ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN HẢI AN Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về thừa kế
trong pháp luật dân sự Việt Nam LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: TS. Phạm Công Lạc
Hà nội - 2004
1.2.1
Thời hiệu trong BLDS Nhật Bản
29
1.2.2
Thời hiệu trong BLDS của nƣớc cộng hòa Pháp (còn gọi là
bộ luật Napoleon)
34
1.2.3
Thời hiệu trong BLDS VÀ Thƣơng mại Thái Lan
39
1.2.4
Thời hiệu trong BLDS Cộng hòa liên bang Đức
43
Chƣơng 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ
VÀ QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VÀ THỪA KẾ
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
LỊCH SỬ
49
2.1
Sự phát triển của pháp luật về thừa kế trong pháp luật Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử
49
2.1.1
Thời kỳ phong kiến ( từ khi lập nƣớc cho đến khi thực dân
pháp xâm lƣợc năm 1858)
49
2.1.2
Thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1858 đến năm 1945
53
2.1.3
Về việc xác định “sự bất khả kháng” và “trở ngại khách
quan” là thời gian không tính vào hiệu lực khởi kiện
79
3.2
Từ xác định di sản đến xác định thời hiệu khởi kiện về phân
chia thừa kế
83
3.3
Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là tài sản chung của
vợ chồng mà một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc và thời hiệu
khởi kiện để chia di sản thừa kế của ngƣời này đã hết
90
3.4
Thời hiệu khởi kiện và thừa kế đƣợc tính nhƣ thế nào cho
96
đúng
KẾT LUẬN
100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
được hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo di chúc hoặc theo pháp
luật; đồng thời cũng quy định cách thức, phương pháp để người có quyền
hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật chỉ có thể thực hiện
quyền đó trong một thời hạn nhất định, thời hạn đó chính là thời hiệu khởi
kiện về thừa kế.
Pháp luật thừa kế của Việt Nam và PLDS nói chung đã kế thừa sự phát
triển những thành tựu tập quán qua nhiều thời kỳ khác nhau và ngày càng
được hoàn thiện. Pháp lệnh Thừa kế do Hội đồng Nhà nước nước
CHXHCNVN thông qua ngày 30-8-1990, có hiệu lực từ ngày 10-9-1990.
Tiếp theo là Bộ luật dân sự được thông qua ngày 28-10-1985 tại kỳ họp thứ 8
Quốc hội khoá IX nước CHXHCNVN là sự biểu hiện trình độ lập pháp của
Nhà nước ta đã đạt được thành quả nhất định, đã biểu hiện sự kế thừa và phát
triển những tinh hoa của PLDS từ trước đến nay. Pháp lệnh Thừa kế tuy chưa
thật đầy đủ nhưng đã cụ thể hóa quyền thừa kế tài sản của công dân được ghi
nhận trong Hiến pháp năm 1980. Cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất
nước trong thời kỳ đổi mới, BLDS được ban hành đã cụ thể hóa các quyền cơ
bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, tạo cơ sở pháp lý
để bảo đảm về các quyền tài sản, quyền nhân thân của cá nhân và các tổ chức,
trong đó có quyền thừa kế tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo di chúc
hoặc theo pháp luật.
Để đảm bảo cho việc hưởng quyền thừa kế được ghi nhận trong Hiến
pháp, Pháp lệnh Thừa kế và BLDS bao gồm những chế định, những quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thừa kế. Đó là các chế
định về quyền của người có tài sản, quyền của người được hưởng thừa kế tài
sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, diện những người được hưởng thừa kế,
3
di sản thừa kế v.v trong đó có quy định rất quan trọng, đó là thời hiệu khởi
di sản thừa kế đang là những vấn đề vướng mắc có tính bức xúc và đang có
nhiều quan điểm khác nhau giữa các luật gia với những người áp dụng pháp
luật và ngay cả trong những người áp dụng pháp luật với nhau.
Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu, phân tích để làm sáng tỏ những
quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong PLDS là cơ sở và tiền đề
quan trọng để giải quyết tranh chấp về thừa kế liên quan đến thời hiệu khởi
kiện về thừa kế là một việc làm có ý nghĩa và rất cần thiết. Ngoài ra, cũng cần
thấy rằng mặc dù đã có những quy định tương đối cụ thể, song trong thực tế
áp dụng pháp luật vẫn còn hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Thực tế đã có
những vụ việc như nhau nhưng cách giải quyết khác nhau từ đó ảnh hưởng
đến lòng tin của nhân dân vào pháp luật và công lý. Do vậy, vấn đề tổng hợp
các quan điểm, quan niệm trong một đề tài nghiên cứu để tìm ra một giải pháp
chung có hiệu quả là một việc làm thường xuyên, nghiêm túc và có hệ thống.
Với tính chất đó, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề về thời
hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong PLDS Việt Nam” với mong muốn làm
sáng tỏ các quy định của pháp luật thực định.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài về thừa kế nói chung trong pháp luật không phải là đề tài mới lạ.
Trước khi có BLDS và kể cả trước khi có Pháp lệnh Thừa kế thì một số sinh
viên chuyên ngành luật dân sự cũng đã lựa chọn đề tài về thừa kế để làm luận
văn tốt nghiệp. Nhưng vấn đề về thời hiệu nói chung và thời hiệu khởi kiện về
thừa kế nói riêng chưa có đề tài nào đề cập đến.
Sau khi Nhà nước ta ban hành BLDS thì việc nghiên cứu đề tài về thừa
kế vẫn tiếp tục được mở rộng. Ngay các luận án thạc sỹ tại Khoa Sau đại học
Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã có một số tác giả nghiên cứu về thừa
kế. Cụ thể là: Tác giả Phạm Văn Tuyết nghiên cứu về đề tài “Một số vấn đề
5
6
Với mục đích trên, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào việc
phân tích cơ sở lý luận của những quy định chung về thời hiệu khởi kiện về
thừa kế. Ngoài ra, tôi thấy cần phải hiểu đúng tinh thần và nội dung của từng
điều, từng khoản theo luật thực định, mối liên hệ giữa các điều luật đó phải có
dự liệu có thể có các trường hợp xẩy ra trong thực tế thì sẽ được áp dụng quy
định nào để giải quyết.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Một số vấn đề về thời hiệu khởi kiện về
quyền thừa kế trong PLDS Việt Nam” sẽ tập trung chủ yếu ở các nội dung
chủ yếu sau đây:
- Phân tích cơ sở khoa học và thực tế trong việc xác định sự liên quan
giữa quy định chung về thời hiệu của BLDS với thời hiệu khởi kiện về thừa kế.
- Nghiên cứu các quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong
PLDS được quy định trong Pháp lệnh Thừa kế và BLDS. Có thể nói rằng, đây
là vấn đề rất phức tạp của các quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế.
- Một số kiến nghị về thời hiệu khởi kiện về thừa kế của BLDS.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là dựa trên cơ sở lý luận của Học
thuyết Mác-Lê nin về Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật
lịch sử. Từ phương pháp này, luận văn sẽ xác định mối liên hệ giữa các hiện
tượng, sự việc nhằm đánh giá các vấn đề một cách khoa học. Ngoài ra, từ vận
dụng phương pháp liên hệ giữa thực tiễn giải quyết của Tòa án với các quy
định của pháp luật.
Trên cơ sở các phương pháp khoa học như: Tổng hợp, phân tích, so
sánh, lịch sử luận văn sẽ phân tích khái quát sơ lược quá trình hình thành và
phát triển của chế định thừa kế, khái quát các quy định thời hiệu nói chung
của PLDS kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến khi ban hành
Qua công trình khoa học này sẽ giúp cho cơ quan áp dụng pháp luật áp
dụng đúng quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế để giải
quyết tranh chấp về thừa kế và giúp cho các luật gia nghiên cứu về đề tài thừa
kế có một tài liệu tham khảo mang tính lý luận và thực tiễn.
Kết cấu luận văn gồm ba chương cùng với phần mở đầu và kết luận.
Chương 1
9
THỜI HIỆU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1. 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỜI HIỆU
sống xã hội. Nếu PLDS không có các quy định về thời hiệu để ổn định các
quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, mỗi chủ thể tham gia vào giao dịch dân
sự sẽ không yên tâm và tin tưởng vào quan hệ dân sự mà họ đã xác lập, thực
hiện. Trong đời sống xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ tài sản cũng
phát triển theo, giá trị tài sản thường có biến động lớn, nhất là tài sản có giá trị
lớn như nhà đất, ví dụ như từ khi các bên tham gia giao kết hợp đồng cho đến
khi thực hiện hợp đồng, do tác động của thị trường đã có sự chênh lệch về giá
cả so với giá mà các bên đã thoả thuận. Do đó, thời hiệu sẽ ràng buộc các bên
trong thời hạn để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ.
Thứ hai: Việc pháp luật ấn định ra một thời hạn tạo điều kiện thuận lợi
cho Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết tranh chấp.
Nếu một giao dịch dân sự đã xác lập, thực hiện trong một khoảng thời hạn đã
quá lâu mà có tranh chấp, thì quá trình chứng minh của đương sự sẽ rất khó
khăn, phức tạp. Khi giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án, cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền cũng gặp khó khăn khi phải tiến hành điều tra, xác minh, thu
thập chứng cứ cần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ việc. Vì vậy,
nếu thời hạn đã quá lâu, thì quá trình điều tra của Tòa án hoặc những cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền trong việc thu thập chứng cứ cũng khó có cơ sở để
đảm bảo tính chính xác và tin cậy.
1.1.3. Các loại thời hiệu
Trên cơ sở quy định về thời hiệu của Đ.163 BLDS mà Đ.164 BLDS đã
phân chia thời hiệu trong PLDS làm ba loại: Thời hiệu hưởng quyền dân sự,
thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện.
11
- Thời hiệu hưởng quyền dân sự: Là thời hạn mà kết thúc thời hạn đó
thì chủ thể được hưởng quyền dân sự. Theo quy định tại K.1 Đ.164 BLDS thì
của người nhặt được hoặc thuộc sở hữu của Nhà nước, người phát hiện được
hưởng một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
K.2 Đ.166 BLDS quy định thời hiệu hưởng quyền dân sự không được
áp dụng đối với trường hợp chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân không có
căn cứ pháp luật. Quy định này nhằm ngăn chặn việc sử dụng tài sản toàn dân
vào mục đích cá nhân không đúng quy định của pháp luật, biển thủ tài sản Xã
hội chủ nghĩa.
Thời hiệu hưởng quyền dân sự cũng không được áp dụng trong các
trường hợp việc hưởng các quyền nhân thân của một chủ thể không gắn hoặc
không liên quan với tài sản, bởi vì quyền nhân thân của mỗi cá nhân vĩnh viễn
gắn liền với cá nhân đó và không bị thay đổi, khi cá nhân chết thì quyền nhân
thân của cá nhân cũng bị mất theo, cho nên không thể áp dụng thời hiệu đối
với quyền nhân thân phi tài sản.
Song để được hưởng quyền dân sự theo thời hiệu thì việc chiếm hữu
phải kéo dài liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc (K.1 Đ.167 BLDS),
nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu đó phải được tính lại từ đầu sau khi
sự kiện làm gián đoạn thời hiệu chấm dứt. Thời hiệu hưởng quyền dân sự bị
gián đoạn khi có một trong những sự kiện được quy định tại K.2 Đ.167 BLDS
cụ thể là: Có sự giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với
quyền, nghĩa vụ đang áp dụng thời hiệu; quyền và nghĩa vụ dân sự đang được
áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp.
Khi có một trong các căn cứ nêu ở trên phát sinh thì thời hiệu hưởng
quyền dân sự phải bắt đầu lại từ đầu. Quy định này được hiểu là khi thời hiệu
hưởng quyền dân sự đang tiếp diễn liên tục mà có đơn khởi kiện của một cá
nhân nào đó yêu cầu giải quyết tài sản đang áp dụng thời hiệu hoặc có sự giải
13
quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì khi những trở ngại đó kết thúc
có thỏa thuận đồng ý cho hoãn thực hiện nghĩa vụ (Đ.292 BLDS) hoặc miễn
cho một trong số những người thực hiện nghĩa vụ liên đới (K.4 Đ.304 BLDS).
Việc hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc miễn cho một trong số những
người thực hiện nghĩa vụ liên đới có tính chất và bản chất pháp lý hoàn toàn
khác việc miễn trừ nghĩa vụ theo thời hiệu. Việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự
theo thời hiệu được thực hiện chỉ trong những trường hợp do pháp luật quy
định.
Nếu thời hiệu hưởng quyền dân sự cho phép chủ thể hưởng quyền khi
kết thúc thời hạn cùng với những điều kiện khác, thì thời hiệu miễn trừ nghĩa
vụ dân sự là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng được miễn trừ
không phải thực hiện nghĩa vụ, tương ứng với thời điểm kết thúc thời hạn do
PLDS quy định. Khi một chủ thể tham gia quan hệ (theo ý chí của chủ thể khi
giao kết hợp đồng hoặc do có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật ngoài hợp
đồng) mà PLDS quy định phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự
đó, thì họ có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn do các
bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Nếu trong thời hạn đó, người có
nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ và những người có quyền cũng không yêu
cầu người này phải thực hiện nghĩa vụ, thì sau một thời hạn nhất định do
PLDS quy định, người có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ nữa, dù
rằng người đó chưa thực hiện nghĩa vụ. Miễn trừ thực hiện nghĩa vụ có thể
được áp dụng khi có các sự kiện khách quan hoặc đương nhiên được miễn trừ
khi PLDS có quy định. Ví dụ: Tại điểm a K.2 Đ.616 BLDS quy định về thời
hạn bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm hại thì khi người bị
thiệt hại chết, những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống
được hưởng tiền cấp dưỡng của người gây thiệt hại cho đến khi đủ 18 tuổi
Điều kiện của việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự là bên có quyền mà không
thực hiện quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ mặc dù có thể làm được việc đó,
16
Đ.458 BLDS quy định thời hạn chuộc lại tài sản đã bán là không quá
một năm đối với động sản, năm năm đối với bất động sản. Quá thời hạn này,
bên bán không còn quyền được chuộc lại tài sản nữa.
Tóm lại: Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự sẽ phát sinh khi bên có
quyền không thực hiện quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ mặc dù họ có thể
làm việc đó trong một thời hạn nhất định, thì người có nghĩa vụ đương nhiên
được miễn trừ nghĩa vụ. BLDS không quy định thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ
dân sự chung cho tất cả các trường hợp mà quy định từng thời hiệu riêng cho
từng loại đối tượng khác nhau.
Đối với thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự K.3 Đ.166 BLDS còn có
quy định thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự không được áp dụng trong việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự của các chủ thể đối với Nhà nước.
Đ.167 BLDS quy định thời hiệu hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ
thực hiện nghĩa vụ dân sự có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.
Nếu có những sự kiện làm gián đoạn như: Có sự giải quyết của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền hoặc quyền, nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời
hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp, thì thời hiệu hưởng
quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự phải được tính lại từ
đầu sau khi sự kiện làm gián đoạn thời hiệu chấm dứt.
- Thời hiệu khởi kiện: Là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để
yêu cầu Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu quá thời hạn đó mà chủ thể không thực hiện
quyền của mình, thì họ mất quyền khởi kiện.Theo quy định tại K.3 Đ.164
BLDS thì thời hiệu khởi kiện cũng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thời hạn
do PLDS quy định. Đây là thời hạn nhất định mà PLDS cho phép một chủ thể
có quyền, lợi ích bị xâm phạm được quyền khởi kiện. Theo nguyên tắc chung,
18
nhân thân có liên quan đến tài sản có thể có những quy định về thời hiệu khởi
kiện.
Bộ luật Tố tụng Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15-6-2004 (có
hiệu lực ngày 01-01-2005) tại K3 Đ.159 có quy định: “Thời hiệu khởi kiện để
yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích cộng đồng, lợi ích của
Nhà nước bị xâm phạm”; “Thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự
là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.”. Đồng thời, Đ.160 còn quy
định: “Các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố
tụng dân sự.”
Để thi hành và thống nhát các quy định của pháp luật trong việc giải
quyết các vụ án dân sự và để thi hành BLTTDS, ngày 10-8-2004 Hội đồng
Thẩm phán TANDTC đã ra Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn về
việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu đối với các giao dịch dân
sự như sau:
- Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01-7-1996 (ngày
Bộ luật Dân sự có hiệu lực) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về
thời hiệu (thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự
và thời hiệu khởi kiện) thì phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các
văn bản pháp luật đó để xác định thời hiệu còn hay hết, không phân biệt
giao dịch dân sự đó được thực hiện xong trước ngày 01-7-1996 hay từ
ngày 01-7-1996.
- Đối với giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 01-7-1996 đến trước
ngày 01-01-2005 mà Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật khác không có
quy định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì kể từ ngày 01-01-2005 việc
xác định thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được thực hiện theo quy định
20
trong thời hiệu do pháp luật quy định, thì Toà án dễ dàng giải quyết, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ kịp thời, các quy định của BLDS
về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự. Do đó, kể từ khi BLTTDS có
hiệu lực thì thời hiệu khởi kiện chung cho vụ án dân sự và việc dân sự đã
được quy định
1.1.4. Cách tính thời hiệu
Theo quy định tại Đ.165 BLDS thì thời hiệu được tính từ thời điểm bắt
đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời
hiệu. Đây là quy định mang tính chất khái quát chung theo tiêu chí ngày đầu
tiên và ngày cuối cùng của thời hạn. Song đối với từng loại thời hiệu và từng
quan hệ PLDS pháp luật lại có các quy định cách tính thời hiệu riêng.
Thời hiệu hưởng quyền dân sự và miễn trừ nghĩa vụ dân sự được tính
từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày
cuối cùng của thời hiệu. Như vậy, thời hiệu được xác định theo tiêu chí là
ngày một chủ thể bắt đầu chiếm hữu tài sản hoặc là ngày chủ thể bắt đầu thực
hiện nghĩa vụ. Hai loại thời hiệu trên này không gián đoạn mà phải có tính
liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc thời hiệu. Nếu có sự kiện làm gián
đoạn, thì thời hiệu được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn chấm
dứt (K.2 Đ.167 BLDS). Sau khi kết thúc việc giải quyết của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền hoặc kết thúc việc giải quyết tranh chấp, khiếu nại, thì
thời hiệu phải được tính lại từ đầu. Đồng thời, hiệu lực của thời hiệu hưởng
quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự được K.1 Đ.166 BLDS xác định khi
pháp luật quy định chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ
dân sự theo thời hiệu, thì chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền
dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự mới có hiệu lực.