Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM NGỌC MINH HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU
VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP
ĐỒNG DÂN SỰ
VÔ HIỆU
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hµ Néi, n¨m 2006

Chng 1- Mt s vn Lý lun c bn v hp ng dõn s vụ hiu v hu qu
phỏp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
5
1.1. Hp ng dõn s vụ hiu
5
1.1.1. Khỏi nim hp ng dõn s vụ hiu
5
1.1.2. Phõn loi hp ng dõn s vụ hiu
20
1.2.Hu qu phỏp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
24
Chng 2 - Hp ng dõn s vụ hiu v hu qu phỏp lý ca hp ng dõn s vụ
hiu theo quy nh ca phỏp lut vit nam hin hnh
30
2.1. Mt s c im
30

2.1.1. Quy định hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp
đồng dân sự vô hiệu điều chỉnh chung đối với sự vô hiệu của hợp
đồng dân sự, hợp đồng th-ơng mại, hợp đồng lao động và hậu quả
pháp lý của của các loại hợp đồng này.
30
2.1.2. Cách tiếp cận và mối liên hệ của hợp đồng dân sự vô hiệu và
hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu với các quy định
khác trong tổng thể nội dung BLDS
31
2.1.3. Nguyên tắc xác định hợp đồng dân sự vô hiệu
32
2.2. Các tr-ờng hợp hợp đồng dân sự vô hiệu
34

56
2.3.3. Ti sn giao dch, hoa li, li tc b tch thu trong trng
hp phỏp lut cú quy nh
60
2.4. Mt s quy nh khỏc v hp ng dõn s vụ hiu v hu qu
phỏp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
61
2.4.1 Hp ng dõn s vụ hiu tng phn
61
2.4.2 Bo v ngi th ba ngay tỡnh trong trng hp hp ng
dõn s vụ hiu
62
Chng 3 - thc tin ỏp dng phỏp lut v hp ng dõn s vụ hiu v hu
qu phỏp lý ca hp ng dõn s vụ hiu - mt s gii phỏp nhm hon
thin phỏp lut
64
3.1. Thc tin ỏp dng phỏp lut v hp ng dõn s vụ hiu v hu qu
phỏp lý ca hp ng dõn s vụ hiu
64
3.1.1. p dụng quy định chung về hợp đồng dân sự vô hiệu (theo
quy định tại Điều 127 BLDS)
65
3.1.2. áp dụng quy định hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm
của pháp luật, trái đạo đức xã hội
66
3.1.3. ỏp dng quy nh hp ng dõn s vụ hiu do ngi tham
gia giao kt hp ng khụng cú nng lc hnh vi dõn s
70

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN:
BLDS : Bộ luật dân sự
BLHS : Bộ luật hình sự
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân
BLDS năm 1995: Bộ luật dân sự của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc hội thông qua ngày 28.10.1995 (có hiệu lực ngày
1.1.1996)
BLDS năm 2005: Bộ luật dân sự của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005 (có hiệu lực ngày
1.1.2006)
1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể
thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình. Hợp đồng dân sự càng có ý nghĩa
quan trọng trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
giai đoạn hiện nay.
Những quy định về hợp đồng dân sự được quy định tại BLDS Việt Nam
năm 1995 đã tạo ra một hành lang pháp lý cho giao lưu dân sự. Tuy nhiên, các
quy định này được soạn thảo căn cứ vào thực tiễn những năm 1990, trải qua hơn

quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu, phân tích những quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu
quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu không phải là vấn đề mới. Việc nghiên
cứu hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu đã
được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ, dưới những góc độ
khác nhau.
Trước thời điểm BLDS năm 2005 có hiệu lực (1.1.2006), hợp đồng dân sự
vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu đã được đề cập tới trong
nhiều công trình nghiên cứu khoa học, như: Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả
Trần Trung Trực: “Một số vấn đề về giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp
lý của nó”, Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Văn Cường: “Giao dịch
dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”,
“Hợp đồng kinh tế vô hiệu” của TS Lê Thị Bích Thọ (Sách tham khảo) – NXB
Chính trị quốc gia năm 2004. Một số vấn đề có liên quan tới hợp đồng dân sự vô
hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu ở các góc độ hẹp, được
trình bày trong các báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, sau thời điểm BLDS năm 2005 có hiệu lực, mặc dù các quan
điểm và quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu
quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu, cũng như việc áp dụng các quy định 3
này vào thực tế mặc dù có những thay đổi, nhưng lại có rất ít các công trình
nghiên cứu, đặc biệt là những công trình khoa học nghiên một cách hệ thống về
các vấn đề này. Vì vậy, đề tài: “Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
của hợp đồng dân sự vô hiệu” có những giá trị lý luận và thực tiễn nhất định.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm nhận thức sâu sắc và toàn diện về hợp đồng

Tác giả còn sử dụng một số phương pháp, như: Tổng hợp, so sánh luật,
phân tích quy phạm, phân tích án quyết để nghiên cứu đề tài. Mặt khác, trên cơ
sở đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, thực tiễn xã hội, đưa ra những bất cập
của quy định cũ, những điểm phù hợp và chưa phù hợp của quy định mới.
6. Những kết quả nghiên cứu mới
Trong bối cảnh BLDS 2005 mới ban hành, quan điểm và quy định của pháp
luật Việt Nam về hợp đồng dân sự và hợp đồng dân sự vô hiệu có những thay đổi
nhất định. Tác giả đã phân tích, tổng hợp các quan điểm khoa học, các quy định
theo pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về hợp đồng dân sự vô
hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu, để làm rõ cơ sở lý luận và
quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô
hiệu, đồng thời làm sáng tỏ tính kế thừa và phát triển của pháp luật Việt Nam
hiện hành về các quan điểm và quy định này.
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về trong giải quyết các
tranh chấp tại TAND, tác giả đánh giá hiệu quả tích cực trong việc điều chỉnh
các quan hệ về hợp đồng dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng dân
sự vô hiệu, đồng thời cũng chỉ ra một số điểm chưa phù hợp và nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó. Bên cạnh đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của
hợp đồng dân sự vô hiệu.
6. Cơ cấu luận văn
 Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương: 5
 Chương 1- Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng dân sự vô hiệu
và hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu.
 Chương 2 - Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng
dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành.

bên tham gia hợp đồng dân sự bị điều chỉnh của pháp luật thông qua các điều
kiện cụ thể mà các bên phải tuân thủ khi tham gia quan hệ hợp đồng dân sự. Hợp
đồng dân sự sẽ được pháp luật công nhận và có hiệu lực pháp luật khi đáp ứng
được những yêu cầu, điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Ngược lại,
trường hợp những điều kiện trên theo quy định của pháp luật không được thỏa 7
mãn, nghĩa là hợp đồng dân sự đó đã chứa đựng những khiếm khuyết nhất định
thì bị coi là vô hiệu.
Xuất phát từ đó, pháp luật dân sự mỗi nước có thể sử dụng một trong ba
cách điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu như sau:
- Cách thứ nhất, quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự,
để từ đó có căn cứ xác định hợp đồng vô hiệu. Ở đây sẽ dẫn tới một hạn chế: chỉ
thừa nhận những quan hệ hợp đồng dân sự tuân thủ các điều kiện của pháp luật,
nói cách khác các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng dân sự chỉ được phép làm
những gì pháp luật quy định. Bởi vậy, đây là cách tiếp cận cứng nhắc, pháp luật
của rất ít nước điều chỉnh hợp đồng dân sự vô hiệu theo cách này.
- Cách thứ hai, quy định cụ thể các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lẫn
vô hiệu của hợp đồng. Cách điều chỉnh này được nhiều nước như: Pháp, Việt
Nam sử dụng. Điều chỉnh theo cách này chưa hẳn đã khắc phục được hạn chế
như cách điều chỉnh thứ nhất cũng bởi lý do như phân tích ở trên.
- Cách thứ ba, chỉ quy định các trường hợp vô hiệu của hợp đồng dân sự.
Đây là cách tiếp cận của pháp luật dân sự của một số nước như Nhật Bản Theo
cách điều chỉnh này, hợp đồng dân sự được suy đoán là hợp pháp và đương nhiên
có hiệu lực nếu không thuộc vào những trường hợp vô hiệu do pháp luật quy định.
Dù vẫn còn những quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, khoa học pháp
lý và pháp luật các nước thừa nhận những yếu tố sau có thể dẫn đến hợp đồng
dân sự vô hiệu:
a. Không có sự tự nguyện của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng:

- Thể hiện ý chí giả tạo, tức là sự thể hiện ý chí khác với ý chí nội tâm,
được thực hiện thông qua sự thông đồng của các bên giao kết;
- Nhầm lẫn, là sự không trùng hợp hợp giữa ý chí được thể hiện với mong
muốn thực sự của người thể hiện ý chí. Nhầm lẫn khác với không trùng hợp ý
chí cố ý và thể hiện ý chí giả tạo ở chỗ: Bản thân người thể hiện ý chí không biết
được điều đó. Khoa học pháp lý Nhật Bản phân biệt: Nhầm lẫn trong sự thể hiện,
nhầm lẫn về nội dung và nhầm lẫn về động cơ. Trong đó, nhầm lẫn về các nội
dung chủ yếu của hợp đồng sẽ dẫn đến hợp đồng vô hiệu.
Tì vết của sự thể hiện ý chí, trong trường hợp bị lừa dối, ép buộc: 9
- Lừa dối: Là hành vi trái pháp luật làm cho người khác bị nhầm lẫn, và nếu
như người đó do bị nhầm lẫn mà thực hiện sự thể hiện ý chí, thì được coi là
thể
hiện do bị lừa dối.
Khác với trường hợp nhầm lẫn thông thường, ở đây không cần có sự nhầm
lẫn về nội dung chủ yếu của sự thể hiện ý chí. Chỉ cần chứng minh được sự thể
hiện ý chí được thực hiện do lừa dối, không phụ thuộc vào việc đó có phải là
nhầm lẫn nội dung chủ yếu hay không. Cho nên, nếu có sự nhầm lẫn xảy ra do
hành vi lừa dối không phụ thuộc vào hình thức thể hiện, thì đó chính là sự thể
hiện ý chí do bị lừa dối.
Hợp đồng dân sự có sự thể hiện ý chí do bị lừa dối sẽ bị xóa bỏ (tương ứng
với loại hợp đồng vô hiệu tương đối – sẽ trình bày ở phần sau). Trong trường
hợp nếu người thể hiện ý chí bằng lòng với kết quả của hành vi pháp lý và không
muốn xóa bỏ nó thì sự thể hiện ý chí được công nhận là có hiệu lực. Trường hợp
ngược lại, người đó có quyền xóa bỏ sự thể hiện ý chí và phủ nhận hiệu lực của nó.
Có hai điểm hạn chế đối với việc xóa bỏ sự thể hiện ý chí được thực hiện do
lừa dối:
+ Thứ nhất, nếu hành vi lừa dối do người thứ ba thực hiện thì sự thể hiện ý

Đồng thời, có sự phân biệt năng lực trở thành người tiếp nhận ý chí khác cơ bản
với năng lực thể hiện ý chí và năng lực hành vi nói chung – tức là khác với vị
thành niên và người không có năng lực hành vi, người có năng lực hành vi hạn
chế (những có khuyết tật về thể chất như người mù, điếc, câm cũng bị coi là
hạn chế năng lực hành vi). Đối với vị thành niên và người bị công nhận không có
năng lực hành vi thì nội dung của sự thể hiện ý chí phải được truyền đạt đến
người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, trong lĩnh vực mà theo ngoại lệ vị
thành niên được coi là có năng lực hành vi thì họ cũng có năng lực trở thành
người tiếp nhận sự thể hiện ý chí. Bởi vậy, những hợp đồng dân sự mà bên đối
tác không thể tiếp nhận sự thể hiện ý chí của sẽ bị coi là vô hiệu.
Trong pháp luật dân sự Pháp, một trong bốn điều kiện cơ bản để hợp đồng
dân sự có hiệu lực là phải có sự thỏa thuận của các bên cam kết. Nhưng sự thỏa 11
thuận đó trong hợp đồng sẽ không có giá trị (bị vô hiệu hoặc hủy bỏ) nếu nó đạt
được do bị nhầm lẫn, bị đe dọa và bị lừa dối. Căn cứ này được ghi nhận tại các
quy định từ Điều 1109 đến Điều 1117 BLDS, cụ thể:
- Sự nhầm lẫn chỉ là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, nếu sự nhầm lẫn về
bản chất của vật hoặc sự việc là đối tượng của hợp đồng. Pháp luật không coi
nhầm lẫn về người mà mình có ý định giao kết là căn cứ để xem xét hợp đồng vô
hiệu, trừ khi việc xem xét thân nhân của người đó là căn cứ chính của việc giao
kết hợp đồng.
- Bạo lực đối với người giao kết hợp đồng là một căn cứ làm cho hợp đồng
vô hiệu, dù bạo lực ấy được thực hiện bởi người thứ ba không phải là người
được hưởng lợi ích do việc giao kết hợp đồng. Tính chất và mức độ của bạo lực
dẫn đến hợp đồng dân sự vô hiệu được xác định cụ thể, đó là: Phải gây ấn tượng
đối với một người có lý trí bình thường và làm cho người đó lo sợ rằng có thể bị
tổn thất nghiêm trọng với tính mạng, tài sản của chính mình hoặc với vợ, chồng,
tôn thuộc, ti thuộc của mình. Mức độ bạo lực còn được xem xét cụ thể trong mối

không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng), tuy nhiên pháp
luật dân sự Thái Lan không bảo vệ người mà sự nhầm lẫn đó là do sự khinh suất
nghiêm trọng của người đó. Trường hợp thứ hai, nếu hợp đồng có sự nhầm lẫn
về năng lực của người hay phẩm chất của vật và các năng lực hay phẩm chất đó
coi là quan trọng trong những giao dịch bình thường hợp đồng có thể bị vô hiệu.
- Hợp đồng giao kết do có sự “gian trá” hoặc “cưỡng bức” thì có thể bị vô
hiệu. Pháp luật dân sự Thái Lan có xem xét đến mức độ gian trá và cưỡng bức.
Trong đó, sự gian trá phải đến mức độ: Nếu không có sự gian trá đó, thì sự thỏa
thuận không được thực hiện; Hoặc sự cưỡng bức phải đến mức nó gây ra cho
người bị tác động bởi sự cưỡng bức đó nỗi lo sợ có cơ sở về thiệt hại xảy ra cho
bản thân, gia đình hoặc tài sản của người đó, rằng nó sắp xảy ra đến nơi và tương
đương, ít nhất với sự thiệt hại mà người đó lo sợ từ hành vi bị ép buộc.
Như vậy, khoa học pháp lý và pháp luật dân sự các nước ghi nhận các
trường hợp: Hợp đồng giao kết do giả tạo, bị nhầm lẫn, bị lừa dối hoặc bị đe dọa
là yếu tố phổ biến ảnh hưởng đến sự tự nguyện của các bên trong quan hệ hợp
đồng. Ngoài ra, những trường hợp khác như các bên tham gia hợp đồng không 13
thể hiện ý chí đúng đắn hoặc tiếp nhận ý chí từ phía bên kia cũng được pháp luật
một số nước nhìn nhận như là không có sự tự nguyện. Đây là yếu tố có thể dẫn
đến sự vô hiệu của hợp đồng dân sự.
b. Không đảm bảo năng lực giao kết hợp đồng:
Để đảm bảo sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia, điều
kiện cần: những người có ý chí độc lập, có khả năng nhận thức được hành vi của
họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng dân sự. Trường hợp ngược lại, người không có năng lực hành vi dân sự
giao kết hợp đồng dân sự thì bị coi là không thể có khả năng biểu lộ ý chí đích
thực của họ – do đó không thể có sự tự nguyện. Do vậy, một trong các yếu tố mà
khoa học pháp lý và pháp luật dân sự các nước sử dụng để để xác định hợp đồng

mù là có năng lực hành vi hạn chế nếu bị Tòa án và gia đình công nhận như
vậy. Họ có thể thực hiện một số giao dịch (hợp đồng) không cần sự đồng ý của
người giám hộ. Nhưng trường hợp người này thực hiện giao dịch hành vi mà
BLDS quy định phải có sự đồng ý của người giám hộ, nếu người giám hộ không
đồng ý mà họ vẫn thực hiện thì hành vi đó bị hủy bỏ và theo thủ tục như đối với
vị thành niên.
BLDS và Thương mại Thái Lan có những quy định tương tự, hợp đồng dân
sự có thể bị vô hiệu do người giao kết không có năng lực chủ thể. Tại Điều 116:
“Một hành vi pháp lý không tuân theo những yêu cầu về khả năng (năng lực) của
thể nhân, pháp nhân thì có thể bị vô hiệu”.
BLDS Pháp quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu do không chủ thể không
có năng lực giao kết hợp đồng (vô năng) được ghi nhận tại các điều từ Điều 1123
đến Điều 1125 BLDS Pháp, theo đó những người không có năng lực giao kết
hợp đồng được xác định trong hai trường hợp:
- Người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), chưa được quyền tự lập;
- Người thành niên, nhưng được pháp luật bảo hộ. Những người này được
quy định chi tiết hơn tại Điều 448 BLDS, đó là những người năng lực cá nhân bị
biến đổi lâm vào tình trạng không thể thực thi được các quyền của mình; hoặc
người do tiêu sài hoang phí, do lối sống vô độ hoặc do ăn không ngồi rồi mà rơi 15
vào cảnh nghèo túng hoặc làm nguy hại đến việc thực hiện nghĩa vụ gia đình của
mình.
Quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu trong trường hợp những
người giao kết không đủ năng lực giao kết hợp đồng thuộc về người chưa thành
niên hoặc đại diện của những người đó. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các
bên, pháp luật không thừa nhận việc người giao kết hợp đồng với những người
vô năng đưa ra lý do vô năng của những người đó.
Như vậy, pháp luật dân sự các nước đều thừa nhận những hợp đồng dân sự

ràng các trường hợp, đó là: Hợp đồng dân sự vô hiệu do trái quy định pháp luật
bắt buộc [20,tr. 123-126] và vô hiệu do vi phạm trật tự công cộng và đạo đức xã
hội [20, tr. 126-130]. Theo đó:
Một là, tự do thực hiện hợp đồng chỉ được thừa nhận ở mức độ, nếu giao
kết đó không vi phạm vi phạm pháp luật về trật tự công cộng (Điều 91 BLDS).
Ngược lại, nếu trái quy định đó thì hợp đồng không có hiệu lực. Ví dụ: Điều 175
BLDS mở đầu phần quyền về tài sản quy định: Ngoài các phần quyền về tài sản
do BLDS và các văn bản pháp luật khác quy định, không thể có bất cứ loại
quyền về tài sản nào khác. Quy định bắt buộc này cũng có những phương pháp
điều chỉnh khác nhau: Có thể là cấm một số hành vi nhất định và quy định hình
phạt với người vi phạm, hoặc yêu cầu phải có sự chấp thuận hoặc cho phép của
cơ quan có thẩm quyền đối với các hoạt động nhất định hoặc thực hiện một hành
vi nào đó
Pháp luật dân sự quy định bắt buộc bao gồm:
+ Các quy định về quan hệ nhân thân phi tài sản (pháp luật dân sự Nhật
Bản coi một số quan hệ này cũng là hợp đồng). Ví dụ: Hợp đồng hôn nhân với
vợ hai, hợp đồng thay đổi thủ tục công nhận người thừa kế đều không có hiệu
lực;
+ Quy định về hình thức và nội dung quyền về tài sản, bởi quyền đó trực
tiếp liên quan đến quyền lợi của người thứ ba… Hạn chế này xuất phát từ tính
phức tạp của quan hệ kinh tế hiện đại, nhằm đảm bảo tính ổn định, linh hoạt và
xác định của hợp đồng. Ví dụ: Giao dịch liên quan tới bất động sản nếu không
được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật có thể dẫn đến vô hiệu. 17
+ Quy định hạn chế lãi xuất, trợ cấp xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi của
một số người nhất định.
Hai là, Một số hợp đồng mặc dù không có quy định pháp luật nghiêm cấm
những vẫn bị coi là vô hiệu vi phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội (Điều

đến Điều 1130 BLDS. Theo đó, hợp đồng nào cũng có đối tượng là một vật mà
một bên cam kết chuyên giao hoặc một việc mà một bên cam kết làm hoặc
không làm. Vật là đối tượng của hợp đồng phải trong thương mại (được phép
giao dịch) và ít nhất phải được xác định về chủng loại. Những vật sẽ có cũng có
thể là đối tượng của hợp đồng. Bởi vậy, những hợp đồng mà đối tượng không
đáp ứng được yêu cầu trên sẽ vô hiệu.
Như vậy, xuất phát từ góc độ bảo vệ trật tự công, ổn định giao lưu dân sự
cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên pháp luật các nước
đều thừa nhận yếu tố trái pháp luật và đạo đức xã hội dẫn đến sự vô hiệu của
hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật cũng như quan niệm đạo đức
xã hội có những điểm khác nhau xuất phát từ khác nhau về trình độ lập pháp,
điều kiện kinh tế – xã hội… của mỗi nước.
d. Vi phạm quy định của pháp luật về hình thức của hợp đồng:
Hình thức là biểu hiện của nội dung hợp đồng. Xuất phát từ nguyên tắc tự
do hợp đồng, các bên tự do lựa chọn hình thức biểu hiện nội dung hợp đồng. Do
vậy, pháp luật dân sự nhiều nước không coi hình thức hợp đồng dân sự là một
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự, nhưng điều đó không có nghĩa là có
thể miễn trừ hoàn toàn các đòi hỏi về hình thức, bởi đều nhìn nhận sự cần thiết
phải có sự can thiệp của nhà nước đối với một số giao dịch đảm bảo, nhằm bảo
vệ lợi ích của các bên và lợi ích công cộng. Do đó, đều đưa ra các đòi hỏi về
hình thức đối với các giao dịch này.
Trước hết, những hợp đồng này phải được thể hiện bằng văn bản, những
trường hợp chặt chẽ hơn nó còn phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Những trường hợp này, hợp đồng vẫn phải tuân thủ những hình thức nhất
định, nếu không sẽ bị vô hiệu Pháp luật dân sự một số nước khác quy định rõ,
hình thức là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, do vậy hợp đồng vô hiệu
nếu không tuân theo hình thức nhất định. 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status