Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các tòa án - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH THẨM
QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN
6
1.1.
Khái niệm và ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ
thẩm dân sự giữa các tòa án
6
1.1.1.
Khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các
Tòa án
6
1.1.2.
Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của

sự của Tòa án cấp huyện
31
2.1.2.
Quy định về những vụ việc thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân
sự của Tòa án cấp tỉnh
35
2.2.
Các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa
các Tòa án cùng cấp
40
2.2.1.
Các quy định có tính nguyên tắc về phân định thẩm quyền
sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp
40
2.2.1.1.
Thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản
40
2.2.1.2.
Thẩm quyền của Tòa án nơi cư trú, nơi làm việc, nơi có trụ
sở của bị đơn, người bị yêu cầu
42
2.2.2.
Các quy định khác về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự
giữa các Tòa án cùng cấp
47
2.2.2.1.
Quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự theo sự
thỏa thuận của các đương sự
47
2.2.2.2.

Kiến nghị sửa đổi các quy định về phân định thẩm quyền sơ
thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp
72
3.2.2.
Kiến nghị sửa đổi các quy định về phân định thẩm quyền sơ
thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp
74

KẾT LUẬN
80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
81 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong hệ thống cơ quan tư pháp của Việt Nam thì Tòa án là cơ quan
thực hiện quyền tư pháp chủ yếu, với chức năng, thẩm quyền xét xử các vụ án
mà pháp luật quy định để bảo vệ pháp luật và sự công bằng xã hội. Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ:
Cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội…kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã
đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có
chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh
của nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế…; đổi mới thủ
tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận

dân sự giữa các Tòa án được xây dựng một cách chính xác, khoa học sẽ tránh
được sự chồng chéo khi Tòa án thực hiện nhiệm vụ, giảm bớt phiền hà cho
người dân khi thực hiện quyền khởi kiện của mình. Các luật sư, Thẩm phán
nếu nhận thức và vận dụng đúng các quy định về phân định thẩm quyền sơ
thẩm dân sự giữa các Tòa án cũng sẽ góp phần đảm bảo quyền tiếp cận công
lý của công dân.
Xét về thực tế, việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa
án có ý nghĩa xác định một Tòa án cụ thể nào đó sẽ có thẩm quyền thụ lý giải
quyết vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án. Đây là hai vấn đề căn bản trong quá
trình phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án. Do vậy, khi nghiên
cứu về phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án thì hai vấn đề sẽ được
chú trọng, đó là phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án các cấp và
phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo phạm vi lãnh thổ.

3
Từ thực trạng pháp luật về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
Tòa án, vướng mắc trong thực tiễn vận dụng, tác giả luận văn thấy rằng cần
thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ hơn nữa những vấn đề
lý luận và thực tiễn nhằm phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa
án cũng như đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân
sự giữa các Tòa án" để làm luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy đã có một số công trình
nghiên cứu về vấn đề thẩm quyền sơ thẩm về dân sự của Tòa án. Có thể nói
đến Luận án tiến sĩ "Phân cấp thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự trong
hệ thống Tòa án ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Lê Thu Hà;
Luận án thạc sĩ "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam" của tác giả Lê Hoài Nam.v.v Tuy nhiên, những công trình nói
trên chỉ đề cập tới những khía cạnh khác nhau về vấn đề thẩm quyền sơ thẩm

4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và
nhà nước qua các giai đoạn lịch sử.
Việc thực hiện đề tài được tiến hành trên cơ sở các phương pháp
nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn
logic v.v
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:

5
Chương1: Một số vấn đề lý luận về phân định thẩm quyền sơ thẩm
dân sự giữa các Tòa án.
Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phân định
thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân định thẩm quyền sơ
thẩm dân sự giữa các Tòa án và kiến nghị.

6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN ĐỊNH
THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN

1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN
SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN
1.1.1. Khái niệm về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa
các Tòa án
Đề tài đi vào nghiên cứu về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự

phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Tòa án nhân dân tối cao có quyền xét
xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Vì vậy, thẩm quyền dân sự của Tòa
án được hiểu là quyền của Tòa án đối với việc xem xét và ra các bản án, quyết
định giải quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc
thẩm và tái thẩm.
Trong các loại thẩm quyền trên thì thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
Tòa án có vai trò quan trọng. Bởi vì, sơ thẩm là cấp đầu tiên giải quyết vụ
việc dân sự bằng một phiên tòa sơ thẩm hoặc phiên họp. Thuật ngữ "vụ việc
dân sự" được sử dụng ở đây với hàm ý, bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Vụ án dân sự phát sinh do có tranh chấp về quyền lợi ích giữa các chủ thể
trong các quan hệ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và
lao động. Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng
đương sự yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý hoặc công nhận các
quyền, nghĩa vụ nhất định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại và lao động. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa thẩm
quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án như sau: Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
Tòa án là quyền của Tòa án trong việc xem xét giải quyết các vụ việc dân sự
theo thủ tục sơ thẩm dân sự.
Vậy phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án có nghĩa là như
thế nào? Việc nhận diện khái niệm và xác định nội hàm của khái niệm này sẽ

8
là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu và định hướng của việc nghiên cứu.
Hiện nay, ở Việt Nam, hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp hành chính đồng
thời trong mỗi cấp Tòa án lại có các Tòa chuyên biệt theo từng lĩnh vực. Đó là
các Tòa chuyên về từng loại việc như các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân
dân tối cao và các Tòa được giải quyết tất cả các loại việc ví dụ như Tòa phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, chúng ta có thể thấy thẩm quyền của
Tòa chuyên biệt và thẩm quyền của Tòa án là hai khái niệm khác nhau.
Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa chuyên biệt về bản chất là thẩm

dân sự của Tòa án theo loại việc thì Tòa án nhận đơn sẽ phải tiếp tục dựa vào
luật thực định để xác định xem vụ việc đó thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa
án nào (Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện, quận, thị xã…) và bước sau
cùng là xác định trong số các Tòa án cùng cấp đó thì Tòa án cụ thể nào sẽ có
thẩm quyền giải quyết. Có thể thấy, đây chính là hai nội dung cơ bản cần làm
rõ để có thể phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án với nhau.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về phân định
thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án như sau:
Phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là việc phân
định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án cấp huyện với Tòa án cấp tỉnh
và phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án cùng cấp theo
phạm vi lãnh thổ. Ngoài ra, chúng ta có thể xem xét vấn đề này dưới cách
nhìn khác, đó là phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án là
việc Tòa án dựa trên những tiêu chí nhất định (theo cấp hay theo lãnh thổ) để
quyết định một vụ việc thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án sẽ thuộc quyền
xem xét giải quyết của một Tòa án cụ thể nào.
1.1.2. Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của
Tòa án
Trong các loại thẩm quyền (thẩm quyền sơ thẩm dân sự, thẩm quyền
phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm) thì thẩm quyền sơ thẩm dân sự của

10
Tòa án có ý nghĩa và tầm quan trọng hơn cả. Việc phân định đúng thẩm quyền
sơ thẩm dân sự của Tòa án sẽ là cơ sở để xác định đúng thẩm quyền phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Việc xây dựng các tiêu chí để xác định thẩm quyền của Tòa án có ý
nghĩa tạo cơ sở pháp lý để phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp Tòa án
và giữa các Tòa án cùng cấp với nhau trong việc thụ lý, giải quyết vụ việc dân
sự. Việc Tòa án áp dụng đúng pháp luật để xác định đúng đắn, chính xác
những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án sẽ tránh tình trạng giải

thì thông thường Cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã sơ thẩm vụ việc
dân sự sẽ có thẩm quyền thi hành án.
Ngoài ra, các quy tắc về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự nếu
được pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể và khoa học sẽ tạo thuận lợi cho
đương sự xác định đúng Tòa án để gửi đơn, tránh tình trạng gửi nhầm đơn
khởi kiện, đơn yêu cầu đến Tòa án không có thẩm quyền giải quyết dẫn tới bị
trả lại đơn… gây mất thời gian và tổn phí không đáng có. Các quy tắc này
cũng tạo cơ sở pháp lý để tránh việc đương sự lạm dụng quyền khởi kiện để
cùng một lúc khởi kiện ở nhiều Tòa án khác nhau gây ra tình trạng có nhiều
Tòa án cùng giải quyết về một vụ việc và ra những phán quyết trái ngược
nhau, gây mất niềm tin vào cơ quan bảo vệ pháp luật.
1.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ
PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC TÒA ÁN
Để hệ thống Tòa án hoạt động một cách hiệu quả, nhịp nhàng không
chồng chéo lên nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình thì việc xây
dựng các quy định về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án
phải được dựa trên một số tiêu chí nhất định.
- Tiêu chí về sự phù hợp với quy tắc phân định thẩm quyền tài phán
quốc tế và quốc gia
Hiện nay, sự phát triển đa dạng không ngừng của nền kinh tế, cùng
với sự hội nhập toàn cầu, các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh

12
thương mại, lao động cũng ngày càng trở nên phong phú hơn. Do vậy, trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì pháp luật của Việt Nam về vấn
đề phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án phải được xây dựng
sao cho không quá khác biệt với kỹ thuật lập pháp của các nước tiên tiến trên
thế giới.
Để thực hiện được vấn đề này cần phải nghiên cứu kinh nghiệm lập
pháp của các quốc gia để rút ra bài học cho Việt Nam. Ngoài ra, cũng có thể

dưới. Do vậy, có thể thấy xét về thực tế thì việc bổ nhiệm cán bộ xét xử thuộc
Tòa án cấp trên thường được lựa chọn từ những người có năng lực, trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm xét xử cao trong số những cán bộ xét xử của Tòa
án cấp dưới. Theo pháp luật hiện hành, đối với Tòa án cấp tỉnh đòi hỏi trình
độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ cao hơn Tòa án cấp huyện. Theo quy
định tại Pháp lệnh thẩm phán và hội thẩm nhân dân năm 2002, để tuyển chọn
và bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án cấp tỉnh thì đòi hỏi phải là người đáp ứng
đủ những điều kiện chung và đã là thẩm phán Tòa án cấp huyện ít nhất 5 năm.
Việc nghiên cứu cho thấy, trên thực tế hiện nay điều kiện cơ sở vật
chất và trình độ chuyên môn và kinh nghiệm xét xử giữa các địa phương còn
chênh lệch nhau. Đặc biệt, ở Việt Nam sự phát triển kinh tế, văn hoá xã còn,
chênhrí ở các vùng miền không đồng đều. Ở những vùng sâu, vùng xa cơ sở
vật chất chưa đầy đủ, cán bộ xét xử còn thiếu về số lượng và chưa thực sự đạt
chuẩn về chất lượng. Chính sách đãi ngộ của Nhà nước cũng chưa thực sự đủ
mạnh để thu hút và giữ chân được những cán bộ có trình độ, năng lực tốt.
Từ những phân tích trên, có thể thấy sự khác biệt trên thực tế về điều
kiện cơ sở vật chất cũng như trình độ chuyên môn, năng lực xét xử của đội
ngũ cán bộ ở từng cấp Tòa án. Chính từ sự khác nhau này đặt ra vấn đề cần
phải phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự ở từng cấp Tòa án để mỗi cấp Tòa
án có thể giải quyết tốt các vụ việc dân sự trong phạm vi thẩm quyền xét xử
của mình phù hợp với điều kiện vật chất, năng lực chuyên môn và kinh
nghiệm xét xử của đội ngũ cán bộ.

14
Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng cho thấy việc xây dựng các quy định
về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các cấp Tòa án cũng phải được
tiến hành sao cho có thể đảm bảo thuận lợi nhất cho người dân trong việc tiếp
cận công lý để đòi hỏi quyền lợi hợp pháp của mình. Do vậy, trong những
trường hợp mà Tòa án nhận đơn không đảm bảo được sự độc lập, khách quan
trong việc giải quyết vụ việc thì cần phải quy định theo hướng Tòa án này sẽ

huyện lại có thể gặp nhiều khó khăn vướng mắc khi tiến hành nhiệm vụ này.
Do vậy, sự thuận lợi khó khăn trong việc giải quyết vụ việc cũng là một cơ sở
quan trọng để xây dựng nguyên tắc phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự
giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện.
- Tiêu chí về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của một trong các
bên đương sự
Khi xây dựng pháp luật cần căn cứ vào tiêu chí này và xét trong từng
loại vụ việc dân sự thì Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của đương sự nào
sẽ là Tòa án có điều kiện tốt nhất để giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ
việc và thuận tiện cho đương sự trong việc tham gia tố tụng. Trên cơ sở đó, có
thể xây dựng các quy tắc để xác định thẩm quyền cho phù hợp.
Nếu các quy định về thẩm quyền sơ thẩm dân sự không hợp lý sẽ dẫn
tới hậu quả là Tòa án thụ lý sẽ khó khăn trong việc xác minh hay thu thập
chứng cứ tài liệu để giải quyết vụ việc, dẫn tới kéo dài thời gian giải quyết vụ
việc. Thông thường, nếu vụ việc không phải là tranh chấp về bất động sản thì
Tòa án có thẩm quyền sẽ là Tòa án nơi cư trú, nơi có trụ sở của bị đơn, người
bị yêu cầu trong vụ việc dân sự.
Để đảm bảo công bằng giữa những người tham gia tố tụng thì người bị
động trong việc tham gia tố tụng cần phải được trao cho những lợi thế hơn so
với người ở thế chủ động trong việc thực hiện quyền tự bảo vệ của mình. Bị
đơn chỉ là người được giả thiết hay phỏng đoán có quyền lợi bị xâm phạm và
bị đơn chỉ mới là người được giả thiết hay phỏng đoán xâm phạm tới quyền

16
lợi của nguyên đơn. Trong thực tiễn, nhiều trường hợp những yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn không có căn cứ pháp lý và không được Tòa án chấp
nhận, trong khi đó, bị đơn vẫn phải tham gia vào vụ kiện mặc dù họ không
phải là người xâm phạm quyền lợi của nguyên đơn, không có lỗi trong việc
làm phát sinh vụ việc dân sự tại Tòa án. Do vậy bị đơn cần được tạo điều kiện
thuận lợi nhất để thực hiện quyền tự bảo vệ của mình trước Tòa án. Vì lẽ đó,

số trường hợp đặc biệt, thì việc phân định thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án
theo lãnh thổ cũng có thể dựa trên tiêu chí Tòa án nơi có động sản của đương
sự. Chẳng hạn, việc yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam một bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có thể thuộc thẩm quyền của
Tòa án nơi có tài sản là động sản của người phải thi hành án.
Đối với những tranh chấp về bất động sản, thông thường các giấy tờ,
tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan tài nguyên môi trường, nhà
đất, chính quyền nơi có bất động sản đó lưu giữ và các cơ quan này cũng là
những cơ quan nắm vững những thông tin về nguồn gốc, hiện trạng tài sản và
tình trạng pháp lý của tài sản. Do vậy, Tòa án nơi có bất động sản sẽ là Tòa án
có điều kiện thuận lợi nhất trong việc xác minh, thu thập các tài liệu, các
thông tin liên quan đến bất động sản đang tranh chấp.
Ngoài ra, đối với những tranh chấp về bất động sản thì Tòa án nơi có
bất động sản là Tòa án có điều kiện thuận lợi nhất trong việc kiểm tra, xem
xét tại chỗ tình trạng của bất động sản. Trong trường hợp này việc xây dựng
tiêu chí phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án dựa trên nơi có bất
động sản sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ việc được nhanh chóng và sát
với thực tế. Hơn nữa, việc xây dựng quy định dựa trên tiêu chí này còn có ý
nghĩa tránh cho Tòa án thụ lý vụ việc không phải tiến hành các hoạt động ủy
thác thu thập chứng cứ.
- Tiêu chí nơi phát sinh sự kiện
Tiêu chí nơi phát sinh sự kiện như nơi đăng ký kết hôn, nơi xảy ra
hành vi gây thiệt hại, nơi thực hiện hợp đồng cũng là một trong những tiêu chí

18
quan trọng cần xem xét đến khi xây dựng quy định về thẩm quyền sơ thẩm
dân sự của Tòa án theo lãnh thổ. Ngoài ra, trong những trường hợp đặc biệt,
nơi phát sinh sự kiện cũng có thể được hiểu theo nghĩa rộng là nơi cơ quan
trọng tài hoặc Tòa án đã ra phán quyết. Chẳng hạn như: Tòa án nơi Trọng tài
ra quyết định có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài; Tòa

1.3. LƢỢC SỬ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM VỀ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN SƠ THẨM DÂN SỰ GIỮA CÁC
TÒA ÁN
Việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng pháp luật qua các thời kỳ lịch
sử về phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa các Tòa án sẽ giúp chúng ta
có một cái nhìn thấu đáo hơn, trên cơ sở đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm
hoặc kế thừa một cách hợp lý kinh nghiệm lập pháp vào việc nghiên cứu hoàn
thiện pháp luật về vấn đề này trong giai đoạn hiện nay.
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Việc nghiên cứu các quy định về phân định thẩm quyền dân sự giữa
các Tòa án trong giai đoạn này sẽ được tiến hành theo hai thời kỳ chính là từ
năm 1945 đến năm 1960 và từ năm 1960 đến 1989.
- Thời kỳ từ năm 1945 đến 1960
Thời kỳ này đầu tiên phải kể đến Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 01
năm 1945 về tổ chức các Tòa án và ngạch thẩm phán, một văn bản quy định
về tổ chức, thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án. Tiếp đó, ngày 17 tháng 4 năm
1946, Sắc lệnh số 51 ấn định thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa
các nhân viên của Tòa án được ban hành. Sắc lệnh số 13 và số 51 là những
văn bản pháp luật đầu tiên về tố tụng dân sự của Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa.
Hai văn bản trên đã đề cập đến vấn đề thẩm quyền giữa các cấp Tòa án
đó là: Tòa án sơ cấp (ở các quận) và Tòa án đệ nhị cấp (ở các tỉnh) tại Điều thứ 7

20
của Sắc lệnh số 13 quy định ở mỗi quận (phủ, huyện, châu) có một Tòa án sơ
cấp và tại Điều thứ 12 quy định ở mỗi tỉnh và các thành phố Hà Nội, Hải
Phòng và Sài Gòn - Chợ Lớn, có một Tòa án đệ nhị cấp.
- Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1989
Sau sắc lệnh số 51, nhiều văn bản pháp luật về tố tụng dân sự được
ban hành. Luật tổ chức Tòa án ban hành ngày 14 tháng 7 năm 1960 quy định

* Công văn số 03-NCPL, ngày 03/3/1966 của Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn trình tự giải quyết việc ly hôn đã chỉ ra những tư tưởng chỉ đạo và
các quy tắc cụ thể để phân định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án trong
những vụ án ly hôn. Theo thông tư này, tư tưởng chỉ đạo cho việc phân định
thẩm quyền theo lãnh thổ đối với các vụ án về ly hôn là "Tòa án có thẩm
quyền xét xử một vụ xin ly hôn là Tòa án có điều kiện tốt nhất để giải quyết
vụ kiện ấy, cụ thể là điều tra sát, hòa giải kịp thời, thuận tiện cho sự đi lại của
hai bên đương sự…" [30].
Theo tinh thần này, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cụ thể về
cách phân định thẩm quyền sơ thẩm theo lãnh thổ đối với các vụ án ly hôn
như sau: Đối với những đôi vợ chồng sống chung với nhau, thì Tòa án có
thẩm quyền là Tòa án cơ sở nơi họ ở (trừ những trường hợp được quy định là
thuộc thẩm quyền của Tòa án trên); đối với những đôi vợ chồng sống riêng ở
hai địa phương khác nhau (cán bộ công tác xa nhà) quân nhân tại ngũ… thì
Tòa án có thẩm quyền là Tòa án cơ sở nơi quê quán chung của họ và là nơi
một bên hiện ở, hoặc nếu nơi này không phải là quê quán chung thì là nơi họ
đã sống chung lâu v.v…
Tòa án nhân dân tối cao cũng đã chỉ rõ rằng, Tòa án có thẩm quyền
xét xử một vụ ly hôn là Tòa án có điều kiện tốt nhất để giải quyết vụ kiện ấy,
cụ thể là điều tra sát, hòa giải kịp thời, thuận tiện cho sự đi lại của hai bên
đương sự, là một nguyên tắc căn bản để phân định thẩm quyền dân sự của
Tòa án theo lãnh thổ đối với các vụ án ly hôn. Theo tinh thần này, Tòa án
nhân dân tối cao đã hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương như sau:

22
Trong những trường hợp khác, các Tòa địa phương sẽ vận dụng nguyên tắc
trên đây để giải quyết vấn đề thẩm quyền. Người xin ly hôn có thể gửi đơn
đến Tòa án nơi mình ở hoặc gửi đến Tòa án nơi chồng hoặc vợ mình ở. Tòa
án nào nếu nhận được đơn sẽ điều tra sơ bộ và căn cứ vào tình hình mà giữ lại
để giải quyết hoặc chuyển qua Tòa án kia với những tài liệu đã điều tra được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status