Hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự - Pdf 30

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Lược sử hình thành
Pháp luật Việt Nam quy định về hòa giải từ rất sớm, ngay từ khi Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời đã thông qua hai Sắc lệnh 13 và Sắc lệnh 51 năm
1946 về trách nhiệm hòa giải của Ban Tư Pháp xã; cùng với chế định này là chế định
hòa giải của Tòa án sơ cấp (trước 1950) và của Tòa án nhân dân Huyện (sau 1950).
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hoạt động hòa giải chủ yếu được tiến hành tại cấp cơ
sở. Sau đó, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã thể chế hóa hoạt động hòa giải tuy
nhiên do đặc điểm của xã hội Việt Nam mà pháp luật vẫn chỉ chú trọng và qui định về
hoạt động hòa giải tại cơ sở.
Chỉ khi Bộ luật TTDS 2004 ra đời và Điều 10 Bộ luật này khẳng định rằng hòa
giải vụ án dân sự tại Tòa án là một nguyên tắc bắt buộc trừ những trường hợp không
hòa giải được hoặc không tiến hành hòa giải được.
1.2. Khái niệm "hòa giải vụ án dân sự"
Định nghĩa hòa giải vụ án dân sự được đề cập đến trong Giáo trình Luật Tố tụng
dân sự - Trường đại học Luật Hà Nội có nội dung như sau: “Hòa giải vụ án dân sự là
hoạt động tố tụng do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với
nhau về giải quyết vụ án dân sự.”
Từ định nghĩa này, ta thấy được một số đặc điểm riêng của hòa giải vụ án dân sự
so với các loại hòa giải khác:
Thứ nhất, hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng. Thật vậy, việc hòa giải
vụ án dân sự là một thủ tục bắt buộc (trừ những trường hợp pháp luật quy định không
được hòa giải) trong quá trình tố tụng của một vụ án dân sự và được quy định tại các
điều từ Điều 180 đến Điều 188 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004.
Thứ hai, cơ quan tiến hành hòa giải vụ án dân sự là Tòa án. Khác với các loại hòa
giải khác (như hòa giải tại cơ sở do hòa giải viên cơ sở tiến hành, hòa giải tại Ủy ban
nhân dân do Ủy ban nhân dân tiến hành), hòa giải vụ án dân sự do Tòa án tiến hành và
Tòa án cũng là cơ quan duy nhất tiến hành hòa giải vụ án dân sự.
1.3. Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự
Việc hòa giải thành vụ án dân sự mang lại một số ý nghĩa tích cực, có thể kể đến
như là:

pháp luật và đạo đức xã hội. Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, do dó mọi sự thỏa thuận trái pháp luật đều không có giá trị pháp lí. Tòa án
nhân danh nhà nước chỉ có thể công nhận những thỏa thuận của các đương sự nếu các
thỏa thuận đó phù hợp với quy định của pháp luật. Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt
buộc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, trong quá trình hòa giải, các
đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau nhưng các thỏa thuận đó không phù hợp với
quy định của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì thỏa thuận đó cũng không được
công nhận. Mặt khác, là một hoạt động tố tụng, hòa giải chỉ được tiến hành trên cơ sở
của pháp luật và mọi sự thỏa thuận về giải quyết vụ án phải phù hợp với quy định của
pháp luật.
2.2. Phạm vi và nội dung hòa giải vụ án dân sự
a. Phạm vi hòa giải vụ án dân sự
Theo Điều 180 BLTTDS: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà
án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án,
2
2
trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được”. Như vậy
phạm vi hòa giải vụ án dân sự rất rộng bao gồm tất cả vụ án dân sự, chỉ trừ những vụ
án không được hòa giải và vụ án không tiến hành hòa giải được.
Thứ nhất, về những vụ án không được hòa giải, theo Điều 181 BLTTDS, những
vụ án dân sự không được hòa giải gồm:
- Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước. “Tài sản của
Nhà nước” được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước (Điều 200 của Bộ
luật dân sự năm 2005). “Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước” là
trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô
hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài
sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường. Vì đối tượng bị gây thiệt hại ở đây là tài
sản của Nhà nước, thuộc sở hữu toàn dân vì vậy bất cứ hành vi nào gây thiệt hại đến
tài sản của Nhà nước đều bị coi là trái pháp luật và phải bồi thường thiệt hại, người
bồi thường không có quyền thỏa thuận với Nhà nước về việc bồi thường thiệt hại của

lý do lưu vào hồ sơ vụ án, sau đó đưa ra xét xử tại tòa. Đối với những vụ án này, tòa
không hòa giải được và không có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự. Nếu đương sự tự hòa giải được hoặc rút đơn kiện và hoàn toàn tự nguyện và phù
hợp với quy định pháp luật, tòa có thể đình chỉ việc giải quyết vụ án.Đối với những vụ
án do cơ quan tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khác, nếu phải hòa giải thì tòa
không được hòa giải giữa cơ quan, tổ chức khởi kiện với bị đơn mà phải tiến hành hòa
giải giữa bị đơn với nguyên đơn hoặc người đại diện của họ trừ trường hợp pháp luật
quy định không được hòa giải hoặc không hòa giải được.
b. Nội dung hòa giải
Nội dung hòa giải vụ án dân sự là các vấn đề của vụ án mà hai bên cần thỏa
thuận để giải quyết. Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự
biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên
hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để
họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Do nội dung tranh chấp
cũng như ý chí của các đương sự trong mỗi vụ án là khác nhau nên nội dung hòa giải
cũng khác nhau. Tùy mỗi vụ án mà Tòa cần phải giúp các đương sự thỏa thuận,
thương lượng như án phí, mức, phương thức bồi thường thiệt hại trong vụ án bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phân chia di sản thừa kế, phân chia tài sản chung
trong hôn nhân, về việc nuôi con, cấp dưỡng sau khi ly hôn…
2.3. Thành phần và thủ tục hòa giải vụ án dân sự
a. Thành phần phiên hòa giải vụ án dân sự
Điều 184 BLTTDS quy định thành phần phiên hòa giải bao gồm:
- Thẩm phán, chủ trì phiên hòa giải. Thẩm phán thực hiện việc phổ biến các nội
dung pháp luật liên quan đến vấn đề tranh chấp, các quyền và nghĩa vụ của các đương
sự, tạo điểu kiện cho các bên hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các
bên tham gia. Thẩm phán phải đảm bảo nguyên tắc khách quan và vô tư, không có sự
ép buộc các bên
- Thư kí Tòa án ghi biên bản hòa giải. Thư kí tòa án phải ghi biên bản theo quy
định tại Điều 186 BLTTDS và chịu trách nhiệm nếu có sự cố sai sót xảy ra do lỗi của
mình.

quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình mà tự nguyện thoả thuận
với nhau về việc giải quyết vụ án; phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành
cho các đương sự biết. Thẩm phán không được nói trước với các đương sự ai sai, ai
đúng ở chỗ nào hoặc nếu các đương sự không thoả thuận được, thì hướng xét xử của
Toà án như thế nào…
- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của
mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải.
1 Điều 183 BLTTDS
5
5
- Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa
thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ,
chưa thống nhất. Hòa giải kết thúc khi Thẩm phán có kết luận cuối cùng về những
vấn đề các bên đương sự đã hòa giải thành và vấn đề chưa thống nhất.
2.4. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Hoạt động ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được quy
định tại các Điều 187 và 188 BLTTDS, theo đó:
Điều kiện để công nhận sự thỏa thuận của các đương sự bao gồm:
- Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
- Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có
đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
- Trường hợp trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt
trong phiên hòa giải, mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được công
nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trong
trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng
mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được công nhận nếu được đương sự vắng mặt
tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản.
Thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thuộc về
Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân

được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận cuả họ là tự nguyện, không trái
pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án( Điều 220). Nếu các đương sự không
thoả thuận được với nhau thì hội đồng xét xử sẽ nghe các đương sự trình bày. Điểm
mới của BLTTDS so với các pháp lệnh trước kia là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu, sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại
phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay
đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người am hiểu
pháp luật, có kinh nghiệm tham gia tố tụng nên quy định này sẽ giúp cho chất lượng
phiên toà và việc bảo vệ quyền lợi của đương sự được thực hiện tốt hơn đồng thời
phát huy tối đa khả năng và vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự nói
chung, luật sư nói riêng trong hoạt động tố tụng.
- So với BLTTDS trước khi sửa đổi bổ sung 2011, BLTTDS sau khi sửa đổi, bổ sung
năm 2011 có một số điểm mới
• Về thành phần phiên hòa giải: bổ sung quy định về nghĩa vụ của Thẩm phán trong
việc thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải cho đương sự
biết. Thêm vào đó, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan
tham gia phiên hòa giải nếu xét thấy cần thiết. Đây là một quy định hoàn toàn hợp lý
bởi các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong nhiều trường hợp là bên có khả
năng thuyết phục được đương sự để đi đến sự đồng thuận. Ví dụ như vai trò của Hội
phụ nữ trong hòa giải các vụ án ly hôn; vai trò của Trưởng bản, già làng trong vụ án
giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trong tộc…
• Về trình tự hòa giải: BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 bổ sung các quy định mới về
trình tự hòa giải (được quy định tại Điều 185a BLTTDS sửa đổi 2011). Đây là điều
7
7
luật hoàn toàn mới, nhằm thiết lập quy trình chính thức cho quá trình hòa giải tiền tố
tụng, tránh sự tùy tiện trong quá trình hòa giải.
- So với pháp luật về hòa giải của nước ngoài:

Article 91
" 

8
8
Thêm vào đó, pháp luật Tố tụng Dân sự của Trung Quốc còn quy định một số
trường hợp nhất định mà Tòa án không cần ra biên bản hòa giải, ví dụ như các vụ việc
về ly hôn mà các bên không ly hôn nữa sau khi được hòa giải, vụ việc liên quan đến
con nuôi mà quan hệ nuôi dưỡng vẫn được duy trì sau hòa giải
4
…Trong các trường
hợp này, tuy không cần có biên bản hòa giải song vẫn cần có văn bản ghi lại và văn
bản này có hiệu lực ngay sau khi được kí hoặc đóng dấu bởi cả 2 bên, Thẩm phán và
thư ký Tòa án. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, không có trường hợp nào hòa
giải thành mà không cần phải ra biên bản hòa giải thành như quy định của pháp luật
Trung Quốc.
III. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ
1. Về thủ tục hòa giải
Vấn đề: Các quy định quá cứng nhắc ở thủ tục hòa giải trong tố tụng có thể làm
một bên tham gia tranh chấp trục lợi. Pháp luật qui định nếu bị đơn được triệu tập hợp
lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì vụ việc sẽ được đưa ra xét xử. Vấn đề là ở chỗ:
thế nào là triệu tập hợp lệ, và chuyện gì sẽ xảy ra nếu một bên có mặt một buổi, rồi lại
vắng mặt một buổi? Nhiều thư ký tòa án đã căn cứ vào giấy ủy quyền không hợp lệ
mà coi một bên vắng mặt trong buổi hòa giải, hoặc giải thích rằng “triệu tập hợp lệ” là
phải có tống đạt tại nơi cư trú bởi cơ quan công an. Như vậy bao nhiêu lần tống đạt
bằng thư đến nơi cư trú của bị đơn đều bị coi là “không hợp lệ”. Ngay cả khi nguyên
đơn và bị đơn đều có mặt tại buổi hòa giải, song không có mặt người có quyền và
nghĩa vụ liên quan, cũng khiến buổi hòa giải được giải thích là không thể tiến hành.
4
Article 90

phản đối lại những gì mình đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải trước đó.
Giải pháp: Thiết nghĩ, nên bãi bỏ quy định về thời gian chờ đợi 7 ngày để ra
quyết định công nhận hòa giải các bên. Thời gian phúc thẩm quyết định công nhận
hòa giải thành, nếu có, chỉ dựa trên những căn cứ do việc áp dụng pháp luật của thẩm
phán có sai sót, chứ không phải là do đương sự không đồng ý với những gì mình đã
ký trong biên bản mà không có lý do chính đáng.
3. Về hòa giải trong tranh chấp đất đai
Vấn đề: Ðiều 135 và 136 của Luật Ðất đai năm 2003 bắt buộc các đương sự
phải tiến hành thủ tục hòa giải ở cấp cơ sở. Nhưng việc hòa giải tranh chấp đất đai ở
cơ sở có những vấn đề chưa thống nhất trong nhận thức cũng như cách làm của cán bộ
làm công tác hòa giải. Song những vướng mắc trong vấn đề hòa giải tại địa phương đã
tạo tiền đề cho những vướng mắc, khó xử khi đương sự muốn hòa giải tại Tòa án.
Khó đưa tranh chấp đất đai ra hòa giải tại Tòa án: trường hợp UBND cấp xã triệu
tập nhiều lần nhưng người bị kiện cố tình không đến, cho nên không thể tiến hành hòa
10
10
giải được. Như vậy, nếu người bị kiện cố tình trốn tránh việc tham gia hòa giải thì
tranh chấp sẽ kéo dài thời gian hòa giải mà nếu chưa qua hòa giải được ở địa phương
thì Tòa án không thụ lý đơn khởi kiện mà hiện nay cũng chưa có chế tài nào quy định
xử lý đối với trường hợp này.
Phạm vi hòa giải tại cấp xã và Tòa án không phân định rõ : trong thực tế, tranh
chấp đất đai xảy ra rất nhiều dạng, vậy loại tranh chấp nào phải qua hòa giải tại cấp
xã? Ðây là vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau. Nơi này thì cho rằng chỉ có loại tranh
chấp ai là người có quyền sử dụng đất mới phải qua hòa giải tại cấp xã, còn các tranh
chấp về hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng
cho và tranh chấp thừa kế quyền sử dụng thì không bắt buộc phải qua hòa giải.
Ngược lại, ở nơi khác thì lại khẳng định tất cả các tranh chấp đất đai kể cả các
tranh chấp hợp đồng liên quan quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất đều
bắt buộc phải qua hòa giải tại cấp xã trước khi khởi kiện đến tòa án.
Tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại cấp xã theo quy định của Luật Ðất đai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status