhiều cách hiểu khác nhau trong một quy định pháp luật. Bởi vậy việc nghiên
cứu vấn đề này một cách có hệ thống và toàn diện là việc cần thiết, có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn. Bên cạnh đó việc nghiên cứu vấn đề đại diện của một

+ Nghiên cứu việc áp dụng các quy định pháp luật về đại diện giữa vợ
và chồng trong thực tiễn và phát hiện những vướng mắc, bất cập trong khi áp
dụng pháp luật. 11

+ Từ những nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về vấn đề đại diện giữa vợ và chồng ở nước ta để tăng cường hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật trong vấn đề này.
- Nhiệm vụ
+ Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật hiện hành về đại diện giữa vợ
và chồng.
+ Đánh giá thực trạng của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
các quy định của pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng.
+ Đề xuất giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp
luật về chế độ đại diện giữa vợ và chồng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Phương pháp cụ thể là: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, kết hợp
với các phương pháp khác như phương pháp lịch sử, thống kê, lôgic…
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
- Về lý luận làm rõ và có hệ thống hơn cơ sở lý luận của chế định đại
diện giữa vợ và chồng.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật về đại diện giữa vợ và
chồng, đề xuất những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về đại
diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam.
- Là công trình khoa học có hệ thống, là tài liệu tham khảo cho giáo
viên, sinh viên tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học cho cán bộ thực

hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự… thì người đại diện
theo pháp luật của những người này là sự đảm bảo cần thiết để cho việc xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự của người được đại diện phù hợp với quy định
của pháp luật. Đối với các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà quyền lợi
có tính chất cộng đồng (hộ gia đình, tổ hợp tác, pháp nhân) thì chế định đại
diện là yếu tố không thể thiếu để các chủ thể này tham gia vào giao dịch dân
sự bởi suy cho cùng thì việc tham gia giao dịch dân sự vẫn phải thông qua
hành vi của con người với sự nhận thức, làm chủ được hành vi của họ.
Vậy đại diện là gì?
Đại diện theo cách hiểu thông thường từ trước tới nay là một hành
động, một việc làm của một người mà không nhân danh mình, không nhân
danh chính người thực hiện công việc, hành động đó. Các hành vi của một cá
nhân hay tổ chức không nhân danh mình đang diễn ra hàng ngày trong xã hội
hiện đại như một nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Bởi vì, trên thực tế cũng như
hoàn cảnh xã hội thì không phải lúc nào bản thân mỗi cá nhân cũng có khả 14

năng và điều kiện để thực hiện một hay một số hành vi nhất định để thực hiện
một công việc nào đó.
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt thì "Đại diện là sự thay mặt (cho cá
nhân, tập thể) ví dụ: đại diện cho nhà trai phát biểu trước nhà gái trong lễ ăn
hỏi, đại diện cho anh em bè bạn đến chúc mừng trong một dịp nào đó; hay
còn có nghĩa là người, tổ chức thay mặt ví dụ như: cơ quan cử đại diện ở
nước ngoài" [35, tr. 279].
Theo cuốn Từ điển Luật học, thì đại diện là "việc một người, một cơ
quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm
quyền đại diện" [36, tr. 225].
Ta thấy rằng, trong quan hệ pháp luật về đại diện thì chủ thể của quan

diện cũng có thể thỏa thuận và trong một số trường hợp thì quyền đại diện sẽ
là bắt buộc theo quy định của pháp luật. Hoạt động đại diện làm chấm dứt tư
cách chủ thể của chủ thể được đại diện trong giao dịch dân sự và chỉ trong
phạm vi ủy quyền hoặc theo quy định của pháp luật với mục đích vì lợi ích
của người được đại diện, phát sinh tư cách chủ thể của người đại diện trong
giao dịch dân sự với một bên chủ thể còn lại của giao dịch. Người đại diện
trong giao dịch dân sự còn có thể là người có thẩm quyền, là người mà pháp
luật dân sự cho phép đối với chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự mà
quyền lợi có tính chất cộng đồng như: pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các
tổ chức này do tính chất của chủ thể đều hoạt động thông qua hành vi của
người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó. Đại diện có ý nghĩa rất lớn
trong mọi mặt của đời sống xã hội và trong nhiều mối quan hệ, tuy nhiên, giới
hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ đề cập tới đại diện trong lĩnh
vực dân sự, hôn nhân và gia đình chứ không đề cập đến các lĩnh vực khác như
đại diện trong hành chính, ngoại giao…
Như vậy đại diện có thể được tiếp cận với các ý nghĩa sau:
- Là một tiểu chế định pháp luật dân sự - hôn nhân và gia đình.
Chế định pháp luật về đại diện ở đây có thể hiểu theo nghĩa hẹp đó là
tổng thể các quy phạm pháp luật dân sự và hôn nhân và gia đình điều chỉnh
nhóm quan hệ về đại diện giữa những chủ thế pháp luật nhất định, cụ thể. Các 16

cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ đại diện bắt buộc phải tuân thủ các quy
định pháp luật về đại diện. Các quy phạm pháp luật quy định về quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự về đại diện
cũng như vợ và chồng đại diện cho nhau khi tham gia giao dịch dân sự, hôn
nhân và gia đình. Các quy phạm pháp luật này nằm trong Luật Dân sự, Luật
Hôn nhân và gia đình điều chỉnh quan hệ đại diện giữa vợ và chồng.

- Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng đảm bảo quyền dân sự, đảm bảo
quyền tự do của công dân, đảm bảo các quyền và lợi ích của họ ngay cả khi
họ không thể trực tiếp tham gia được các giao dịch dân sự, kinh tế và các
quan hệ ngoài xã hội. Đại diện theo đó tồn tại và phát triển để đảm bảo quyền
dân sự của chủ thế quan hệ pháp luật được thực hiện đầy đủ, không bị gián
đoạn bởi các yếu tố khách quan, bất khả kháng.
- Xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận của
pháp luật dân sự. Trong khuôn khổ pháp luật các cá nhân có thể tự do thỏa
thuận giúp đỡ nhau và thỏa mãn lợi ích của nhau. Các chủ thể tham gia quan
hệ đại diện hoàn toàn độc lập với nhau về tư cách pháp lý. Các chủ thể có
quyền thể hiện ý chí của mình trong việc có thực hiện hay không việc đại
diện. Tuy nhiên đại diện không thể làm thay cho người được đại diện các công
việc mang tính sinh hoạt đời thường như ăn, uống…mà các công việc này buộc
phải có tính chất pháp lý như giao kết hợp đồng, vay tiền…Tính độc lập của
chủ thể thể hiện rõ ở việc chủ thể có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia
vào quan hệ đại diện. Tự do ý chí của cá nhân trong xác lập, thực hiện và chấm
dứt giao dịch. Ở đây khẳng định và làm rõ thêm tính độc lập của các chủ thể
trong quan hệ đại diện. Các chủ thể có quyền tự do thể hiện ý chí của mình
đối với việc xác lập hay không xác lập quan hệ đại diện. tuy nhiên sự tự do ý
chí này sẽ bị hạn chế trong những trường hợp nhất định khi pháp luật buộc
những người có liên quan phải thực hiện quan hệ đại diện. Hơn nữa sự tự do
này cũng không thể tùy tiện mà buộc phải tuân theo quy định của pháp luật.
- Xuất phát từ nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự: Năng lực chịu
trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia quan hệ đại diện đảm bảo việc thực 18

hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình, và sẽ phải tự chịu trách nhiệm về việc
thực hiện không đúng và không đầy đủ các nghĩa vụ đó. Không những vậy

xây dựng một gia đình. Gia đình chính kết quả của việc vợ và chồng xây dựng
nên với những mục đích của nó đó là xây dựng mối quan hệ bền vững trong
gia đình, giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái. Vợ và chồng cùng nhau
tạo dựng và thực hiện các chức năng của gia đình đảm bảo thỏa mãn nhu cầu
tinh thần và vật chất của đôi bên: kinh tế, sinh đẻ và giáo dục con cái. Tuy
nhiên việc kết hôn này phải được pháp luật thừa nhận tức việc kết hôn này
không vi phạm các quy định mà pháp luật cấm.
Khi hai người đã được công nhận là vợ chồng sẽ phát sinh một quan
hệ đặc biệt cả về mặt tình cảm, luật pháp và xã hội. Ý chí của hai người nhiều
khi sẽ là một trong một số quan hệ pháp luật nhất định, quyết định của người
này phải có sự thống nhất của người kia và ngược lại, tài sản cũng có thể được
xác định là tài sản chung. Hai người sẽ thay đổi địa vị pháp lý trong một số
trường hợp, đặc biệt nhân thân của vợ và chồng sẽ bị thay đổi. Để thực hiện các
chức năng của gia đình thì vợ, chồng cùng bàn bạc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho
nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp
vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và
khả năng của mỗi người… Mặc dù mang trong quan hệ vợ chồng tính chất đặc
biệt này nhưng bên cạnh đó hai người vẫn là hai cá thể riêng biệt, vẫn có
những quan hệ mang tính cá nhân tồn tại bên cạnh đời sống vợ chồng nên tính
chất phức tạp càng nâng cao. Khi hai người có quan hệ vợ chồng thì phát sinh
những quan hệ mới nhưng không hẳn chấm dứt các quan hệ cũ, bởi vậy pháp
luật không thể không quan tâm, tôn trọng những quan hệ đặc biệt này.
Trong các chức năng của gia đình đặc biệt là chức năng phát triển
kinh tế luôn được cả vợ và chồng quan tâm và đó chính là thước đo cho thấy
thái độ xây dựng và gìn giữ trong gia đình của vợ và chồng. Việc phát triển
kinh tế luôn đi kèm với sử dụng và gìn giữ nó. Bên cạnh đó với thiên chức
của người phụ nữ thì việc không phát triển được kinh tế mà thay vào đó là
quản lý và sử dụng hợp lý, chi tiêu tiết kiệm cũng như lao động trong gia đình 21

1.1.2.2. Đặc điểm chung của đại diện giữa vợ và chồng trong tương
quan với đại diện
Thứ nhất, tư cách chủ thể trong đại diện giữa vợ và chồng trong tương
quan với đại diện nói chung:
Trong đại diện nói chung thì người đại diện được thực hiện các công
việc không nhân danh mình, có nghĩa là mọi hành động của người đại diện trong
khi thực hiện các giao dịch dân sự đều làm thay, làm hộ người được đại diện.
Người được đại diện lúc này có thể có mặt hay không có mặt khi giao
dịch diễn ra nhưng về mặt pháp lý thì người được đại diện lúc này không
được phép thực hiện bất cứ một hành vi pháp lý cụ thể nào nhân danh mình,
và lúc này ý chí của người được đại diện cũng không được đề cập đến. Vì khi
đó người đại diện sẽ chính là chủ thể trong giao dịch mà không cần đến người
được đại diện nữa. Trong đại diện theo ủy quyền thì người đại diện của người
được ủy quyền sẽ thực hiện mọi quyền năng của người được đại diện trong
phạm vi đã ký kết hợp đồng ủy quyền nhưng bản chất thì hợp đồng hay giao
dịch được ký giữa người được đại diện với bên thứ ba chứ không phải của
người đại diện. Người đại diện theo ủy quyền có quyền thể hiện ý chí chủ thể
của mình là muốn hay không muốn làm người đại diện. Tức trong điều kiện
nhất định thì chủ thể này có quyền từ chối nhận đại diện. Người đại diện theo
ủy quyền chỉ được thực hiện những công việc theo ủy quyền. Cũng như vậy
đối với đại diện theo pháp luật thì người đại diện cũng thực hiện thay tư cách
chủ thể của người được đại diện nhưng tư cách chủ thể bị hạn chế hơn. Nếu
rơi vào các điều kiện pháp luật quy định thì họ không có quyền chối từ tư
cách đại diện của mình. Và khi đó người đại diện sẽ bắt buộc phải thực hiện
nghĩa vụ của mình. Người đại diện có toàn quyền quyết định thay cho người
được đại diện trong mọi giao dịch liên quan đến người được đại diện. Như

bạch. Ý chí chủ thể của người đại diện nhiều khi là thống nhất với ý chí của
người được đại diện. Thực chất quan hệ vợ chồng đã là điều kiện đảm bảo tốt
nhất cho tư cách chủ thể trong giao dịch dân sự đối với bên thứ ba. Bởi vì khi
tham gia giao dịch trong đại diện thông thường người đại diện phải chứng 23

minh tư cách chủ thể của mình nhưng khi vợ và chồng đại diện cho nhau
trong giao dịch thì nhiều khi không nhất thiết phải làm vậy. Người vợ và
người chồng đã trở thành những chủ thể đặc biệt trong quan hệ đại diện, bởi
giữa người đại diện và người được đại diện thống nhất ý chí khi giao dịch. Cụ
thể là khi người chồng là đại diện cho vợ mình và ngược lại thì về bản chất là
thay mặt vợ để thực hiện công việc, hay làm hộ vợ mình nhưng nhiều khi đó
lại là công việc chính người chồng phải làm, phải thực hiện. Có những trường
hợp vợ chồng đại diện cho nhau thì không chỉ nhân danh cho người đại diện
mà nhiều khi còn nhân danh và thể hiện ý chí của chính bản thân mình. Như
vậy tư cách chủ thể trong đại diện giữa vợ và chồng trong một số trường hợp
là thống nhất, trùng khớp với nhau. Bên cạnh đó trong đại diện giữa vợ và
chồng thì tư cách chủ thể của vợ và chồng trong giao dịch khi một người tham
gia quan hệ đại diện thì không những là vợ chồng đại diện cho nhau mà nhiều
khi vợ chồng còn là người đại diện cho cả gia đình. Gia đình ở đây ngoài vợ
và chồng thì còn con cái nên tư cách chủ thể trong đại diện giữa vợ và chồng
dường như nặng nề hơn so với đại diện nói chung, có ảnh hưởng không nhỏ
đến những quyết định của chủ thể khi giao dịch. Đối với đại diện theo pháp
luật thì trong đại diện nói chung và đại diện giữa vợ và chồng đều tuân theo
các quy định của pháp luật. Tư cách chủ thể của người đại diện và người được
đại diện trong những trường hợp nhất định được pháp luật quy định rõ ràng
nhưng đối với đại diện giữa vợ và chồng có vẻ mờ nhạt hơn. Chính bởi tư
cách chủ thể của hai đối tượng này nhiều khi trộn lẫn vào nhau nên việc pháp

thiếu đặc biệt đại diện trong hợp đồng ủy quyền. Việc đại diện theo ủy quyền
chỉ có thể thực hiện khi mà người đại diện có ý chí muốn đại diện, tức sự tự
do ý chí sẽ ràng buộc người đại diện và người được đại diện trong hợp đồng
ủy quyền để xác lập phạm vi đại diện trong giao dịch. Cũng giống như hợp
đồng trong đại diện theo ủy quyền cần sự thể hiện ý chí của bên nhận ủy
quyền cũng như sự đồng ý của bên ủy quyền. Sẽ là không thỏa đáng và hợp
đồng ủy quyền có thể bị vô hiệu khi mà một trong hai bên không có sự tự do ý
chí và bị rơi vào các trường hợp như: lừa dối, nhầm lẫn, ép buộc Tùy từng
trường hợp cụ thể hợp đồng được ký kết bởi người đại diện và người được đại 25

diện sẽ vô hiệu vì không có tự do ý chí trong hợp đồng đại diện. Như chúng ta
đã biết một người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình, cho nên khi sự
tự do ý chí bị vi phạm thì sẽ không có hợp đồng ủy quyền và cũng không phải
gánh chịu hậu quả từ những gì mà người đại diện thực hiện.
Bên cạnh việc tự do ý chí để đại diện được thực hiện thì nhất thiết hai
bên phải có sự tin cậy lẫn nhau. Người ta sẽ không bao giờ giao cho một
người mà mình không tin cậy thay mặt mình thực hiện những hành vi mà hậu
quả của nó có thể là thiệt hại lớn về tài sản, uy tín, danh dự… của mình. Sự
tin cậy là do những hành vi mà người đại diện thực hiện sẽ mang lại cho
người được đại diện một sự ràng buộc nhất định vào những hậu quả được xác
lập bởi những hành vi đó. Hành vi giao kết các hợp đồng của người đại diện
trong phạm vi ủy quyền, cũng chính là hành vi mà người được đại diện xác
lập, hệ quả từ việc giao kết hợp đồng hoàn toàn do người được đại diện gánh
chịu bởi vậy sự tin tưởng là phần không thể thiếu khi ta nói tới đại diện trong
giao kết hợp đồng. Điều này cũng hoàn toàn tự nhiên như chính bản chất của
mỗi sự việc, vì trong mỗi chúng ta sẽ không dễ dàng gì để cho một người
khác thực hiện những công việc nhân danh mình, khi mà mình không hoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status