PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh,
thương mại, dân sự ngày càng đa dạng và không ngừng phát triển trong tất
cả mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư Vấn đề lựa chọn
phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phải được
các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt
được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian
và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy, khi lựa chọn
phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc
các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để có quyết định hợp lý.
Với đề tài “Trình bày trình tự , thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự ”
nhóm chúng em muốn làm rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế khi giải
quyết những tranh chấp dân sự bằng phương thức giải quyết qua cơ quan
tòa án.
3.Nội dung nghiên cứu
Nhóm chúng em nghiên cứu đề tài “Trình bày trình tự, thủ tục giải
quyết tranh chấp dân sự” . Nội dung nghiên cứu bao gồm 3 chương và
phần cuối là quan điểm của nhóm chúng em.
Chương 1: Đôi nét về ngành luật tố tụng dân sự
1
Chương 2: Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp dân sự .
Chương 3: Những hạn chế, vướng mắc trong trình tự, thủ tục giải quyết
tranh chấp dân sự và một số giải pháp khắc phục.
*Quan điểm của nhóm
3. Kết quả nghiên cứu
4. Kết luận - Đề xuất
NỘI DUNG
Chương 1
ĐÔI NÉT VỀ NGÀNH LUÂT TỐ TỤNG DÂN SỰ
giữa pháp nhân với nhau, tranh chấp về hôn nhân gia đình, yêu cầu tuyên bố
mất tích hoặc tuyên bố chết, khiếu nại về đăng ký hộ tịch về danh sách cử
tri, khiếu nại đối với cơ quan báo chí.
3
CHƯƠNG 2
TRÌNH TỰ , THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ
2.1 Giai đoạn khởi kiện và thụ lí vụ án
Giai đoạn một : Khởi kiện cấp sơ thẩm[3]
1-Viết đơn khởi kiện theo mẫu quy định kèm theo bản sao chứng thực và
chứng cứ của phiên hòa giải không thành công ở UBND Phường (Xã). Chú
ý thời hiệu.
2-Có thể giử đơn khởi kiện đến UBND Quận (Huyện) theo đường bưu điện
bảo đảm, nên đến Tòa nộp để đề nghị viết giấy biên nhận chứng cứ.
3-Tòa gửi thì mang thông báo nộp tạm ứng án phí tới chi cục thi hành án
Dân sự Quận (Huyện) để nhận hai biên lai rồi trở qua nộp cho Tòa sơ thẩm
1, còn một đương sự giữ. Chú ý phải nộp tạm ứng án phí và nộp biên lai cho
Tòa trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.
4-Thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ Luật
Tố Tụng Dân Sự, như ghi lời khai bổ sung chứng cứ, thay đổi yêu cầu khởi
kiện hoặc rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa lấy lời
khai nhân chứng, thẩm định tại chỗ, thu thập hộ chứng cứ, định giá, v.v
5-Nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở phiên tòa, thì
làm đơn xin Tòa cho biết những tài liệu chứng cứ của Tòa thu thập và phía
bên kia cung cấp (mẫu đơn số 3) để làm cơ sơ viết (mẫu đơn số 4), xin Tòa
sao chụp tài liệu, chứng cứ cần thiết để nghiêm cứu xây dựng nội dung
tranh luận bảo vệ quyền lợi cho mình hoặc để khiếu nại. Quyết định áp dụng
biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa.
6-Dự phiên Tòa : Khai báo lý lịch trích ngang cho Hội đồng xét xử, trả lời
câu hỏi của (HĐXX) và Luật sư bảo vệ quyền lợi ích của đương sự. Nếu
thấy rõ vấn điều cần hỏi phía bên kia để làm sáng tỏ vụ án thì đề xuất với
định thẩm quyền của Tòa án mình đối với việc giải quyết vụ án, để quyết
định thụ lý hay trả lời đơn kiện.
+ Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Tòa án phải thông
báo ngay cho người khởi kiện đến làm thủ tục tạm ứng án phí.
+ Trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được giấy báo của Tòa về việc nộp tiền
người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí. Nếu người khởi kiện được miễn
hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thụ lý ngay sau khi nhận
được đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo.
-Tòa án phải phân công một thẩm phán giải quyết vụ án. Trường hợp đang
xét xử mà không có thẩm phán dự khuyết thì vụ án được xét xử lại từ đầu.
-Trong thời hạn 3 ngày (không tính ngày nghỉ), kể từ ngày thụ lý Tòa án
phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân cơ quan tổ chức có quyền
lợi và nghĩa vụ về việc thụ lý vụ án.
+Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được
thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của
người khởi kiện.
+ Nếu muốn gia hạn thì người thông báo phải có đơn gửi tới Tòa án nêu
rõ lý do. Việc gia hạn, nếu được chấp nhận thì cũng không quá 15 ngày.
-Người được thông báo có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao
chụp đơn kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn kiện.
.
6
-Sau khi thụ lý các vụ việc dân sự nếu xét thấy các vụ việc dân sự đó
không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Tòa ra quyết định chuyển
hồ sơ vụ việc cho Tòa án có thẩm quyền theo quyết định tại khoản 1 Điều 37
BLTTDS, đồng thời gửi ngay quyết định hồ sơ vụ việc cho VKS cùng cấp
biết.
+Thủ tục chuyển hồ sơ vụ án dân sự
-Tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc từ Tòa án sang VKS và ngược lại,
cần kiểm tra tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án dân sự đó. Người nhận
đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương
lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh
chấp).
Hòa giải là hành vi thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc
xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng là giải quyết các tranh chấp, bất
đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc các bên dàn xếp, thương
lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải là bên tranh
chấp).
8
Hòa giải theo quy định của pháp luật: Là các loại hình hòa giải được pháp
luật các nước quy định, theo đó việc hòa giải là một khâu trong trình tự, thủ
tục tiến hành tố tụng, hoặc thiết lập một thể chế hòa giải ở địa phương.
Ở Việt Nam hiện nay, việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao
động, các vụ án hôn nhân - gia đình tại toà án nhân dân hay tại một tổ chức,
hay tại Hội đồng trọng tài đều thông qua khâu hòa giải như một thủ tục bắt
buộc.
- Trong quá trình tiến hành hòa giải, thẩm phán cần phân biệt:
Những vụ án dân sự không được hoà giải
1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái
đạo đức xã hội.
Những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được
1. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố
tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng.
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng
lực hành vi dân sự.
-Nguyên tắc tiến hành hoà giải
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà
giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những
c) Thành phần tham gia phiên hoà giải;
d) ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các
đương sự;
đ) Những nội dung đã được các đương sự thoả thuận, không thoả
thuận.
2. Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các
đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của Thư ký Toà án ghi biên
bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.
Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết
trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được
gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải.
- Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà
không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó, thì về nguyên
tắc chung Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của các đương sự. Nếu vì trở ngại khách quan mà Thẩm phán không ra
11
quyết định được, thì Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán khác ra
quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Quyết định công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban
hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
- Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương
sự, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ
án (các quan hệ pháp luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án) và cả
về án phí. Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không thoả thuận được với nhau về trách
nhiệm phải chịu án phí hoặc mức án phí, thì Toà án không công nhận sự
thoả thuận của các đương sự mà tiến hành mở phiên toà để xét xử vụ án.
- Trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận được với nhau về việc
giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thoả thuận được, thì Toà án
ghi những vấn đề mà các đương sự thoả thuận được và những vấn đề không
13
1. Xét xử sơ thẩm[3]
Thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm:
a. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa: Là thủ tục của Thư ký Tòa án gồm các công
việc: Ổn định trật tự trong phòng xử án; Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng
mặt của những người tham gia phiên tòa theo Giấy triệu tập, Giấy báo của
Tòa án; Phổ biển nội quy phiên tòa và Yêu cầu mọi người đứng dậy khi hội
đồng xét xử vào phòng xử án.
b.Thủ tục bắt đầu phiên tòa gồm các công việc sau:
+ Khai mạc phiên tòa: Chủ tọa phiên tòa khai mạc và đọc quyết định đưa vụ
án ra xét xử.
+ Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và
người phiên dịch.
+ Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt.
+ Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng.
c. Thủ tục hỏi tại phiên tòa:
+ Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận giải
quyết vụ án.
+ Nghe đương sự trình bày về vụ án.
+ Tiến hành hỏi tại phiên tòa.
+ Công bố các tài liệu của vụ án.
d. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa: Đây là hoạt động trung tâm của phiên
tòa, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trước tòa án.
e. Nghị án và tuyên án:
14
+ Nghị án: là việc Hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án.
+ Tuyên án: Sau khi bản án đã được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại
phòng xét xử để tuyên án.
2. Xét xử phúc thẩm[3]
Trường hợp các bên không thoả thuận được về việc chịu án phí sơ thẩm
thì HĐXX quyết định theo quy định pháp luật.
Khi các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì
HĐXX phúc thẩm phải ra bản án phúc thẩm sửa án sơ thẩm, công nhận sự
thoả thuận của các đương sự.[3]
e. Trình tự trình bày và tranh luận tại phiên toà phúc thẩm
Trình tự trình bày tại phiên toà phúc thẩm được tiến hành như sau:
Trường hợp chỉ có một bên đương sự kháng cáo thì người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó trình bày, sau đó,
đương sự bổ sung.
Trường hợp cả hai bên đương sự kháng cáo thì người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày trước, sau
đó nguyên đơn bổ sung. Tiếp đến, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn trình bày, sau đó bị đơn trình bày bổ sung.
16
Trường hợp có cả kháng cáo và kháng nghị thì những người
kháng cáo trình bày trước theo trình tự trên đây, sau đó đại diện
Viện kiểm sát trình bày kháng nghị.
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên
trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng
nghị.
Trình tự tranh luận cũng tiến hành tương tự như trình tự trình bày trên
đây.
f. Ra bản án, quyết định phúc thẩm
Nghị án được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm.
HĐXX sửa bản án sơ thẩm nếu Toà án cấp sơ thẩm quyết định không
đúng pháp luật khi chứng cứ chứng minh đã được Toà án cấp sơ thẩm thu
thập đầy đủ hoặc chưa thật đầy đủ nhưng đã được bổ sung đầy đủ tại Toà
án cấp phúc thẩm.
HĐXX huỷ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm
tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc
quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó (Tái
thẩm).[5]
Theo quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996
đã sửa đổi bổ sung năm 1998, 2006 thì Bản án, quyết định của Toà án đã có
18
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một
trong những căn cứ sau đây:
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;
- Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình
tiết khách quan của vụ án;
- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Cũng theo pháp lệnh này, Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau
đây:
- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không
thể biết được khi giải quyết vụ án;
- Đã xác định được lời khai của người làm chứng, kết luận của người giám
định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả
mạo bằng chứng;
- Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án cố tình làm sai lệch
hồ sơ vụ án;
- Bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của của cơ quan nhà nước
mà Toà án dựa vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ bỏ.
Như vậy, đối tượng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là những
bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nên phiên tòa
giám đốc thẩm, tái thẩm không cần triệu tập những người tham gia tố tụng
và Luật sư, trừ trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án có thể triệu tập Luật sư
+Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án
+Ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của đương sự
d. Thông báo thi hành án
-Thông báo trực tiếp
-Niêm yết
-Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
e. Xác minh điều kiện thi hành án
f. Ủy thác thi hành án: Là hoạt động tố tụng của Cơ quan thi hành án chuyển
giao việc thi hành các bản án, quyết định từ Cơ quan thi hành án này
sang Cơ quan thi hành án khác theo trình tự, thủ tục do luật định nhằm
thi hành các bản án, quyết định của Tòa án tuyên
g. Hoãn thi hành án: Là hành vi tố tụng của Cơ quan thi hành án tạm dừng
việc thi hành án khi có căn cứ theo quy định của pháp luật
h Tạm đình chỉ thi hành án hoặc đình chỉ thi hành án.
k. Trả lại đơn yêu cầu thi hành án
l. Kết thúc thi hành án
21
-Quyết định dân sự của tòa án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành
đối với phần bản án, quyết định sau đây:
a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
b) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời do Toà án chuyển giao hoặc do đương sự giao trực tiếp,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án và
việc xác định trên thực tế không mấy dễ dàng bởi đối với tranh chấp trong
kinh doanh thương mại, mỗi cách xác định còn mang đặc thù riêng.
Điều mà người vận dụng băn khoăn là hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 của Nghị
quyết 01 về cách xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện có áp
dụng cho trường hợp thời hiệu khởi kiện do văn bản quy phạm pháp luật
khác quy định hay không?[7]
Vướng mắc khi kê biên, xử lý tài sản để thi hành án
-Thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp mua nhà đất, sang tên đổi chủ xong
xuôi rồi thì người dân lại gặp rắc rối, nhà đất bị kê biên do chủ cũ đang
có nghĩa vụ thi hành án.
Có chuyện éo le này bởi các cơ quan thi hành án áp dụng rập khuôn
hướng dẫn trong Thông tư liên tịch 12/2001 của Bộ Tư pháp-VKSND Tối
cao
Tháng 7-2008, bà Phạm Thị Hải Hường, ngụ quận 10 (TP.HCM) mua căn
nhà của bà C. tại TP Vũng Tàu. Hai bên làm đầy đủ thủ tục mua bán, sau đó
bà Hường được cấp chủ quyền nhà.
Bỗng dưng bị kê biên
Gần một năm sau, gia đình bà Hường bất ngờ nhận được thông báo của Chi
cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu về việc sẽ kê biên căn nhà của bà để
đảm bảo thi hành án.
Ngỡ ngàng, bà Hường khiếu nại thì mới được biết bà C. - chủ cũ căn nhà
là người phải thi hành án trong một bản án của TAND dân sự TP Vũng Tàu.
Tháng 5-2008, Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu đã gửi thông báo
về thời gian tự nguyện thi hành án là 25 ngày cho bà C. Hết thời hạn, bà C.
vẫn không chấp hành, Chi cục Thi hành án gửi công văn phối hợp với cơ
24
quan chức năng đề nghị không cho chuyển dịch căn nhà thì mới phát hiện bà
C. đã hoàn tất thủ tục bán căn nhà cho bà Hường.
Vì thế, dù căn nhà hiện đã thuộc sở hữu của bà Hường nhưng Chi cục Thi
hành án dân sự TP Vũng Tàu vẫn tiến hành phong tỏa tài sản nhằm đảm bảo