Thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại các tòa án nhân dân ở tỉnh sơn la - Pdf 56

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------------

LÊ THU PHƢƠNG

THỰC TIỄN HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI
CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------------

LÊ THU PHƢƠNG

THỰC TIỄN HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI
CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH SƠN LA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. BLDS

: Bộ luật dân sự

2. BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

3. TAND

: Tòa án nhân dân

4. TTDS

: Tố tụng dân sự

5. UBND

: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chƣơng 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM .............................. 7
I. Những vấn đề chung về hòa giải vụ án dân sự ......................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của vụ án dân sự ............................... 7

2.1.2. Những hạn chế, vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn hòa giải tại Tòa
án nhân dân tỉnh Sơn La ................................................................................. 40
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và thực hiện pháp luật về hòa giải vụ án
dân sự .............................................................................................................. 57
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật để hòa giải vụ án dân sự ..................... 57
2.2.2 Kiến nghị về phần thực hiện pháp luật hòa giải vụ án dân sự .............. 62
Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 66
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế chung của hội nhập toàn cầu, Việt Nam có chủ trương xây
dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện công cuộc cải cách, đổi mới một cách
toàn diện và sâu sắc theo quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường. Sự thay
đổi đã tạo nên một “bộ mặt” mới cho nền kinh tế. Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, thì các tranh chấp dân sự, kinh doanh
thương mại, lao động cũng ngày càng gia tăng nhưng hầu hết các đương sự
đều tỏ ra e ngại khi phải đưa vụ kiện lên Tòa án. Đa số họ thích hòa giải hơn
là khởi kiện, đặc biệt đối với các tranh chấp dân sự bởi hòa giải là một truyền
thống tốt đẹp trong việc giải quyết những mâu thuẫn và hòa giải được xem là
một giải pháp để giải quyết tranh chấp được ưa chuộng hơn cả từ trước tới
nay. Biện pháp này góp phần hạn chế những tranh chấp phát triển phức tạp,
gìn giữ sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho xóm làng, trật tự, kỷ
cương an toàn xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng. Nếu như tranh chấp
được xem như là những biểu hiện tiêu cực phá vỡ sự hòa thuận và bình yên
của cộng đồng thì hòa giải được xem như là mặt tích cực, là sự gìn giữ, củng

lựa chọn đề tài : “Thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại các Tòa án nhân dân ở
tỉnh Sơn La” làm đề tài cho luận văn thạcsỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải là một vấn đề quan trọng trong việc giải quyết các vụ án dân sự
tại Tòa án. Vì vậy, ngoài việc được Nhà nước quan tâm quy định trong các
văn bản về pháp luậtTTDS thì cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa
học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này. Có thể thống kê một số luận văn, luận
án tiêu biểu sau đây:
Luận văn thạc sỹ luật học: “Hòa giải trong tố tụng dân sự - thực tiễn và
hướng hoàn thiện” , của Bùi Đăng Huy, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996.
Luận văn thạc sỹ luật học: “Hòa giải trong tố tụng dân sự” của Trương
Kim Oanh, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Trung tâm khoa học Xã
hội và Nhân văn, 1996.
Luận án tiến sỹ luật học: “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh tế tại
Tòa án ở Việt Nam”, của Đào Thị Xuân Lan, Viện nghiên cứu Nhà nước và
Pháp luật, Hà Nội, 2004.
Luận án tiến sỹ luật học: “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân
sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của Trần Văn Quảng, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2004.


3

Bên cạnh các công trình nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án, thì
vấn đề lý luận về hòa giải cũng được khái quát trong giáo trình luật Tố tụng
dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh v.v… Ngoài ra, còn một số bài viết về thực tiễn hòa giải các vụ án
dân sự của các tác giả được đăng lên Tạp chí TAND, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật; Tạp chí Kiểm sát, Báo Công lý; như: “Hoàn thiện chế định hòa
giải trong tố tụng dân sự”, của Đào Thị Mai Hường, Tạp chí TAND, số 01,

án dân sự trên thực tế.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về hòa giải như
khái niệm, bản chất, ý nghĩa, cơ sở của hòa giải vụ án dân sự, các quy định
của pháp luật Việt Nam về hòa giải vụ án dân sự và việc áp dụng chúng trên
thực tiễn nhằm tìm kiếm những giải pháp giải quyết những bất cập của các
quy định này để nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải vụ việc cơ sở trong
TTDS.
Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, đề tài chủ yếu giới hạn việc
nghiên cứu hòa giải trong pháp luật Việt Nam hiện hành (BLTTDS năm
2015) và có so sánh với các quy định trước đây. Việc nghiên cứu thực tiễn
chủ yếu tiến hành đối với công tác hòa giải tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh
Sơn La từ năm 2013 đến nay.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như
chủ trương, quan điểm về việc xây dựng BLTTDS.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, logic, lịch sử,
quy nạp, khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác
thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các mục đích :
Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, nội dung các quy định của pháp
luật TTDS Việt Nam hiện hành về hòa giải vụ án dân sự .


5


6

Ba là, chỉ ra được những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật hòa
giải vụ án dân sự trong TTDS qua thực trạng hòa giải các vụ án dân sự tại các
Tòa án ở tỉnh Sơn La. Những kết quả đạt được và hạn chế, vướng mắc, khó
khăn trong thực tiễn thực hiện hoạt động hòa giải vụ án dân sự.
Bốn là, đề xuất được những kiến nghị xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ
chức thực hiện có hiệu quả hoạt động hòa giải vụ án dân sự trong TTDS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội
dung cụ thể của luận văn được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hòa giải vụ án dân sự theo pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn hòa giải vụ án dân sự tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh
Sơn La và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa giải
vụ án dân sự.


7

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
I.
Những vấn đề chung về hòa giải vụ án dân sự
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án dân sự
Hòa giải vụ án dân sự là một phương thức giải quyết tranh chấp và
những diễn biến trong đời sống xã hội. Trong khoa học pháp lý, hòa giải được

thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung lập thứ ba (hòa
giải viên) để giúp đưa ra các đề nghị giải quyết một cách thân mật”4. Ngoài
ra, trong khoa học pháp lý, còn có nhiều quan điểm khác về hòa giải dưới góc
độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp.
Từ các quan điểm trên có thể khái quát, hòa giải là quá trình các bên
đàm phán với nhau để giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của bên thứ ba.
Như vậy, khác với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa
giải coi trọng vai trò của bên trung gian thứ ba giúp các bên tranh chấp đưa ra
phương hướng giải quyết, nhằm dung hòa quyền và lợi ích của cả hai bên để
từ đó đi đến thống nhất phương án giải quyết tranh chấp.
Khi việc giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba làTòa án cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước thì việc giải quyết tranh chấp đó
phải tuân theo hình thức, trật tự, thủ tục do pháp luật tố tụng quy định, quyết
định, bản án do Tòa án tuyên tại mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết tranh
chấp, đều được đảm bảo thi hành bằng quyền lực Nhà nước, phù hợp với quy
định của pháp luật TTDS và pháp luật về thi hành án.
Bên cạnh thủ tục hòa giải tại Tòa án, trên thực tế tồn tại nhiều hình thức
hòa giải khác nhau như hòa giải ở cơ sở, hòa giải ở UBND, …. Các hình thức
hòa giải này đều có đặc điểm chung là phương thức giải quyết tranh chấp phát
sinh trong đời sống dân sự, hình thức hòa giải đều có sự tham gia của chủ thể
thứ ba đóng vai trò trung gian và các bên tranh chấp có quyền quyết định
cũng như định đoạt khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng hòa giải. Tuy
vậy, các phương thức này cũng có những điểm khác biệt nhất định, về tính
chất bắt buộc, về chủ thể, phạm vi hòa giải và hiệu lực pháp luật của kết quả
hòa giải thành.
Như vậy, từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm hòa giải
vụ án dân sự dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp, theo đó, hòa
giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự với vai trò của Tòa án là bên
3

Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2002), Điều 695 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, (Tài liệu tham

khác, cơ quan tổ chức không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp
nên không có quyền hòa giải với bị đơn. Sự thỏa thuận của các đương sự phải
trong khuôn khổ pháp luật và chỉ được Tòa án công nhận khi không trái pháp
luật, không trái đạo đức xã hội.
1.2.2.2. Tòa án là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải, có vai trò
quan trọng trong việc giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau


10

Hòa giải về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự nhưng Tòa án là
chủ thể không thể thiếu trong quá trình hòa giải đó. Tòa án tham gia vào quá
trình hòa giải với vai trò là người tổ chức, xác định thời gian, địa điểm, thành
phần, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các
đương sự thỏa thuận với nhau. Tòa án không can thiệp vào nội dung thỏa
thuận các bên đương sự.
Kết quả tự thỏa thuận của đương sự là do các đương sự thực hiện quyền
định đoạt của mình, nhưng kết quả này được xây dựng trên cơ sở các trình tự,
thủ tục chặt chẽ do Tòa án tiến hành. Mặc dù, chỉ là bên thứ ba giữ vai trò
trung gian nhưng Tòa án có một vai trò đặc biệt quan trọng, trong việc chuẩn
bị những điều kiện cần thiết, tạo ra cơ hội và định hướng cho các bên đương
sự thương lượng và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
1.1.2.3. Hòa giải vụ án dân sự phải được tiến hành theo thủ tục do luật
tố tụng dân sự quy định
Hòa giải vụ án dân sự, cũng như các thủ tục tố tụng khác do Tòa án tiến
hành trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc BLTTDS quy định thủ tục hòa
giải vụ án dân sự nhằm bảm đảm tính khách quan, công bằng, bảo đảm sự
bình đẳng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Quy định của
pháp luật TTDS về thủ tục hòa giải là cơ sở đề tiến hành hòa giải các vụ án
dân sự,đồng thời bắt buộc Tòa án và những người khác tham gia hòa giải vụ

khác, trong trường hợp hòa giải thành, các đương sự đã thỏa thuận được với
nhau về nội dung tranh chấp nên cũng thường tự nguyện thi hành các nghĩa
vụ của mình. Do đó, việc thi hành án dân sự cũng được thực hiện thuận lợi
hơn, góp phần giảm thiểu những vấn đề thi hành án tồn đọng.
Nếu trong trường hòa giải vụ án dân sự không thành, thì nội dung của
phiên hòa giải cũng giúp Thẩm phánhiểu rõ hơn về nguyên nhân và nội dung
tranh chấp. Đểtừ đó, củng cố hồ sơ vụ án, xác định đường lối xét xử đúng đắn
và hiệu quả xét xử được nâng cao.
Thứ ba, ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội
Tòa án hòa giải thành vụ án dân sự giúp các bên đương sự tự nguyện
thỏa thuận với nhau về cách giải quyết tranh chấp mà không cần phải mở
phiên tòa xét xử vụ án góp phần làm giảm bớt số lượng vụ việc mà Tòa án
phải giải quyết giúp tiết kiệm được thời gian, tiền của, công sức cho cơ quan
Nhà nước, cũng như cho nhân dân, hạn chế được việc phải sử dụng sức mạnh
cưỡng chếNhà nước trong công tác thi hành án.


12

Nhiều trường hợp hòa giải thành đã nhanh chóng khắc phục được bất
đồng, giảm bớt mâu thuẫn và hậu quả khác do tranh chấp gây ra, ngăn ngừa
tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp dân sự phát sinh, đồng thời khôi phục
được lòng tin, củng cố đoàn kết trong nội bộ nhân dân, thúc đẩy giao lưu dân
sự tiếp tục phát triển. Hòa giải góp phần quan trọng vào việc khơi dậy, phát
huy truyền thống đoàn kết của dân tộc ta, nâng cao nhận thức và hiểu biết về
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nâng cao trình độ dân trí, giáo
dục nếp sống và làm theo pháp luật trong nhân dân. Hòa giải thành còn giúp
cho việc thi hành án thuận lợi, mà không cần phải có sự cưỡng chế của cơ
quan Nhà nước và không có những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh trật tự, công bằng

cho các đương sự tự thương lượng và thỏa thuận với nhau. Trên cơ sở kết quả
thương lượng, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận cho các đương
sự theo quy định của pháp luật.
Như vậy, xuất phát từ sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ pháp
luật dân sự, đồng thời xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong việc đứng ra để
giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội để đảm bảo trật tự xã hội và
quyền tự định đoạt của các đương sự trong TTDS, mà hòa giải vụ án dân sự
được quy định là hoạt động bắt buộc của Tòa án trong việc giải quyết các vụ
án dân sự.
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Phương thức hòa giải được hình thành một cách khách quan trước yêu
cầu của đời sống kinh tế xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố
chính trị, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán trong từng giai đoạn phát triển
của lịch sử. Các tranh chấp được giải quyết bằng hòa giải thường có tình, có
lý, đảm bảo quyền lợi của các bên và đặc biệt hòa giải là phương thức hàn gắn
tình cảm và giữ gìn tình đoàn kết của các bên có tranh chấp. Do vậy mà
phương thức hòa giải đã thể hiện được truyền thống đoàn kết từ lâu đời của
dân tộc ta. Xuất phát từ tồn tại thực tế của hòa giải và tính hiệu quả của
phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, Nhà nước đã thừa nhận và
luật hóa các quy định về hòa giải trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật và
trong đó, phải kể đến hòa giải đã trở thành một nguyên tắc trong pháp luật
TTDS, điều đó vừa phù hợp với mục tiêu chính trị của Nhà nước, vừa phù
hợp với truyền thống đạo đức của nhân dân ta.
Thêm vào đó, việc luật hóa các quy định về hòa giải là phù hợp với xu
thế chung của thời đại. Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế diễn ra


14

mạnh mẽ, giao lưu dân sự kinh tế ngày càng phát triển đa dạng, đan xen và



15

được hoặc vụ án dân sự được hòa giải theo thủ tục rút gọn, thì các vụ án còn
lại Tòa án có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải mà không phụ thuộc vào khả
năng có hòa giải được hay không. So với BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung
2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm trường hợp, vụ án dân sự được
giải quyết theo thủ tục rút gọn thì không cần phải hòa giải cho phù hợp với
thực tiễn giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án. Trách nhiệm tiến hành hòa giải
của Tòa án được coi là một thủ tục tố tụng bắt buộc, nếu Thẩm phán được
giao nhiệm vụ giải quyết án mà không tiến hành hòa giải thì bị coi là vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng không thể nào khắc phục được và là căn cứ để
kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm để hủy án xét xử lại theo thủ tục sơ
thẩm. Việc tổ chức phiên hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm xuất phát từ mục
đích của hòa giải, là tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận việc giải quyết
tranh chấp một cách tự nguyện và ổn thỏa. Chỉ cần một vụ án mà đương sự tự
nguyện thỏa thuận được với nhau thông qua hòa giải mà Tòa án không phải
mở phiên tòa, mang lại một ý nghĩa rất lớn không chỉ cho cá nhân các đương
sự, cho Tòa án nơi giải quyết vụ án đó, mà còn có ý nghĩa to lớn cho địa
phương, cho xã hội. Do vậy, việc quy định Tòa án có trách nhiệm phải tổ
chức và tiến hành phiên hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là
hoàn toàn cần thiết và hợp lý.
Thứ hai, pháp luật khuyến khích các đương sự hòa giải ở các giai đoạn
tố tụng tiếp theo.
Thủ tục hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là thủ tục tố
tụng bắt buộc Tòa án phải tiến hành. Bên cạnh đó, pháp luật luôn khuyến
khích các đương sự hòa giải với nhau ở bất kỳ thời điểm nào, nếu như thỏa
thuận đó là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì đều được
Tòa án ghi nhận và bảo đảm. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm,

bản không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của
BLTTDS năm 2015. Một điểm mới trong quy định về hòa giải của BLTTDS
năm 2015 là khi một trong các đương sự đề nghị Tòa án không tiến hành hòa
giải thì Tòa án sẽ không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử ngay. Như
vậy, quyền tham gia phiên hòa giải của đương sự được pháp luật rất tôn trọng
và đặt ra nhiều trường hợp để đương sự lựa chọn và Tòa án áp dụng sao cho
phù hợp và đảm bảo nhất quyền, cũng như lợi ích chính đáng của đương sự.
Thứ hai, về tự nguyện thỏa thuận nội dung hòa giải: Khi tranh chấp,
xung đột giữa các cá nhân đạt đến một độ nhất định mà không thể tự giảng
hòa và phải ra đến Tòa án, thì việc thỏa thuận và ghi nhận về những nội dung
đang có xung đột là điều hết sức quan trọng. Quyền định đoạt về các nội dung
hòa giải phải do chính đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ quyết


17

định trên tinh thần tự nguyện. Nếu sự thỏa thuận của các đương sự là kết quả
của việc dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực của người khác tác động lên,
làm cho đương sự buộc phải thỏa thuận trái với ý muốn để bảo vệ sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm và tài sản của mình thì thỏa thuận đó không được coi là
tự nguyện và không được chấp nhận.
Trong quá trình hòa giải, Tòa án chỉ tạo điều kiện về mặt không gian,
thời gian và định hướng để các đương sự tự thỏa thuận với nhau, chứ Tòa án
không can thiệp hay áp đặt các đương sự phải hòa giải trái với ý muốn của
mình.
1.1.2.2. Nguyên tắc về nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Điểm b khoản 2 Điều 205 của BLTTDS năm 2015 quy định: “Nội dung
thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội”. Như vậy, Tòa án chỉ ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của

quy định về việc không tiến hành hòa giải đối với vụ án dân sự được giải
quyết theo thủ tục rút gọn.
1.2.1. Những vụ án dân sự không được hòa giải
Theo quy định tại Điều 206 của BLTTDS năm 2015 thì những vụ án
dân sự không được tiến hành hòa giải bao gồm: Yêu cầu đòi bồi thường vì lý
do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và những vụ án phát sinh từ giao
dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.Việc tiến hành
hòa giải trong những trường hợp này là đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho
các bên vi phạm pháp luật hoặc lợi dụng việc hòa giải để xâm phạm tài sản
của Nhà nước. Do vậy, trong trường hợp này Tòa án sẽ không tiến hành thủ
tục hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử.
Thứ nhất, Tòa án không tiến hành hòa giải đối với yêu cầu đòi bồi
thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước vì tài sản của Nhà nước thuộc
sở hữu của nhân dân. Do vậy, bất cứ hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà
nước đều trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường. Người gây thiệt
hại không có quyền điều đình, thương lượng, thỏa thuận với Nhà nước về
trách nhiệm bồi thường của mình. Tuy nhiên, người gây thiệt hại tự nguyện
bồi thường và việc bồi thường phù hợp với quy định của pháp luật thì Tòa án
có thể chấp nhận. Theo Hướng dẫn tại Điều 15 của Nghị quyết số
05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được
sửa đổi, bổ sung (sau đây gọi tắt là “Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP”) thì



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status