Những khía cạnh pháp lý của việc công chứng các thỏa thuận tài sản của vợ chồng - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LẠI THỊ HỒNG
NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ
CỦA VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC THỎA THUẬN
VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan HÀ NỘI - 2012 4
MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG
CÁC THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

6
1.1. Khái niệm chung về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng 6


Yêu cầu về nội dung của văn bản công chứng thỏa thuận về 27

5
tài sản của vợ chồng

1.2.3.3.

Trình tự, thủ tục chung công chứng thỏa thuận về tài sản
của vợ chồng

29
1.3. Ý nghĩa pháp lý của việc công chứng thỏa thuận về tài sản
của vợ chồng
31
Chương 2:
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG
CHỨNG CÁC THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG TẠI CƠ QUAN CÔNG CHỨNG

38
2.1. Các trường hợp phát sinh yêu cầu công chứng thỏa thuận về
tài sản của vợ chồng
38
2.1.1. Yêu cầu công chứng theo quy định của pháp luật 38
2.1.2. Yêu cầu công chứng theo ý chí tự nguyện của vợ chồng 41
2.1.3. Công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng theo yêu
cầu của bên thứ ba có liên quan đến giao dịch về tài sản với
vợ chồng
42

79
3.1. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết yêu
cầu công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
79
3.1.1. Những vướng mắc phát sinh trong việc áp dụng pháp luật
hôn nhân và gia đình
79
3.1.2. Những vướng mắc trong việc áp dụng Luật Nhà ở 84
3.1.3. Những vướng mắc trong việc áp dụng Luật Đất đai 87
3.1.4. Một số điểm tồn tại trong việc áp dụng Luật Công chứng 89
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
98
3.2.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật là cơ sở pháp lý công
chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng
98
3.2.1.1.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật hôn nhân và gia đình
98
3.2.1.2.

Một số kiến nghị nhằm hoàn hiện các quy định về pháp luật
nhà ở
101
3.2.1.3.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật đất đai

VPCCHN : Văn phòng công chứng Hà NộiFormatted: Left

8

9
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nền kinh tế thị trường mang lại cho kinh tế gia đình những cơ hội,
đồng thời cũng đặt kinh tế gia đình trước những rủi ro và thách thức. "Gia
đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Coi đầu tư cho gia đình là đầu tư cho sự phát triển bền vững" [32]. Với vai trò
quan trọng như vậy, Nhà nước cần phải có chính sách nhằm bảo đảm sự phát
triển ổn định, bền vững cho gia đình và xã hội. Hoạt động công chứng hợp
đồng, giao dịch đã tỏ rõ là giải pháp hiệu quả để Nhà nước quản lý và bảo
đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch phát sinh trong xã hội, trong đó có giao
dịch về tài sản của vợ chồng trong thời gian qua.
Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng xuất phát từ yêu cầu chính đáng
của vợ chồng trong việc chủ động nguồn vốn đề đầu tư kinh doanh, hạn chế
các rủi ro có thể gặp phải, bảo đảm quyền và lợi ích của vợ chồng và gia đình.
Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế cộng với quy định còn
phức tạp, chưa cụ thể và thống nhất của pháp luật đã làm cho vợ chồng lúng
túng, e ngại khi lập văn bản thỏa thuận về tài sản. Trong khi đó, công chứng
thỏa thuận về tài sản của vợ chồng đã tỏ rõ những ưu việt của mình trong việc
bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản công chứng, từ đó bảo đảm quyền và lợi

của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay", Luận án tiến sĩ Luật học, của
Đặng Văn Khanh; "Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước
trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện
pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Luật học, của
Tuấn Đạo Thanh… Vấn đề công chứng giao dịch tài sản nói chung cũng đã
được quan tâm nghiên cứu như: "Một số vấn đề về công chứng giao dịch tài

11
sản ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học, của Đỗ Xuân Hòa. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các giao
dịch tài sản nói chung, còn việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý của việc
công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng dưới góc độ thực hiện
quyền tài sản của vợ chồng thì chưa có công trình nghiên cứu nào được thực
hiện. Vì vậy, có thể khẳng định, đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu một
cách chuyên sâu, có hệ thống, toàn diện về vấn đề công chứng các thỏa thuận
về tài sản của vợ chồng, áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết các
yêu cầu công chứng trên thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu nhằm các mục đích sau đây:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận chung về tài sản của vợ
chồng, với vai trò là cơ sở pháp lý đảm bảo tính hợp pháp, có căn cứ của các
thỏa thuận về tài sản của vợ chồng tại cơ quan công chứng;
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về công chứng nhằm đảm
bảo giá trị pháp lý của văn bản công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
+ Giải quyết những vấn đề lý luận liên quan đến chế định tài sản của
vợ chồng là cơ sở pháp lý thỏa thuận về tài sản của vợ chồng, xây dựng văn
bản công chứng và bảo đảm giá trị của văn bản công chứng.
+ Nghiên cứu một số tình huống thỏa thuận về tài sản của vợ chồng đã
gặp trong thực tiễn tại Văn phòng Công chứng Hà Nội (VPCCHN).

- Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật
lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: so sánh, phân

13
tích, tổng hợp, thống kê.
6. Những điểm mới và đóng góp của đề tài
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu một cách có
hệ thống những khía cạnh pháp lý của việc công chứng các thỏa thuận về tài
sản của vợ chồng.
- Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về công chứng thỏa
thuận về tài sản của vợ chồng, phát hiện những vướng mắc trong quá trình áp
dụng pháp luật để giải quyết việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ
chồng trên thực tiễn.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật liên quan đến việc công chứng thỏa thuận về tài sản của vợ chồng để đảm
bảo giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về công chứng các thỏa thuận
tài sản của vợ chồng.
Chương 2: Áp dụng pháp luật giải quyết yêu cầu công chứng các thỏa
thuận về tài sản của vợ chồng tại cơ quan công chứng.
Chương 3: Những vướng mắc, bất cập trong việc công chứng các thỏa
thuận về tài sản của vợ chồng và một số kiến nghị.

14
Chương 1

15
nhu cầu của vợ, chồng và các thành viên trong gia đình. Vì vậy, pháp luật cần
quy định cơ sở pháp lý để xác lập quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản
chung, là căn cứ để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình, quyền và lợi
ích của các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, ngoài tài sản chung, vợ chồng
có thể có tài sản riêng là những tài sản hình thành trước khi kết hôn, khi chưa
bị các quan hệ hôn nhân gia đình chi phối hoặc những tài sản được thừa kế,
được tặng cho riêng Mỗi hình thức sở hữu có đặc thù pháp lý riêng biệt, vì
vậy, việc xác định quyền sở hữu chung, sở hữu riêng của vợ chồng có ý nghĩa
quan trọng đối với việc công chứng các thỏa thuận về tài sản của vợ chồng.
1.1.1.1. Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung
Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung là một trong các cơ
sở pháp lý để bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản công chứng thỏa thuận về
tài sản của vợ chồng. Vì vậy, việc CCV xác định đúng quyền sở hữu của vợ
chồng đối với tài sản yêu cầu công chứng sẽ góp phần quan trọng trong việc
bảo đảm "tính hợp pháp" của văn bản công chứng.
 Căn cứ xác lập quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 27 của LHN&GĐ năm 2000:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những
thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài
sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và
những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung [46].
Như vậy, việc xác định quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản
chung dựa vào các căn cứ là thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc phát sinh tài sản.
- Căn cứ vào thời kỳ hôn nhân.
Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng nhau tạo
dựng tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu

16

17
hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận
kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ
không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn. Đây là một
trường hợp ngoại lệ của LHN&GĐ năm 2000, trong trường hợp này, thời kỳ
hôn nhân không được tính từ ngày đăng ký kết hôn mà được tính từ ngày vợ
chồng chung sống với nhau trên thực tế. Như vậy, trong trường hợp nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 thì tài sản mà họ
có được, thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp
khác từ "ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng" là tài sản chung
của vợ chồng.
Ngày chấm dứt quan hệ hôn nhân được xác định dựa vào sự kiện: vợ,
chồng chết; quyết định tuyên bố vợ, chồng bị chết của Tòa án có hiệu lực pháp
luật; bản án ly hôn, quyết định về ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đất đai là một tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân, do vậy, vợ chồng
chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữu đất. Theo quy định tại
Khoản 1 Điều 27 của Luật Đất đai năm 2003LHN&GĐ năm 2000: "Quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận" [48]. Như vậy, thời
kỳ hôn nhân cũng là căn cứ để xác định quyền sử dụng chung của vợ chồng
đối với đất đai.
Trong thời kỳ hôn nhân, các tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của vợ chồng được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, không
phải mọi trường hợp tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản
chung của vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân chỉ là một trong các căn cứ để xác
định tài sản chung của vợ chồng. Để xác định chính xác tài sản của vợ, chồng
Formatted: Vietnamese (Vietnam)


định rõ phần di sản mà mỗi người được hưởng thì di sản đó là tài sản chung
của hai vợ chồng.
+ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung còn được xác lập
trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng.
Trong thời kỳ hôn nhân, việc cùng nhau tạo lập tài sản, đóng góp tài
sản để bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình thể hiện trách nhiệm của
vợ, chồng đối với các thành viên trong gia đình. Vì vậy, việc thỏa thuận nhập
tài sản riêng của vợ, chồng vào khối tài sản chung để làm giàu cho khối tài
sản chung của vợ chồng cần được khuyến khích.
Trên thực tế, có nhiều tài sản có nguồn gốc là tài sản riêng nhưng
được vợ, chồng sử dụng cho gia đình, lâu dần không còn chứng cứ để xác
định tài sản đó là tài sản riêng hay tài sản chung thì vợ chồng hoàn toàn có thể
thỏa thuận để công nhận tài sản đó là tài sản chung. Xuất phát từ những lý do
như vậy, nhằm đảm bảo sự cân bằng, hợp lý và bảo đảm lợi ích của gia đình
cũng như các thành viên trong gia đình, pháp luật quy định "những tài sản
khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung" [46, Điều 27].
+ Quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng còn được xác lập
dựa trên các căn cứ được pháp luật thừa nhận.
Những tài sản mà vợ chồng xác lập quyền sở hữu theo quy định của
pháp luật do phát hiện vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu, tìm
thấy vật bị chôn giấu, chìm đắm, vật do người khác đánh rơi, bỏ quên, gia
súc, gia cầm bị thất lạc… cũng là tài sản chung của hai vợ chồng. Theo quy
định tại Khoản 2, Điều 27 của LNH&GĐ năm 2000: "Trong trường hợp
không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là
tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung" [46]. Đây là nguyên
tắc suy đoán về tài sản chung của vợ chồng, lần đầu tiên được quy định trong

20
LNH&GĐ năm 2000, pháp luật về hôn nhân và gia đình trước đây chưa có
quy định cụ thể về vấn đề này.

của LHN&GĐ năm 2000 quy định: "Vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác
lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật
phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền phải được lập thành văn
bản" [46, Điều 24].
Tài sản chung của vợ chồng là cơ sở đảm bảo cho gia đình tồn tại và
phát triển, đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng và các thành viên trong gia
đình, đồng thời để thực hiện nghĩa vụ tài sản chung nhằm phục vụ cho nhu
cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình
Thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, vợ chồng có quyền
bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt
khác phù hợp với quy định của pháp luật đối. Đối với việc định đoạt tài sản
chung giữa vợ và chồng, vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, thỏa thuận tặng cho tài sản giữa vợ và chồng,
thỏa thuận chia tài sản chung của "vợ chồng" sau khi ly hôn, thỏa thuận khôi
phục chế độ tài sản chung của vợ chồng…
1.1.1.2. Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Vợ, chồng chỉ có quyền xác lập các giao dịch về tài sản nếu tài sản đó
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình… Do vậy, việc xác định quyền sở
hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng có vai trò quan trọng trong việc bảo
đảm giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
 Căn cứ xác lập quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng.
Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết
hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài
sản được chia riêng cho các bên theo thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng

22
trong thời kỳ hôn nhân, đồ dùng, tư trang cá nhân. Như vậy, có thể dựa vào các
căn cứ các căn cứ sau đây để xác định quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài
sản riêng:
- Căn cứ vào thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản.

Theo quy định tại Điều 30 LHN&GĐ năm 2000: "Trong trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã
chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn
thuộc sở hữu chung của vợ chồng" [46]. Như vậy, việc chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là một trong các căn cứ để xác định
quyền sở hữu riêng của vợ, chồng đối với tài sản được hình thành trong thời
kỳ hôn nhân. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
tài sản đã chia cho ai thuộc quyền sở hữu riêng của bên đó. Việc chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng dẫn đến "hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác" [18, Điều 8]. Ngoài ra, "thu nhập
do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng sau khi chia tài sản chung nếu không có thỏa thuận là tài
sản riêng của vợ chồng" [18, Điều 8].
Như vậy, sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, tài sản chia cho ai thuộc quyền sở hữu riêng của bên đó, nếu không có
thỏa thuận khác thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác là tài sản
riêng của vợ, chồng.
- Tài sản riêng của vợ chồng còn có đồ dùng, tư trang cá nhân.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 32 của LHN&GĐ năm 2000, tài sản
riêng của vợ chồng còn bao gồm "đồ dùng, tư trang cá nhân". Đây là một quy
định mới của LHN&GĐ năm 2000, quy định này là phù hợp với thực tiễn,
Formatted: Vietnamese (Vietnam)

24
nhằm bảo đảm quyền tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ, chồng. Tuy
nhiên, từ khi LHN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay, chưa có văn bản nào
của cơ quan có thẩm quyền giải thích cụ thể về "đồ dùng", tư trang cá nhân".
Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của mình, không phụ
thuộc vào ý chí của bên kia. Tuy nhiên, "trong trường hợp tài sản riêng của
vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản
riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng
đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng" [46, Điều 33]. Đây là quy định
mới của LHN&GĐ năm 2000, quy định hoàn toàn phù hợp với đặc thù của
quan hệ hôn nhân và gia đình, bởi lẽ vợ, chồng đều phải có trách nhiệm bảo
đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình, khi gia đình gặp khó khăn thì vợ
chồng phải nỗ lực hết sức có thể, kể cả dùng tài sản riêng để đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của gia đình. Nhằm nâng cao trách nhiệm của vợ, chồng
trong việc đảm bảo các các nhu cầu thiết yếu của gia đình, Điều 25 của
LHN&GĐ năm 2000 quy định: "Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên
đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình" [46].
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 32 của LHN&GĐ năm 2000: "Vợ, chồng
còn có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung" [46].
Việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng phục thuộc vào ý chí của chủ sở hữu
tài sản, do vậy, vợ, chồng bằng ý chí của mình có thể nhập tài sản riêng của
mình vào khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi nhập tài sản riêng vàoới
khối tài sản chung, tài sản thỏa thuận nhập trở thành tài sản chung của vợ
chồng. Việc định đoạt tài sản này phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng.
Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng của mình hoặc có thể ủy quyền cho
vợ, chồng của mình quản lý. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng vợ, chồng chỉ được
Formatted: Vietnamese (Vietnam)

26
quản lý hộ tài sản của nhau chứ không có quyền xác lập quyền sở hữu hay
định đoạt tài sản riêng của bên kia (nếu không được vợ hoặc chồng ủy quyền).
Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status