Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO DUY VƯƠNG

THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2007

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TOÀ ÁN CẤP PHÚC THẨM
3.1. Nhu cầu hoàn thiện về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc
thẩm
3.2. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
3.2.1. Các nguyên nhân khách quan
3.2.2. Các nguyên nhân chủ quan
3.3. Phương hướng nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm
3.3.1. Phương hướng chung
3.3.2. Nội dung hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
cấp phúc thẩm
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Đề tài: "Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm theo
pháp luật Việt Nam"

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Tòa án nhân danh Nhà
nước ra các phán quyết bảo đảm cho quyền, lợi ích của các cá nhân, cơ quan,
tổ chức và lợi ích của nhà nước. Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án
có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập

từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 15 tháng 6 năm 2004 đã thông qua Bộ luật tố
tụng dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Đây là hành lang pháp lý cơ
bản, quan trọng bảo đảm cho Tòa án giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu về
dân sự, là cơ sở cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện các quyền tố tụng
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. So với các văn bản pháp luật tố
tụng dân sự trước kia thì Bộ luật tố tụng dân sự là những quy định hoàn thiện
nhất, đầy đủ nhất của pháp luật tố tụng dân sự nước ta về thủ tục phúc thẩm
dân sự, bảo đảm tính thống nhất, tính đồng bộ trong việc giải quyết các vụ án
dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự trong một vài
năm qua cho thấy còn nhiều điều bất cập, nhiều vấn đề lý luận của thủ tục giải
quyết các vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm chưa được làm rõ, tính chất của việc
xét xử phúc thẩm chưa được nhận thức một cách đầy đủ, các quy định của Bộ
luật về căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm, đối tượng của xét xử phúc thẩm,
vấn đề cung cấp chứng cứ, phạm vi của xét xử phúc thẩm hay quyền hạn của
Tòa án cấp phúc thẩm chưa được cụ thể còn nhiều bất cập, dẫn đến tình
trạng vi phạm về thời hạn xét xử, tỷ lệ các bản án, quyết định phúc thẩm bị
hủy theo thủ tục giám đốc, tái thẩm còn nhiều làm giảm sút lòng tin của quần 3
chúng nhân dân đối với hệ thống Tòa án nói riêng và các cơ quan tư pháp nói
chung.
Chính vì vậy, tại Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới”; Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định
hướng 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
“về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đều nhấn mạnh việc hoàn
thiện pháp luật tố tụng, bảo đảm các phiên tòa diễn ra thực sự dân chủ,
nghiêm minh, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân.

Liên bang Nga, Luật tố tụng dân sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa,
Luật tố tụng dân sự của Nhật Bản, Thái Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển hay Đài
Loan, chỉ mang tính chất so sánh, thông tin khoa học, để từ đó đưa ra quan
điểm nghiên cứu trong từng lĩnh vực.
3. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ những vấn đề về lý luận và
thực tiễn của thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa phúc thẩm theo tố tụng
dân sự Việt Nam. Qua đó, làm rõ được tính chất của xét xử phúc thẩm, những
quy định phù hợp, những cơ chế còn bất cập và đề xuất những nội dung,
những vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định này.
Do giới hạn của một luận văn thạc sĩ luật học, luận văn này không đi
sâu tìm hiểu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục thụ lý, chuẩn
bị xét xử, thủ tục xét xử tại phiên tòa hay quyền hạn của Tòa án, Hội đồng
xét xử phúc thẩm như quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự mà chỉ đi sâu tìm
hiểu, làm rõ một số vấn đề có tính chất cơ bản, cốt lõi và còn có những hạn
chế, bất cập cả trên phương diện điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật
của thủ tục phúc thẩm dân sự như: khái niệm, tính chất của thủ tục giải quyết 5
vụ án dân sự tại Tòa phúc thẩm, các căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm,
quyền kháng cáo, kháng nghị, đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc
thẩm, vấn đề cung cấp chứng cứ, vấn đề phạm vi của việc xét xử phúc thẩm,
thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm…
Về thời gian tham khảo số liệu thực tiễn, luận văn chủ yếu sử dụng số
liệu và tư liệu của ba năm, từ năm 2004 (năm Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu
lực thi hành) đến năm 2006.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học
Khi nghiên cứu luận văn, chúng tôi dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan

thẩm dân sự.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
kết cấu thành 3 chương :
Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại
Tòa án cấp phúc thẩm
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại
Tòa án cấp phúc thẩm và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Nhu cầu và nội dung hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM 1.1. Khái niệm thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự
Trong xã hội có giai cấp, để duy trì trật tự xã hội, Nhà nước thông qua
việc sử dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ
thống các cơ quan Nhà nước được thành lập ra để thi hành các nhiệm vụ cụ
thể nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Tòa án là một cơ quan đặc
biệt, thể hiện quyền lực của Nhà nước trong họat động tư pháp, là cơ quan
nhân danh Nhà nước. Qua hoạt động xét xử, ra các phán quyết để phân định
quyền, nghĩa vụ cho các bên tham gia trong vụ kiện. Trong lĩnh vực dân sự,
lợi ích như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự [56, tr 70], không có một cơ
quan phán xử công minh chắc chắn không thể giải quyết dứt điểm các mâu
thuẫn về lợi ích trong xã hội.

chung nhất hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động của các cơ quan và các
cá nhân được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra
những quyết định pháp lý có tính bắt buộc [58, tr 144]. Việc xét xử của Tòa
án, tùy theo tính chất của thủ tục xét xử vụ án, mà có các thủ tục diễn ra tại
các cấp xét xử đó là xét xử sơ thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp sơ thẩm, xét
xử phúc thẩm được diễn ra tại Toà án cấp phúc thẩm Mỗi thủ tục xét xử có
một đặc thù mang tính chất pháp lý khác nhau.
Phúc thẩm về mặt ngôn ngữ học là việc Tòa án cấp trên xét xử lại một
vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án [28, tr 790].
Theo Từ điển thuật ngữ luật học về dân sự, hôn nhân và gia đình và tố
tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội thì phúc thẩm là việc Tòa án cấp 9
trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp
tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, sửa những sai lầm và vi phạm
của Tòa án sơ thẩm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật [27, tr 378].
Theo Điều 242 Bộ luật tố tụng dân sự, phúc thẩm : ‘‘là việc Tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị".
Như vậy, hiểu theo cách hiểu của ngôn ngữ hay quy định của luật thực
định thì khái niệm phúc thẩm cũng bao gồm ba yếu tố hợp thành:
- Là việc của Tòa án cấp trên trực tiếp;
- Xét lại bản án (hoặc xét xử lại vụ án);
- Bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Từ khái niệm phúc thẩm trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phúc
thẩm, theo đó, thủ tục phúc thẩm là thủ tục xem xét lại tính hợp pháp tính, có
căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm là một giai

Nam coi là nguyên tắc cơ bản. Trong các nguyên tắc hoạt động của Tòa án.
Từ ngay trong những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về tố tụng dân sự.
Trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về sự phân công giữa các
nhân viên trong Toà án đã quy định Toà án đệ nhị cấp có thẩm quyền phúc
thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm. Toà án Thượng
thẩm có quyền chung thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án Đệ nhị
cấp. Tại Thông tư số 1459/HCTP của Bộ Tư pháp ngày 19/8/1955 nhấn 11
mạnh: ‘‘Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của
nhân dân cần phải được bảo đảm". Điều 9 Luật Tòa án nhân dân năm 1960
quy định "Tòa án nhân dân thực hành chế độ 2 cấp xét xử". Tại Công văn số
614/DS ngày 24/4/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về việc vi phạm thủ tục
tố tụng có hướng dẫn "Một trong những nguyên tắc cơ bản của Tòa án là 2
cấp xét xử, đương sự có quyền chống bản án của Tòa án nhân dân xử sơ thẩm
lên Tòa án nhân dân trên một cấp, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và trên
một cấp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân’’ (Mục
III). Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 quy định rõ về chức năng của
Tòa án cấp phúc thẩm là: "xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự
sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị’’.
Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định:
"1. Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm
của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do
Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án,
quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật".
2- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát
hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ

cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị. Hoặc là 30 ngày đối với bản án, 10
ngày đối với quyết định thì Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng
nghị bản án, quyết định. Thông qua kháng cáo, kháng nghị họ thể hiện sự bất
đồng quan điểm của họ đối với bản án, quyết định của Toà án đồng thời đưa
ra những ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình về việc giải quyết vụ án.
Khi có kháng cáo, kháng nghị việc xem xét, giải quyết phúc thẩm là bắt
buộc. Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành kiểm tra tính hợp pháp và tính có 13
căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị đồng
thời xem xét lại các phần khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
+ Tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm:
Tính hợp pháp của bản án, quyết định dân sự sơ thẩm thể hiện ở chỗ
không những bản án và quyết định dân sự sơ thẩm đó phải phù hợp với những
quy định của pháp luật về nội dung mà còn phải tuân thủ đúng những quy
định của pháp luật về tố tụng.
Tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm thể hiện ở chỗ không
những bản án, quyết định dân sự sơ thẩm đó phải phù hợp với các sự kiện
thực tế, thể hiện đúng bản chất của sự việc mà nó còn thể hiện là: tất cả các
tình tiết, các chứng cứ của vụ án phải được kiểm chứng hợp pháp tại phiên
tòa, tình tiết vụ án phải khách quan, phải được thu thập, xác định theo đúng
các thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Xem xét lại nội dung vụ án ở cấp phúc thẩm là đi sâu xác định tính chất
của vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được Tòa án cấp sơ thẩm thu thập và các
chứng cứ mới xuất hiện tại Tòa án cấp phúc thẩm. Pháp lệnh thủ tục giải
quyết của vụ án Dân sự 1993 và các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
Kinh tế, Lao động đều quy định cụ thể phạm vi, trách nhiệm của Tòa án cấp
phúc thẩm là: "Khi xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sử dụng chứng cứ
do các đương sự cung cấp hoặc do Tòa án, viện kiểm sát thu thập thêm.

luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan
của vụ án thì lại là căn cứ để Tòa án cấp trên (cấp giám đốc thẩm) hủy bản án,
quyết định sơ thẩm, phúc thẩm.
Tính hợp pháp và tính có căn cứ là hai yêu cầu bắt buộc đối với các bản
án và quyết định của Tòa án khi giải quyết các vụ việc dân sự. Bản án, quyết
định của Tòa án chỉ có thể coi là đúng luật khi các quyết định đó dựa trên các
căn cứ rõ ràng, khách quan và phù hợp với các quy định của pháp luật. Tính
hợp pháp và có căn cứ là hai yêu cầu tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ với 15
nhau không thể coi nhẹ yếu tố nào. Khác với việc xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật là cấp giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ thường xem xét các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ chứ ít có những chứng cứ mới phát sinh bởi
khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì thường không triệu tập đương sự,
phiên tòa không mở công khai. Còn khi xét xử phúc thẩm thì phiên tòa mở
công khai, tất cả các đương sự, những người tham gia tố tụng có liên quan đều
được triệu tập. Tất cả các chứng cứ đều được xem xét, tranh luận tại phiên
toà, tất cả các nội dung có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến nội
dung kháng cáo, kháng nghị đều đưa ra xem xét tranh luận cụ thể và nếu có
căn cứ đều được xem xét cải sửa cho phù hợp. Như vậy, qua phân tích những
quy định của pháp luật thì thấy tính chất của phúc thẩm dân sự chính là việc
Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
1.3. Ý nghĩa của phúc thẩm dân sự
Khi có sự tranh chấp về quyền, lợi ích nói chung mà các bên tranh chấp
không tự giải quyết được với nhau hay khi có một sự kiện pháp lý nào đó xảy
ra có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong các
quan hệ dân sự thì cá nhân tổ chức có liên quan ấy có quyền làm đơn đề nghị
Tòa án xem xét giải quyết các yêu cầu của họ, khi các đương sự đã thực hiện

quy định "bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án" [6, tr
81], thì việc áp dụng các quy định của tố tụng dân sự trong giai đoạn phúc
thẩm vụ án dân sự có một ý nghĩa đặc biệt.
+ Ý nghĩa về mặt chính trị :
Qua xét xử vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm, hội đồng xét xử
phúc thẩm, khắc phục những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định
chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp 17
của cá nhân cũng như các lợi ích tập thể được thực hiện trong thực tế. Góp
phần bảo vệ pháp chế XHCN [25, tr 296]. Trong xã hội, các lợi ích chính
đáng của cá nhân, tổ chức, của cộng đồng được bảo vệ thì trật tự chính trị xã
hội được ổn định, pháp luật được tôn trọng làm tiền đề cho việc xây dựng một
Nhà nước pháp quyền vững mạnh. Bởi hai vấn đề cơ bản của Nhà nước pháp
quyền là dân chủ và tổ chức quyền lực Nhà nước. Trong đó vai trò của pháp
luật được đề cao. Đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền đó là: Phải tạo được ý
thức cao trong pháp luật hay quản lý xã hội, quản lý Nhà nước xác định đúng
đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân, tính hợp hiến của các thể
chế, tổ chức, chính sách và toàn bộ hệ thống pháp luật và vấn đề tổ chức
quyền lực Nhà nước [50, tr 213-219]. Với việc xét xử công khai, với tư cách
xem xét, khắc phục lại những thiếu sót có thể có của bản án, quyết định sơ
thẩm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể bảo đảm hài hòa lợi ích của
Nhà nước và của công dân, thì thông qua các phán quyết chính xác, khách
quan tại cấp phúc thẩm thể hiện quan điểm của Nhà nước đấu tranh với hành
vi bị coi là không đúng pháp luật, buộc người có hành vi phạm phải khắc
phục, bồi thường đối hậu quả mà họ đã gây ra. Trên cơ sở trách nhiệm, nghĩa
vụ đó họ tự ý thức được những xử sự mà họ đã thực hiện là phù hợp mới pháp
luật hay không, qua cách thức ấy thủ tục phúc thẩm dân sự góp phần tạo được
ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã, hội quản lý Nhà nước.

Đảng với Nhà nước.
+ Ý nghĩa về mặt pháp lý :
Xét xử phúc thẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự.
Thông qua phúc thẩm, Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của
Tòa án cấp dưới, qua đó có thể tìm ra những nguyên nhân, khắc phục những
thiếu sót, những lỗ hổng của chính các quy định của pháp luật về nội dung và
về hình thức từ đó có những định hướng chỉ đạo kịp thời nâng cao chất lượng
xét xử của Tòa án nhân dân các cấp nói chung và của đội ngũ thẩm phán xét 19
xử của Tòa án cấp sơ thẩm nói riêng. Thực hiện cơ chế xét xử hai cấp thì có
thể nói, bản án quyết định của Tòa án phúc thẩm như là khuôn mẫu, là những
định hướng trong hoạt động xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, bởi nhiều khi có
những vụ việc phức tạp,có nhiều quan điểm khác nhau về việc giải quyết vụ
án, thì những bản án trước đây của Tòa án cấp phúc thẩm thường được đưa ra
xem xét như là điều kiện quan trọng để áp dụng xử lý các vụ kiện sau này.
Mặc dù tố tụng dân sự Việt Nam không quy định bắt buộc trong việc áp dụng
"án lệ". Nhưng những kinh nghiệm, đường lối xét xử của Tòa án cấp trên
thường thực tế vẫn được đem ra để phân tích áp dụng một cách phù hợp.
Những quan điểm đường lối xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm cần phải là
những định hướng, những cơ sở pháp lý vững chắc cho cấp sơ thẩm vận dụng
sau này. Nó đảm bảo sự vận dụng pháp luật một cách thống nhất, tạo ra lòng
tin của người dân đối với pháp luật, đối cơ quan Tòa án điều đó cũng đòi hỏi
chất lượng xét xử của cấp phúc thẩm phải được nâng lên, thực sự trở thành
nơi đem lại sự công bằng, minh bạch, giải tỏa hết tâm lý bức xúc được thua
trong các quan hệ có tranh chấp, đáp ứng được lòng mong mỏi của mỗi người
dân, tạo niềm tin tuyệt đối của họ vào pháp luật và cơ quan Tòa án.
1.4. Đối tượng của xét xử phúc thẩm dân sự
Đối tượng là những vật, hiện tượng mà con người nhằm vào, trong suy

giá trị vật chất nhất định. Khi tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án Tòa án không
xóa tên vụ án mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số ngày tháng năm của quyết định
tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đó. Toà án cũng không xử lý về số tiền
mà đương sự đã nộp như tiền tạm ứng án phí, tiền chi phí định giá hay tiền
chi phí giám định. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do
tạm đình chỉ không còn.
Đình chỉ việc giải quyết vụ án là việc Tòa án cấp phúc thẩm làm ngừng
lại, chấm dứt các thủ tục để giải quyết vụ kiện. Đình chỉ vụ kiện dân sự tại
Tòa án cấp phúc thẩm là một quyết định hết sức quan trọng nó liên quan trực 21
tiếp đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Việc đình chỉ việc giải quyết vụ án
được hiểu là vụ án đã được giải quyết xong.
Thường các đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự, khi
quyết định đình chỉ đã có hiệu lực pháp luật chỉ trừ một số trường hợp, đó là
trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp
nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Hay trong trường hợp
nguyên đơn đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc trường
hợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp,
hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên
quan đến nghĩa vụ Tài sản của doanh nghiệp đó, hợp tác xã đó (Điều 192
BLTTDS) và chỉ trong các trường hợp này thì đương sự mới có quyền khởi
kiện lại vụ án.
Việc đình chỉ của Tòa án phúc thẩm có thể dẫn đến các hậu quả khác
nhau. Phụ thuộc vào từng lý do của việc đình chỉ. Có thể dẫn đến việc kết
thúc việc giải quyết tranh chấp và giữ nguyên trạng thái ban đầu như trước
khi xảy ra tranh chấp, đó là các trường hợp: "Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá
nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; Hay trường
hợp cơ quan tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status