Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM THỊ BÍCH PHƯỢNG

Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành
luËn v¨n th¹c sÜ LUẬT Hµ néi - 2006 1
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Phạm Thị Bích Phượng


12
1.1
Khái niệm thừa kế
12
1.2
Khái niệm thừa kế thế vị và đặc điểm của thừa kế thế vị
16
1.2.1
Khái niệm thừa kế thế vị
16
1.2.2
Đặc điểm của thừa kế thế vị
19
1.3
Sự hình thành và phát triển của thừa kế thế vị qua các
thời kỳ lịch sử
24
1.3.1
Giai đoạn trước năm 1945
24
1.3.2
Giai đoạn từ năm 1945 đến nay
25
-
Chương 2: Thừa kế thế vị và thực trạng giải quyết
những tranh chấp thừa kế thế vị theo quy định của pháp
luật hiện hành
32
2.1
Điều kiện và nguyên tắc hưởng thừa kế thế vị

mẹ kế
63
2.2.6
Mối quan hệ giữa quyền của các cháu, các chắt thừa kế
theo hàng của ông bà và các cụ với thừa kế thế vị
68
-
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
về thừa kế thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án
về tranh chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị
73
3.1
Những quan điểm chỉ đạo và sự cần thiết hoàn thiện
những quy định của pháp luật về thừa kế thế vị và nâng
cao hiệu quả xét xử của tòa án về các tranh chấp thừa kế
liên quan đến thừa kế thế vị
73
3.1.1
Những quan điểm chỉ đạo nhằm hoàn thiện pháp luật dân
sự
73
3.1.2
Sự cần thiết hoàn thiện những quy định của pháp luật về
thừa kế thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án về
các tranh chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị
75
3.2
Giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án về tranh
chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị
79

XHCN
Xã hội chủ nghĩa

5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Từ thời sơ khai của xã hội loài người, khi nhà nước chưa xuất hiện và
pháp luật chưa ra đời thì sở hữu và thừa kế tài sản đã xuất hiện như một tất
yếu khách quan. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, thừa kế tài sản
tồn tại, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa
trên cơ sở tư hữu về tài sản. Tuỳ thuộc vào mỗi chế độ xã hội khác nhau và
mức độ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ của một chế độ xã hội

phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt
động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả cao”. Ngày 22 tháng 02
năm 2006, Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương đã đề ra “Chương trình
trọng tâm công tác tư pháp năm 2006” với nội dung: “nghiên cứu đề xuất
các vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hoặc quy định mới theo tinh thần và nội
dung Chiến lược cải cách tư pháp vào Bộ luật dân sự”. “Đẩy nhanh tiến độ
và khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự”.
Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế và xã hội đã và đang nảy sinh
nhiều quan hệ dân sự mới, nhưng chưa được pháp luật điều chỉnh kịp thời
hoặc điều chỉnh chưa triệt để nên điều này đã gây không ít khó khăn cho cơ
quan xét xử. Hàng năm, có hàng ngàn vụ án tranh chấp về thừa kế mà toà án
nhân dân các cấp phải giải quyết nhưng pháp luật về thừa kế và những quy
định pháp luật liên quan đến thừa kế thế vị chưa thực sự đồng bộ và thống
nhất, vì thế nhiều vụ tranh chấp thừa kế đã phải xét xử nhiều lần mà tính
thuyết phục chưa cao. Tranh chấp về thừa kế là một loại tranh chấp phức
tạp, đặc biệt trong tình hình tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất diễn ra
gay gắt hiện nay, tòa án các cấp thường gặp nhiều khó khăn khi giải quyết.
Thực tiễn áp dụng các quy định về thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói
riêng cũng đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc, đòi hỏi khoa học luật dân sự phải 7
nghiên cứu, giải quyết; đặc biệt, xung quanh vấn đề thừa kế thế vị vẫn còn
nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Sự pháp điển hóa lần thứ hai luật dân sự Việt Nam với việc thông qua
BLDS năm 2005 của nước ta đang đặt ra một nhiệm vụ quan trọng và cấp
bách là: trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự hiện hành,
phải phân tích để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận về thừa
kế thế vị, từ đó đề ra các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu
quả xét xử của tòa án về những tranh chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện đã có công trình “Một số suy nghĩ về thừa kế
trong luật dân sự Việt Nam” (Nxb. Trẻ, 1999); Tiến sĩ Phùng Trung Tập đã
có các công trình: “ Về các quy định thừa kế theo pháp luật trong BLDS
năm 1995: Những vướng mắc và giải pháp hoàn thiện” (Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số tháng 6 năm 2003), “Thừa kế theo pháp luật của công dân
Việt Nam từ năm 1945 đến nay” (Nxb. Tư pháp, 2004), “Về việc cháu, chắt
nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng di sản thừa kế theo hàng của ông, bà nội
ngoại, các cụ nội ngoại.” (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24 năm 2005);…
Nhìn chung, những nghiên cứu về thừa kế có liên quan đến thừa kế
thế vị đều có ý nghĩa nhưng được đề cập trong điều kiện trước khi có BLDS
năm 2005. Thừa kế thế vị là một quan hệ pháp luật về thừa kế có tính nhạy
cảm, phức tạp, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện
và có hệ thống về quan hệ thừa kế này, và cũng chưa có sự phân tích từ lý
luận đến thực tiễn xét xử tranh chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị để
rút ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thừa kế
thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án về tranh chấp thừa kế liên
quan đến thừa kế thế vị.
3. Cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phương pháp nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu của luận văn: 9
- Cơ sở lý luận của luận văn:
Là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước và pháp luật,
pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới và Việt Nam, những thành
tựu của các khoa học: lịch sử pháp luật, lý luận về pháp luật, luật dân sự, xã
hội học pháp luật, triết học. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các văn bản pháp
luật, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên các
tạp chí…

thiết và từ đó có những đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
thừa kế thế vị.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật về thừa kế thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án về tranh chấp
thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn:
Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong khoa học
pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, nghiên cứu một cách
toàn diện, có hệ thống về thừa kế thế vị. Có thể xem những nội dung sau đây
là những đóng góp mới về khoa học của luật văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về thừa kế thế vị; điều kiện
và nguyên tắc hưởng thừa kế thế vị trong pháp luật dân sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình áp dụng quy định pháp
luật về thừa kế thế vị ở Việt Nam; phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực
trạng đó.
- Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện những
quy định của pháp luật về thừa kế thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử của tòa
án về những tranh chấp thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị.
6. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn của luận văn: 11
Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về thừa kế thế
vị theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Kết quả nghiên cứu và
những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện
những quy định của pháp luật về thừa kế thế vị và nâng cao hiệu quả xét xử
các vụ án tranh chấp về thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị của tòa án ở
nước ta. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn
góp phần nhỏ bé của mình vào kho tàng lý luận luật dân sự, cũng như ổn
định các quan hệ xã hội về thừa kế liên quan đến thừa kế thế vị có tính nhạy

cầu thiết yếu của mình. Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản
để thoả mãn cho nhu cầu của mình; khi chết, tài sản còn lại của họ được
dịch chuyển cho người còn sống. Quá trình dịch chuyển đó được gọi là thừa
kế.
"Thừa" và "kế" đều có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục. Theo quan niệm
truyền thống, "thừa kế" được hiểu là việc người đang còn sống thừa hưởng
tài sản của người đã qua đời.Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có
tài sản chết. Mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình sau khi chết
cho người khác. Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học
Luật Hà Nội định nghĩa thừa kế là “Sự chuyển dịch tài sản của người chết
cho người còn sống.” [44, tr.123]. Từ điển Luật học định nghĩa: "Thừa kế là
sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc
theo quy định của pháp luật.”[27, tr.486]. Như vậy, nhìn một cách tổng
quan thì thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn
sống.
Thừa kế luôn gắn với sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và
thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu. Pháp luật quy
định hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. 13
Tham khảo pháp luật của Thái Lan, Điều 1599 - Bộ luật dân sự và
thương mại Thái Lan quy định: “Khi một người chết, tài sản của người đó
được để lại cho những người thừa kế.” [21, tr.455]. Và, Điều 1602: “Khi
một người được coi là đã chết theo quy định của Điều 65 của Bộ luật này,
thì tài sản của người đó được để lại cho người thừa kế của người đó” [21,
tr. 455].
Thừa kế còn có nghĩa thứ hai đồng nghĩa với kế thừa là: "Thừa
hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy" (nghĩa này chỉ dùng trong những
trường hợp cái được thừa hưởng mang giá trị tinh thần). Vì thế, có thể nói

Như vậy, thừa kế di sản chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở
hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng
thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di
chúc hoặc theo pháp luật.
Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản
của người chết cho người còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia
đình, cộng đồng dòng họ , vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự
tác động của các quy tắc xã hội. Quy tắc đó được biểu hiện ở những yếu tố
như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quy phạm pháp luật.
Có thể thấy rằng, thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan
hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, nó xuất
hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội có phân chia
giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản (từ chế độ chiếm hữu nô lệ đến xã
hội hiện đại ngày nay) được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết
cho người còn sống (bao gồm cá nhân, tổ chức) theo các nguyên tắc, trình tự
và thủ tục do pháp luật quy định.
Thừa kế không những là phạm trù kinh tế, phạm trù pháp luật mà còn
mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình phát triển kinh tế - xã 15
hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theo từng giai
đoạn phát triển nhất định.
 Quyền thừa kế
Nếu thừa kế là nhóm những quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong
một xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước và nó mang tính kinh
tế - tài sản thì quyền thừa kế chỉ có thể phát sinh trong một xã hội có nhà
nước và pháp luật. Khi nhà nước xuất hiện, bằng pháp luật, nhà nước tác
động đến quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn
sống, trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các

xâm phạm. Nghị quyết số 02/2004/NQ - HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội
đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (Sau đây gọi là Nghị quyết số
02/2004/NQ - HĐTP) hướng dẫn quyền thừa kế bao gồm “quyền yêu cầu
chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc
quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác.” Như vậy, quyền để lại
di sản của người có tài sản cho người thừa kế, và quyền thừa kế di sản của
người khác là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công
nhận và bảo vệ.
Tuy vậy, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sự quy định cũng khác nhau,
tuỳ thuộc vào tính chất của chế độ sở hữu trong xã hội đó. Vì vậy, quyền
thừa kế mang bản chất giai cấp sâu sắc. Quyền thừa kế trong điều kiện của
nước ta hiện nay được thể hiện như một phương tiện để củng cố sở hữu của
công dân, củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình; bảo vệ lợi ích của những
người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao
động.
1.2 Khái niệm thừa kế thế vị và đặc điểm của thừa kế thế vị.
1.2.1 Khái niệm thừa kế thế vị. 17
“Thế vị" theo nghĩa triết tự là thay thế vị trí. Thừa kế thế vị là việc
một người theo quy định của pháp luật được thay thế vị trí của một người đã
chết để hưởng di sản thừa kế của một người khác chết sau đó. Nói cách
khác, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học – Trường Đại học luật Hà
Nội thì: Thừa kế thế vị là "Thừa kế bằng việc thay vị trí để hưởng thừa kế."
[44, tr.125].
Thừa kế theo luật của Hoàng đế Justinian thời La Mã cổ đại cũng quy
định về thừa kế thế vị: Trong trường hợp bố, mẹ chết trước ông, bà thì cháu
thay thế vị trí của bố, mẹ hưởng di sản của ông, bà.

tế và đảm bảo được quyền thừa kế thế vị của các cháu, các chắt.
Trên cơ sở đó, BLDS năm 2005 quy định những trường hợp sau đây
được thừa kế thế vị:
- Cháu được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà: Khi bố chết
trước hoặc chết cùng một thời điểm với ông nội, bà nội thì con thay vị trí
của người bố để hưởng di sản của ông nội, bà nội khi ông nội, bà nội chết.
Khi mẹ chết trước hoặc cùng một thời điểm với ông ngoại, bà ngoại thì con
thay vị trí của người mẹ để hưởng di sản của ông ngoại, bà ngoại chết.
- Chắt được thừa kế thế vị hưởng di sản của cụ: Nếu ông, bà chết
trước hoặc chết cùng một thời điểm với cụ, cha hoặc mẹ chết sau ông, bà
nhưng vẫn chết trước cụ (người để lại di sản) thì con của người cha hoặc
người mẹ đã chết đó (tức là chắt của người để lại di sản) được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của chắt (tức là cháu của người để lại di sản) được
hưởng nếu còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết.
Trong thừa kế thế vị, mối quan hệ giữa người được thừa kế thế vị với
người để lại di sản là cháu đối với ông bà nội, ông bà ngoại; chắt đối với cụ.
Phần di sản mà người cháu hoặc chắt thay thế bố, mẹ họ được hưởng tương 19
ứng với phần di sản mà người bố, người mẹ của người thừa kế thế vị được
hưởng từ di sản của ông, bà hoặc cụ.
- Khi nghiên cứu thừa kế thế vị theo quy định của Điều 677 BLDS, có
một vấn đề đặt ra là: có thể hiểu quy định này có tính chất bắc cầu và thừa
kế thế vị được tính đến các đời sau đời chắt được hay không? Vì, thừa kế thế
vị dựa trên cơ sở huyết thống, nếu chắt cũng đã chết trước hoặc chết cùng
một thời điểm với các cụ thì chút được thừa kế thế vị nhận di sản của các kỵ
và cứ như thế tiếp tục là hợp lý. Tuy nhiên, quy định này cho đến nay vẫn
chưa có hướng dẫn cụ thể.
Tham khảo pháp luật của một số nước, ta thấy, những người thừa kế

chế hóa bằng pháp luật. Tại Điều 184 Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Điều 182
Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) quy định thứ tự
ưu tiên hưởng di sản không quy định cháu được hưởng di sản của ông, bà
theo hàng thừa kế mà chỉ quy định:
“- Thứ tự thứ nhất gồm có: Các con (các con đẻ, các con nuôi, con vợ cả
hay con vợ lẽ) của người để lại di sản. Trong trường hợp người để lại di sản
không còn con thì cháu được hưởng di sản của ông, bà (thế vị).
Thứ tự thứ tư gồm có: Anh, chị, em ruột (con, cháu của anh chị em ruột).
Trong trường hợp anh, chị, em ruột của người để lại di sản chết trước người
để lại di sản thì con của người đó được hưởng di sản hoặc con của anh, chị,
em ruột cũng đã chết trước thì cháu của anh, chị, em ruột đã chết trước đó
được hưởng di sản ”
Về hàng thừa kế theo pháp luật ở nước ta, kể từ năm 1945 cho đến khi
có Pháp lệnh thừa kế năm 1990

thì cháu, chắt không có vị trí ở hàng thừa kế
theo pháp luật. Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 679) có quy định về hàng
thừa kế, theo đó ông, bà thuộc hàng thừa kế thứ hai của cháu, cụ thuộc hàng
thừa kế thứ ba của chắt; nhưng cháu, chắt lại không thuộc hàng thừa kế nào 21
của ông, bà, các cụ; mà cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị theo quy định
tại Điều 680.
Điều 676 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật.
So với BLDS năm 1995, pháp luật đã quy định bổ sung cháu nội, cháu ngoại
được hưởng di sản theo trình tự hàng thừa kế thứ hai của người để lại di sản
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và chắt ruột được hưởng di sản theo
trình tự hàng thừa kế thứ ba của người để lại di sản là cụ nội, cụ ngoại. Đây
là lần đầu tiên kể từ năm 1945, pháp luật nước ta quy định cháu, chắt có vị

Thừa kế thế vị được quy định để bảo vệ quyền lợi của các cháu, các
chắt trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu, chắt đã chết trước hoặc cùng
một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ. Thừa kế theo bậc là hình thức thừa
kế dựa trên cơ sở quan hệ bậc trên, bậc dưới đối với người thừa kế trong
quan hệ huyết thống được “thế chân” (thay thế vị trí) người ở bậc trước đã
chết hoặc người ở bậc trước đó không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền
hưởng di sản.
Tham khảo pháp luật của một số nước trên thế giới, ta thấy, pháp luật
của các nước trong khu vực và trên thế giới có những quy định khác nhau về
hàng thừa kế theo pháp luật. Pháp luật thừa kế của Nhật Bản, Thái Lan và
Cộng hòa Pháp quy định các cháu của người để lại di sản được thừa kế ở
hàng thừa kế thứ nhất. Quyền thừa kế của các cháu được thực hiện trong
trường hợp người cha, người mẹ của cháu chết trước hoặc chết cùng một
thời điểm với người để lại di sản là ông bà nội, ngoại. Pháp luật của các
nước này có chung đặc điểm là quy định về hàng thừa kế xen kẽ với bậc
thừa kế. Thừa kế theo bậc được thực hiện khi người thuộc hàng thừa kế
được hưởng di sản đã chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để
lại di sản thì các con (các cháu) của người đó được hưởng di sản, họ được
gọi là người thừa kế đại diện. 23
Về hàng thừa kế theo pháp luật, Điều 887 - BLDS Nhật Bản quy định
hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Con (cháu) trực hệ. Hàng thừa kế này được
quy định mang tính chất theo bậc và được thể hiện trong trường hợp con của
người để lại di sản chết trước người để lại di sản hoặc người con đó bị mất
quyền hưởng di sản trước thời điểm mở thừa kế thì con (cháu) của người đó
sẽ là người thừa kế trong hàng. Hàng thừa kế thứ hai bao gồm những người
có quan hệ huyết thống trực hệ bề trên, với điều kiện giữa những người
đứng ở mức độ khác nhau trong mối quan hệ huyết thống thì người nào gần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status