Báo cáo " Những khía cạnh pháp lý cơ bản của giao dịch bảo lãnh bằng tài sản trong quan hệ vay vốn ngân hàng" - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
54 - Tạp chí luật học Nguyễn Tuyến *
ảo lnh bằng tài sản nói chung và bảo
lnh bằng tài sản trong quan hệ vay vốn
ngân hàng nói riêng là giao dịch hợp đồng
đợc thiết lập giữa pháp nhân, thể nhân
(đóng vai trò là ngời bảo lnh) với bên có
quyền về việc ngời bảo lnh cam kết sẽ
dùng các tài sản của mình để thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu đến hạn
ngời này không thực hiện đợc nghĩa vụ
của họ đối với bên có quyền. Trong thực tiễn
hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thơng mại, giao dịch cho vay có điều kiện
bảo lnh bằng tài sản của ngời thứ ba đợc
xem là nghiệp vụ cho vay khá phổ biến, bởi
tính chặt chẽ trong thủ tục vay vốn và độ an
toàn cao về phơng diện kinh tế của nghiệp
vụ tín dụng này.
Bài viết này xin đề cập những khía cạnh
pháp lí cơ bản của giao dịch bảo lnh bằng
tài sản vay vốn ngân hàng với mong muốn
góp phần làm sáng tỏ hơn về phơng diện lí

hành vi thơng mại nên loại hành vi này
không phải đăng kí kinh doanh với cơ quan
có thẩm quyền của Nhà nớc. Tất cả những
hành vi bảo lnh thuần tuý không có tính
chuyên nghiệp và không nhằm mục đích
kiếm lời đều phải đợc xem là những hành vi
dân sự (phi thơng mại).
Tuy nhiên, theo đà phát triển của nền
thơng mại và kĩ nghệ, một số chủ thể kinh
doanh, đặc biệt là các ngân hàng đ bắt đầu
thực hiện thờng xuyên hoạt động bảo lnh
cho khách hàng để thu phí bảo lnh. Loại
hành vi bảo lnh này dần dần có tính chất
chuyên nghiệp và trở thành loại hình dịch vụ
đặc biệt có khả năng sinh lời cho ngời thực
hiện chúng. Vì thế, những hành vi bảo lnh
có tính chuyên nghiệp với mục đích rõ ràng
là thu lợi nhuận nh vậy đ mặc nhiên trở
thành những hành vi thơng mại và cần phải
B

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 55

đợc Nhà nớc đối xử nh hành vi thơng
mại.

đợc bảo lnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ".
Theo đó, bảo lnh thực chất là giao dịch
hợp đồng phát sinh giữa ngời bảo lnh với
ngời nhận bảo lnh (hợp đồng song
phơng) chứ không hề có sự tham gia của bất
kì ngời thứ ba nào, cho dù trong hoàn cảnh
này ngời đi vay (ngời đợc bảo lnh) có
những quyền lợi liên quan đến sự bảo lnh.
Tuy nhiên, với cách nhìn khác, một số ý kiến
lại cho rằng giao dịch bảo lnh bằng tài sản
nói chung và giao dịch bảo lnh bằng tài sản
trong quan hệ vay vốn ngân hàng nói riêng là
loại hình giao dịch ba bên, trong đó ngời
đợc bảo lnh cũng là chủ thể của hợp đồng
bảo lnh. ý kiến này xuất phát từ lập luận
cho rằng hợp đồng bảo lnh chẳng qua là
một hợp đồng phụ bổ sung cho hợp đồng
chính và hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu lực
của hợp đồng chính. Do vậy, chủ thể tham
gia hợp đồng chính (hợp đồng tín dụng) cũng
đơng nhiên là chủ thể của hợp đồng phụ
(hợp đồng bảo lnh).
Theo ý kiến của chúng tôi, quan điểm
cho rằng hợp đồng bảo lnh bằng tài sản
thuộc loại hợp đồng ba bên là không có cơ sở
khoa học. Bởi lẽ, theo logic thông thờng,
nếu ngời đủ năng lực chủ thể đồng ý đem
tài sản của mình để trả nợ thay cho ngời
khác với mục đích trong sáng và hợp pháp,


lnh hay không? Theo ý kiến của chúng tôi,
việc pháp luật quy định ngời đợc bảo lnh
không phải là chủ thể hợp đồng bảo lnh là
hoàn toàn hợp lí và có cơ sở khoa học nhng
rõ ràng ý chí và hành động của ngời đợc
bảo lnh có thể gây ra những ảnh hởng nhất
định đối với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ
của các bên trong hợp đồng bảo lnh. Thật
vậy, về nguyên tắc nếu ngời đợc bảo lnh
không thực hiện đúng nghĩa vụ của họ đối
với bên có quyền (ngời nhận bảo lnh) thì
khi đó ngời bảo lnh sẽ phải đứng ra thực
hiện nghĩa vụ thay cho ngời đợc bảo lnh.
Ngợc lại, nếu ngời đợc bảo lnh đ hoàn
tất nghĩa vụ của họ đối với bên có quyền thì
mặc nhiên nghĩa vụ của ngời bảo lnh phát
sinh theo hợp đồng bảo lnh cũng chấm dứt.
Tuy nhiên, cũng cần phải lu ý rằng sự bảo
lnh trong dân luật nói chung cũng nh trong
nghiệp vụ bảo lnh của ngân hàng thơng
mại nói riêng, nếu ý chí của ngời đợc bảo
lnh có thay đổi làm cho nội dung thực chất
của nghĩa vụ đợc bảo lnh cũng thay đổi thì
về nguyên tắc không thể đơng nhiên và tự
động làm cho nghĩa vụ của ngời bảo lnh
thay đổi theo, trừ khi có sự đồng ý của ngời
này.
Ví dụ: A cam kết bảo lnh cho B vay tiền
của Ngân hàng C, với mục đích sử dụng vốn

nghĩa vụ phụ. Tính chất chính, phụ của hai
loại nghĩa vụ này không chỉ thể hiện sự lệ
thuộc về phơng diện hiệu lực pháp lí của
nghĩa vụ bảo lnh vào nghĩa vụ đợc bảo
lnh mà còn phản ánh thứ tự thực hiện hai
loại nghĩa vụ này đối với bên có quyền. Nói
khác đi, để không đồng hoá tình trạng pháp
lí của ngời bảo lnh với tình trạng pháp lí
của ngời đợc bảo lnh (vốn dĩ hai ngời
này có vị trí khác nhau đối với trái chủ) thì
pháp luật cần phải xây dựng nguyên tắc là
nghĩa vụ đợc bảo lnh (nghĩa vụ chính) cần
phải đợc trái chủ yêu cầu thực hiện trớc
còn nghĩa vụ bảo lnh (nghĩa vụ phụ) sẽ
đợc trái chủ yêu cầu thực hiện sau.
Tuy nhiên, để phát huy vai trò tích cực
của sự bảo lnh trong việc bảo đảm quyền lợi
cho trái chủ là các ngân hàng, pháp luật cũng
cho phép các bên của hợp đồng bảo lnh
đợc quyền cam kết về tính liên đới của
nghĩa vụ bảo lnh đối với nghĩa vụ đợc bảo
lnh. Nghĩa là, tình trạng liên đới giữa nghĩa
vụ bảo lnh với nghĩa vụ đợc bảo lnh chỉ
tồn tại khi chính các bên đ ghi rõ trong văn
bản hợp đồng bảo lnh về tình trạng này. Với
điều khoản cam kết về tính liên đới, bên cho nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 57

Việc không đồng hoá thân phận pháp lí
của ngời vay với ngời bảo lnh trong pháp
luật thực định không những có tác dụng củng
cố nhận thức lí luận khoa học về bản chất
pháp lí của sự bảo lnh cũng nh nguyên tắc
tự định đoạt trong chế định bảo lnh mà còn
góp phần định hớng, soi sáng cho thực tiễn
hoạt động tín dụng của các ngân hàng trong
nền kinh tế -x hội.
- Hai là, phát huy đợc vai trò tích cực
của biện pháp bảo lnh trong việc đảm bảo
quyền lợi cho trái chủ là bên cho vay trong
hợp đồng tín dụng mà vẫn đảm bảo tuân thủ
nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của
ngời bảo lnh trong việc giao kết hợp đồng
bảo lnh.
4. Tính độc lập tơng đối của hợp
đồng bảo lãnh và mối liên hệ tơng hỗ với
hợp đồng tín dụng
Về nguyên tắc, hợp đồng bảo lnh mặc
dù là hợp đồng phụ và bổ sung cho nội dung
của hợp đồng tín dụng (với ý nghĩa nh là
hợp đồng chính) nhng bản thân hợp đồng
bảo lnh cũng có tính độc lập tơng đối
trong mối quan hệ với hợp đồng tín dụng
đồng thời có tác động tơng hỗ với hợp đồng
tín dụng.
Tính độc lập tơng đối của hợp đồng bảo
lnh, xét trong mối quan hệ với hợp đồng tín
dụng đợc thể hiện trên những khía cạnh sau

nhận bảo lnh thoả thuận với nhau trên
nguyên tắc bình đẳng và tự do ý chí. Các
điều khoản này chỉ có thể đợc sửa đổi, bổ
sung hay huỷ bỏ bởi ý chí của chính các bên
giao kết hợp đồng bảo lnh chứ không thể là
chủ thể nào khác.
Ngoài ra, việc pháp luật Việt Nam quy
định hợp đồng bảo lnh trong quan hệ vay
vốn ngân hàng phải đợc các bên xác lập
bằng hình thức một văn bản riêng rẽ, tách
biệt hẳn với văn bản hợp đồng tín dụng
(1)

cũng phần nào phản ánh tính độc lập tơng
đối của hợp đồng bảo lnh trong mối quan hệ
với hợp đồng tín dụng.
Tuy nhiên, cũng cần phải lu ý rằng mặc
dù các điều khoản của hợp đồng bảo lnh là
do các bên giao kết hợp đồng bảo lnh tạo
lập ra để chính họ thực hiện nhng về
phơng diện hiệu lực pháp lí thì các điều
khoản của hợp đồng này lại phụ thuộc vào
hiệu lực pháp lí của các điều khoản đợc ghi
trong hợp đồng tín dụng. Đặc điểm này thể
hiện mối liên hệ pháp lí giữa hợp đồng bảo
lnh với hợp đồng tín dụng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành, mối liên hệ pháp lí giữa hợp đồng
bảo lnh với hợp đồng tín dụng đợc thể hiện
ở hai khía cạnh sau đây:

Ví dụ: Ngày 25/3/2000, Ngân hàng A kí
hợp đồng tín dụng cho doanh nghiệp B vay
tiền, với điều kiện doanh nghiệp B phải có sự
bảo lnh bằng tài sản của ngời thứ ba. Để
vay đợc tiền của Ngân hàng A, doanh
nghiệp B yêu cầu chi nhánh Ngân hàng C tại
địa phơng nơi doanh nghiệp B đóng trụ sở
đứng ra bảo lnh và đợc chi nhánh ngân
hàng này chấp nhận bằng giấy bảo lnh có
chữ kí của ngời đại diện chi nhánh Ngân
hàng C là ông trởng phòng tín dụng (ngoài
giấy bảo lnh này, không hề có bất cứ giấy tờ
nào thể hiện sự uỷ quyền hợp lệ đợc gửi
kèm theo). Ngân hàng A đ kí hợp đồng tín
dụng cho doanh nghiệp B vay tiền với tình
trạng giấy bảo lnh nh trên.
Với tình huống này, theo ý kiến của
chúng tôi, cần phải cho rằng hợp đồng bảo
lnh vô hiệu vì ngời kí hợp đồng bảo lnh
không có thẩm quyền đại diện cho Ngân
hàng C, tuy nhiên hợp đồng tín dụng giữa
Ngân hàng A và doanh nghiệp B không vì
thế mà vô hiệu, bởi lẽ, trong trờng hợp này
Ngân hàng A đ có khả năng biết trớc sự vô
hiệu của hợp đồng bảo lnh mà vẫn đồng ý
cho vay đối với doang nghiệp B thì điều kiện
để cho vay (phải có sự bảo lnh của ngời
thứ ba) do ngân hàng này đa ra sẽ mặc
dụng) hay không và thời hạn bảo lnh có
đồng nghĩa với thời hạn có hiệu lực của hợp
đồng bảo lnh?
Theo ý kiến của chúng tôi, về thời hạn sử
dụng vốn vay, cần phải thấy rằng khi kết
thúc thời hạn này thì quyền và nghĩa vụ pháp
lí của các bên trong hợp đồng tín dụng cha
thực hiện xong, do đó hợp đồng tín dụng
cha thể coi là chấm dứt hiệu lực vào thời
điểm thời hạn sử dụng vốn vay kết thúc. Còn
về thời hạn bảo lnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay
thì lại khác, cần phải hiểu rằng mục đích của
bảo lnh tiền vay là vì quyền lợi của chủ nợ
(bên cho vay) nên thời hạn bảo lnh phải là
khoảng thời gian tồn tại nghĩa vụ đợc bảo
lnh (điều này đúng cả trong trờng hợp hợp
đồng tín dụng có hiệu lực trớc và hợp đồng
bảo lnh có hiệu lực sau). Chừng nào nghĩa
vụ đợc bảo lnh còn tồn tại thì chừng đó
thời hạn bảo lnh cha thể coi là kết thúc.
Nh vậy, nếu thời hạn sử dụng vốn vay hoàn
toàn do các bên thoả thuận và hoàn toàn có
thể ấn định trớc đợc tại thời điểm kí kết
hợp đồng tín dụng thì thời hạn bảo lnh
nghĩa vụ trả nợ tiền vay, mặc dù cũng do các
bên thoả thuận nhng thời hạn này không thể
nào ấn định trớc đợc, do các bên không
thể biết trớc khi nào thì nghĩa vụ trả nợ tiền
vay sẽ đợc thực hiện xong bởi ngời vay
hay ngời bảo lnh. Điều này cho thấy rằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status