Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam trong pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THÚY HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ TÀU BIỂN VIỆT NAM
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan
Nguyễn Thị Thúy LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn đến PGS.TS Hà Thị Mai Hiên - cô đã tận
tình hướng dẫn tôi, các thầy, cô giáo, các chuyên gia pháp lý, các cán bộ tại
Cục Hàng hải Việt Nam, Tạp chí Hàng hải, Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt,
Công ty Bảo hiểm PJICO và các thành viên webbaohiem, đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình đã giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn thạc sỹ này. MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

hành về Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu
biển Việt Nam
39
2.1 Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu
biển Việt Nam
39
2.1.1 Bên bảo hiểm 39
2.1.2 Bên tham gia bảo hiểm

42
2.2 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
tàu biển Việt Nam
44
2.3 Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
tàu biển Việt Nam
46
2.4 Sự kiện bảo hiểm 55
2.5 Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm và các trường hợp loại trừ trách
nhiệm bảo hiểm
57
2.5.1 Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm 57
2.5.2 Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm 58
2.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam
60
2.6.1 Quyền và nghĩa vụ của bên tham gia bảo hiểm 60
2.6.2 Quyền và nghĩa vụ của bên bảo hiểm 77
2.7 Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu
biển Việt Nam
87

tâm đến hoạt động vận tải bằng đường biển, vì vậy, ở nước ta vận tải bằng
đường biển tương đối phát triển. Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giao thông vận tải chiếm một vị trí rất
quan trọng, bởi đó là một ngành thuộc kết cấu hạ tầng, tạo động lực thúc đẩy
sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, bản thân kinh tế vận tải biển cũng mang
lại lợi nhuận to lớn. Vì vậy, số lượng tàu biển của nước ta không ngừng tăng
nhanh, Nhà nước đầu tư không ít ngân sách để xây dựng các cảng biển, cảng
trung chuyển bốc xếp, vận chuyển hàng…các vùng kinh tế biển theo đó cũng
phát triển, từng bước đáp ứng được nhu cầu vận tải biển trong và ngoài nước,
nhu cầu đi lại của nhân dân, tham quan du lịch.
Giao thông vận tải nói chung và giao thông vận tải đường biển nói
riêng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. So với các hình thức vận
tải khác, giao thông vận tải đường biển có một lợi thế rất to lớn là có thể vận
tải với số lượng lớn, hàng siêu trường, siêu trọng, thời gian vận chuyển
nhanh, chi phí rẻ Bên cạnh những lợi ích to lớn đó, trong quá trình vận tải,
tàu biển đã gặp không ít các tai nạn, xảy ra các thiệt hại nghiêm trọng về tính
mạng, sức khoẻ của con người, của cải vật chất, hàng hoá và bản thân con tàu;
nguy hiểm từ con tàu và thiệt hại do tàu gây ra còn nghiêm trọng hơn một số
phương tiện giao thông khác do trọng lượng và giá trị của tàu biển là rất lớn.
2

Chủ tàu biển trong quá trình vận hành và khai thác tàu biển đã chịu không ít
thiệt hại do tai nạn tàu biển gây ra, về cả chi phí sửa chữa tàu và bồi thường
trách nhiệm cho bên thứ ba do tàu biển gây ra. Để giảm thiểu thiệt hại và chia
sẻ rủi ro đó, đồng thời với việc hạn chế xảy ra rủi ro, chủ tàu biển tiến hành
mua bảo hiểm cho tàu biển và trách nhiệm dân sự của mình đối với tàu biển.
Vì vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế vận tải biển trong nước, hoạt động
bảo hiểm tàu biển cũng theo đó ngày càng phát triển. Hoạt động hàng hải có
lịch sử lâu đời trên thế giới, bên cạnh việc gia tăng số lượng tàu, thúc đẩy phát

quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự
của chủ tàu biển Việt Nam nhằm tạo nên một khung pháp lý an toàn, giải
quyết tốt nhất vấn đề ý thức trách nhiệm của chủ tàu biển Việt Nam, người
bảo hiểm; nâng cao năng lực canh tranh của các công ty bảo hiểm Việt Nam
trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế là rất cần thiết. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề
tài “Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam theo
pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm pháp lý là một vấn đề tối quan trọng của người tham gia
quan hệ hợp đồng cho bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói riêng và những giao
dịch dân sự nói chung. Dưới góc độ khoa học pháp lý, chế định hợp đồng bảo
hiểm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được nhiều nhà
khoa học pháp lý trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều cấp độ
khác nhau.
Ở Việt Nam, đến nay đã có luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Thị
Nhung về đề tài: “Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự”, khoá luận tốt
nghiệp cử nhân luật của Trần Thị Hồi về đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện”, luận án tiến sỹ luật học của
4

Lê Mai Anh về đề tài: “Những vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật Dân sự”; luận án tiến sỹ luật học của Đinh
Hồng Ngân về đề tài: “Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng”; và một số
nghiên cứu của các tác giả khác: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, vài nét về thực tiễn xét xử và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Nguyễn
Thanh Bình, Tạp chí Kiểm sát số 5, 2003; “ Về sự tương đồng và khác biệt
giữa nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự” của tác giả Phạm Văn Tuyết,
Tạp chí Luật học số 10, 2006…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đã chỉ nghiên cứu ở mức độ
chung về hợp đồng bảo hiểm, trách nhiệm dân sự hoặc chỉ nghiên cứu ở phạm

- Nghiên cứu, tìm hiểu những quan điểm khoa học xung quanh vấn đề
bảo hiểm trách nhiệm dân sự nói chung, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân
sự của chủ tàu biển nói riêng để xác định về khái niệm hợp đồng bảo hiểm
trách nhiệm dân sự, từ đó đi sâu nghiên cứu và làm rõ khái niệm hợp đồng
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam.
- Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam trong những năm qua gắn với lý
luận, căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn
thực hiện Bộ luật Dân sự, các văn bản pháp luật liên quan; đưa ra các kiến
nghị dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về
hợp đồng bảo hiểm trách nhiêm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam, căn cứ
pháp lý của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển và thực
tiễn áp dụng pháp luật, trong giao kết và thực hiện hợp đồng này, cụ thể là các
6

khái niệm, hình thức, nội dung giao kết, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,
trách nhiệm của các bên tham gia, căn cứ pháp lý, thực tiễn áp dụng pháp luật
và vướng mắc trong quá trình áp dụng.
Phạm vi nghiên cứu
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam là
một loại hợp đồng bảo hiểm, là một vấn đề phức tạp không những về mặt lý
luận mà còn cả về mặt thực tiễn. Vì vậy, luận văn này chỉ nghiên cứu một số
vấn đề cơ bản về quy định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng về
hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam dưới góc
độ hợp đồng dân sự, các điều kiện, trình tự giao kết hợp đồng, kết cấu của hợp
đồng, đối tượng, hiệu lực của hợp đồng; các nguyên tắc cơ bản, đặc điểm và
cơ sở pháp lý của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển
Việt Nam đối với tàu biển hoạt động trong vùng biển Việt Nam. Trên cơ sở

lý luận, cơ sở pháp lý, quy định của pháp luật thực định của hợp đồng bảo
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam, làm sáng tỏ những khái
niệm, hình thức, kết cấu và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp
đồng bảo hiểm này, quá trình thực hiện và những vướng mắc thường gặp.
- Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn gắn với việc hoàn chỉnh về mặt lý
luận, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự hiện hành, các
văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Bộ luật dân sự và các văn
bản quy phạm pháp luật liên quan, luận văn còn đưa ra các kiến nghị và giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nói chung và pháp luật
về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam nói
riêng, kiến nghị về đảm bảo áp dụng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trong
bối cảnh cạnh tranh quốc tế hiện nay.
8

Xác định mối quan hệ giữa trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt
Nam và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam,
mối quan hệ giữa hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển
Việt Nam với các hợp đồng bảo hiểm khác.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của chủ tàu biển Việt Nam.
Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về
hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ tàu biển Việt Nam và một số kiến nghị về các giải pháp
hoàn thiện pháp luật.
và cá nhân, Nhà nước bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.
Mỗi tổ chức, cá nhân đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi
của mình. Khi tổ chức, cá nhân nào có hành vi gây thiệt hại cho người khác
thì phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên,
không phải tổ chức, cá nhân nào cũng có đủ khả năng tài chính để bồi thường
những thiệt hại do họ gây ra cho người khác, trong một số trường hợp việc
bồi thường vượt quá khả năng của họ, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của họ
và chính người bị thiệt hại. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời từ đó, đây là
cơ chế đảm bảo cho việc bồi thường thiệt hại, khắc phục kịp thời những thiệt
hại về tài chính đối với người gây thiệt hại cũng như người bị thiệt hại. Tuy
10

nhiên, không phải tất cả các loại trách nhiệm dân sự đều là đối tượng của bảo
hiểm. Vậy, trách nhiệm dân sự là gì? Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là gì và
loại trách nhiệm dân sự nào là đối tượng của bảo hiểm?
Trách nhiệm dân sự được hiểu rất rộng, bao gồm: Trách nhiệm công
khai xin lỗi, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, đăng bài cải chính và bồi thường
thiệt hại đối với người đã bị họ bằng hành vi của mình xâm phạm tới uy tín,
danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khoẻ, tính mạng Mỗi chủ thể khi thực hiện
các hành vi phải tuân theo các quy tắc chung của ngành luật dân sự, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Vì vậy, khi xử sự của một
chủ thể làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác thì
xử sự đó bị coi là trái pháp luật dân sự. Người có quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm phạm có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi trách nhiệm dân sự được áp
dụng thì người có xử sự trái với quy định của pháp luật dân sự phải gánh chịu
một hoặc một số hậu quả pháp lý nhất định. Tuy vậy, xét về mặt pháp lý, hiện
nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm thế nào là trách
nhiệm dân sự. Bộ luật Dân sự 2005 cũng chỉ quy định chung chung tại Khoản
1 Điều 302: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng

cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm
theo thoả thuận trong hợp đồng khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh, còn bên
tham gia bảo hiểm phải nộp một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế đảm bảo phòng ngừa, hạn
chế và khắc phục kịp thời những tổn thất do bên mua bảo hiểm gây ra cho bên
thứ ba. Vì vậy, dù không khắc phục được hoàn toàn tổn thất xảy ra, bảo hiểm
trách nhiệm dân sự góp phần bình ổn tài chính cho cả bên được bảo hiểm và
bên thứ ba khi người tham gia bảo hiểm gây ra thiệt hại. Bảo hiểm trách
12

nhiệm dân sự chính là bảo hiểm cho những khoản tài chính cần thiết để khắc
phục tổn thất cho người bị thiệt hại. Việc bồi thường của doanh nghiệp bảo
hiểm không phải là toàn bộ thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tài sản
của người mua bảo hiểm mà là những thiệt hại về tài chính mà người đó phải
bồi thường cho người thứ ba cứ vào những tổn thất về tài chính, sức khoẻ,
tính mạng mà họ gây ra cho người thứ ba. Doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường
trên cơ sở thoả thuận của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của
pháp luật nhưng không vượt quá thiệt hại thực hiện của người thứ ba.
Vậy, bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đặc điểm khác với các loại bảo
hiểm khác như thế nào? Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có một số đặc điểm
sau:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có bản chất là một loại hình bảo hiểm phi
nhân thọ, bảo hiểm thiệt hại. Bảo hiểm thiệt hại có nghĩa là bảo hiểm đối với
thiệt hại mà bên mua bảo hiểm đã gây ra cho người thứ ba trong phạm vi
trách nhiệm bảo hiểm và theo giới hạn bảo hiểm đã được các bên thỏa thuận
hoặc pháp luật quy định. Thiệt hại mà bên mua bảo hiểm gây ra cho người thứ
ba có thể là thiệt hại về tài sản, thiệt hại về sức khỏe, thiệt hại do tính mạng bị
xâm phạm. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chính là bảo hiểm cho những khoản
tài chính cần thiết để khắc phục những hậu quả của tai nạn rủi ro cho người bị
thiệt hại căn cứ vào những tổn thất về tài sản, sức khỏe, tính mạng mà người

chung nhưng lỗi trong trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp là lỗi suy
đoán bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện
hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Vì vậy, nếu người gây thiệt hại chứng minh
được thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của bên có quyền
thì họ không phải bồi thường. Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, yếu tố lỗi
14

của người được bảo hiểm có vai trò rất quan trọng, ngoài việc xác định xem
người gây thiệt hại có phải bồi thường hay không, người gây thiệt hại phải bồi
thường toàn bộ, một phần hay liên đới bồi thưòng thiệt hại, từ đó xác định
việc doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ của mình.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự bao giờ cũng có mối liên quan đến chủ
thể thứ ba. Quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm là quan hệ
hợp đồng mà ở đó người bảo hiểm phải bổi thường thay cho người được bảo
hiểm khi trách nhiệm dân sự của họ phát sinh, đó chính là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho người thứ ba. Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự tồn tại
hai mối quan hệ: quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm và
quan hệ giữa người được bảo hiểm và người thứ ba. Giữa người thứ ba và
người bảo hiểm không có mối quan hệ hợp đồng mà họ là bên có quyền đối
với bên được bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp bảo
hiểm chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người được bảo hiểm nhận
được yêu cầu phải bồi thường của người bị thiệt hại. Trong trường hợp phát
sinh thiệt hại nhưng người thứ ba không đòi người được bảo hiểm bồi thường,
người được bảo hiểm không phải bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng
không phải chịu trách nhiệm đối với người được bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro
về trách nhiệm, người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự trước pháp
luật, nhưng doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm trực tiếp với người
bị hại. Nói cách khác trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm với
người thứ ba phát sinh thông qua mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và
người được bảo hiểm và mối quan hệ giữa người được bảo hiểm với người

chủ thể với nhau. Còn về phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao
dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự
thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất
16

định. Bộ luật Dân sự đã định nghĩa Hợp đồng dân sự tại Điều 388 như sau:
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi và
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” [16]. Như vậy, hợp đồng dân sự
không chỉ là sự thỏa thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một
công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏa thuận để thay đổi hay chấm
dứt nghĩa vụ đó. Cùng với hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng mua bán nhà
ở, hợp đồng dịch vụ… hợp đồng bảo hiểm là một trong những loại hợp đồng
dân sự thông dụng.
Điều 571 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Hợp đồng bảo hiểm là
sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo
hiểm còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo
hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” [16]. Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định
hợp đồng bảo hiểm gồm ba loại: Hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng
bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Như vậy, hợp
đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một trong ba loại hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng về bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm với bên tham
gia bảo hiểm , theo đó bên bảo hiểm cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho bên được bảo hiểm nếu sự kiện
bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng còn bên tham gia
bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hợp đồng bảo hiểm
nên nó ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng bảo
hiểm có tính chất đền bù và là hợp đồng song vụ nó có những đặc điểm riêng:
Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đối tượng là trách

hiểm và quan hệ nghĩa vụ giữa người tham gia bảo hiểm với người thứ ba bị
18

thiệt hại. Trong trường hợp này, người thứ ba và trách nhiệm bồi thường của
người tham gia bảo hiểm không thể xác định cụ thể tại thời điểm giao kết hợp
đồng, mà được xác định thông qua việc định trước số tiền bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Thứ hai, trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự lỗi của người
tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại là căn cứ để xác định
trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm, đồng thời cũng là căn
cứ để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm.
Tại Khoản 1 Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người nào
do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài
sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
[16]. Theo đó, nếu không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy
định khác thì người vi phạm phải bồi thường khi có lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý
của người có hành vi gây thiệt hại phản ánh nhận thức của người đố đối với
hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Yếu tố lỗi chưa được quy
định trong pháp luật dân sự. Trên thực tế, lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi
suy đoán, nên người gây thiệt hại bị suy đoán là có lỗi khi thực hiện hành vi
gây thiệt hại, trừ trường hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra trong trường
hợp phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, trong tình thế cấp thiết hoặc hoàn
toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.
Lỗi của người tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại
không chỉ là căn cứ để xác định doanh nghiệp bảo hiểm có phải thực hiện
nghĩa vụ bảo hiểm không, mà còn là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi
thường. Căn cứ vào mức độ lỗi để xác định người gây thiệt hại phải bồi
thường toàn bộ, một phần hoặc liên đới bồi thường, từ đó doanh nghiệp bảo
hiểm xác định trách nhiệm bồi thường của mình.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status