VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY NAM
CHỨNG MINH VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TỪ THỰC
TIỄN CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã
hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
Phản biện 1: Hoàng Văn Tú
Phản biện 2: Vũ Thƣ
Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 10 giờ 50 phút
ngày 08 tháng 08 năm 2015
1
đầu tiên đi sâu nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, các công trình khoa
học đã công bố, các bài viết sẽ là nguồn tư liệu quý giá, có giá trị tham
khảo trong quá trình thực hiện đề tài này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh vụ án hình sự trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm, chỉ ra những hạn chế trong thực tiễn thực hiện
hoạt động chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu cũng như nguyên nhân
của những hạn chế đó để đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến hoạt động chứng
minh vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và nâng cao hiệu quả
của hoạt động này trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chứng minh vụ án xâm phạm
sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Đánh giá thực tiễn chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong
giai đoạn xét xử từ thực tiễn các Tòa án quân sự.
Đưa ra số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chứng minh vụ
án hình sự nói chung và vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm những vấn đề cụ thể
sau:
2
vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phân biệt chứng
minh giai đoạn xét xử sơ thẩm với các giai đoạn tố tụng khác.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực
tiễn hoạt động chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm, đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm.7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 2 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận về chứng minh vụ án xâm phạm
sở hữu trong giai đoạn xét xử sở thẩm vụ án hình sự.
Chương II: Thực tiễn chứng minh và giải pháp nâng cao chất
lượng chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm từ thực tiễn các Tòa án quân sự.
4
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨNG MINH VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
HỮU TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm chứng minh vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì "chứng minh" là "dùng
lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng" [56,
tr. 256]. Như vậy, theo nghĩa thông thường, chứng minh được hiểu là
hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn của con người nhằm xác định sự
tồn tại hay không tồn tại hoặc đúng hoặc sại của một sự vật, hiện tượng
trên cơ sở những chứng cứ nhất định.
vấn đề liên quan khác để giải quyết toàn bộ vụ án.
1.1.2. Nội dung hoạt động chứng minh vụ án hình sự trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Thu thập chứng cứ
“Thu thập chứng cứ là việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các
biện pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, ghi
nhận, thu giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến
vụ án phục vụ cho việc giải quyết vụ án” [42, tr. 65]. Hoạt động thu thập
chứng cứ ở các giai đoạn trước khi Tòa án thụ lý hồ sơ có thể được các
chủ thể chứng minh tiến hành bằng tất cả các biện pháp nêu trên. Nhưng
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, do chức năng tố tụng và hạn chế trong
khả năng thu thập chứng cứ của Tòa án nên hoạt động thu thập chứng cứ
6
ở giai đoạn này chủ yếu được thực hiện bằng các biện pháp như: hỏi và
nghe những người tham gia tố tụng trình bày những vấn đề liên quan
đến vụ án; tiếp nhận các tài liệu, đồ vật do người tham gia tố tụng cung
cấp; trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, xem xét tại chỗ...
- Kiểm tra chứng cứ:
Chứng cứ là cơ sở để ra các quyết định giải quyết vụ án của cơ
quan điều tra, tuy tố và xét xử. Do đó, sẽ dễ mắc sai lầm trong việc giải
quyết vụ án nếu dựa vào các tài liệu thu được mà chưa kiểm tra để xác
định có đúng đắn hay không.
Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
là hoạt động xem xét của chủ thể chứng minh đối với toàn bộ chứng cứ
về vụ án được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nhằm xác định tính hợp pháp, tính liên
quan và tính khách quan của chúng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử,
hoạt động kiểm tra chứng cứ do Thẩm phán được phân công Chủ tọa
có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo (hay nói cách khác là
người bị buộc tội) có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình
vô tội. Như vậy, có thể thấy trong quá trình giải quyết vụ án hình sự theo
thủ tục tố tụng có hai nhóm chủ thể cùng tham gia hoạt động chứng
minh. Nhóm chủ thể thứ nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng, có trách
nhiệm chứng minh tội phạm. Nhóm chủ thể thứ hai là người bị buộc tội
có quyền chứng minh tội phạm.
1.2.2. Đối tượng chứng minh
“Đối tượng chứng minh là tất cả những tình tiết phải được xác
định, đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án
hình sự” [52, tr. 164]. Trên cơ sở mối quan hệ với bản chất vụ án, những
8
vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự được chia thành ba nhóm chính,
đó là:
- Nhóm những vấn đề phải chứng minh thuộc về bản chất của vụ
án, có ý nghĩa trong việc định tội danh, đó là các tình tiết chứng minh
cấu thành tội phạm;
- Nhóm những ấn đề phải chứng minh không thuộc về bản chất
vụ án nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến trách nhiệm hình sự và hình
phạt gồm: những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
những tình tiết miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt; đặc điểm nhân
thân người phạm tội …
- Nhóm các tình tiết phải chứng minh không thuộc về bản chất
của vụ án, không liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự của người
phạm tội nhưng có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án đúng đắn, kịp
thời, triệt để vụ án như: xác định mức độ thiệt hại xảy ra, xác định
nguyên nhân và điều kiện phạm tội, mối quan hệ giữa bị can, bị cáo với
người bị hại, người làm chứng …
minh phụ thuộc vào nội dung kháng cáo, kháng nghị nhằm mục đích giải
quyết nội dung kháng cáo, kháng nghị. Còn trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm, giới hạn chứng minh là toàn bộ những vấn đề liên quan đến việc
sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
1.3. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động
chứng minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
1.3.1. Quy định về hoạt động chứng minh trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử.
Chứng minh vụ án hình sự là cả một quá trình trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau từ khi nhận tin báo, tố giác tội phạm cho đến khi đưa
10
bản án ra thi hành. Tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà mục đích và trách nhiệm chứng
minh trong mỗi giai đoạn tố tụng cũng khác nhau. Trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng đóng vai trò chủ thể chính thực hiện chức năng chứng minh vụ án.
Theo quy định của Điều 176 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều
276 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì hoạt động chứng minh trong
giai đoạn này chủ yếu thuộc về Thẩm phán được phân công chủ tọa
phiên tòa. Các chủ thể chứng minh khác như Kiểm sát viên, những
người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia hoạt động chứng minh trong
giai đoạn này thông qua việc cung cấp, bổ sung các chứng cứ, yêu cầu.
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử còn có thêm các Hội thẩm
cũng tham gia hoạt động chứng minh.
Mục đích của hoạt động chứng minh trong giai đoạn này là để
đưa ra một trong các quyết định sau: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ điều
tra bổ sung; tạm định chỉ hoặc đình chỉ vụ án.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mở rộng thẩm quyền của Tòa
bên bị buộc tội được thể hiện qua lời luận tội của kiểm sát viên; lời bào
chữa của bị cáo, người bào chữa; ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự, người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ và lời đối đáp của các bên trong phần tranh luận.
Hoạt động đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử được thể hiện
trong thủ tục nghị án và tuyên án.
12
Kết luận Chƣơng 1:
Chứng minh vụ án hình sự nói chung và chứng minh vụ án trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng là hoạt động nhận thực được hình
thành bởi hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà trực tiếp là đội ngũ Kiểm sát
viên, Thẩm phán và Hội thẩm. Những người bị buộc tội có quyền nhưng
không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội.
Với tính chất là giai đoạn trung tậm của toàn bộ quá trình chứng
minh vụ án hình sự, hoạt động chứng minh vụ án hình sự trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm được thực hiện thông qua việc kiểm tra, đánh giá một
cách khách quan, đầy đủ và toàn diện các chứng cứ trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa theo trình tự, thủ tục tố tụng được quy
định trong Bộ luật tố tụng hình sự.
13
Chƣơng 2
THỰC TIỄN CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ
bổ sung không có căn cứ hoặc đánh giá sai vài trò của người phạm tội
trong vụ án đồng phạm, quyết định sai phần các biện pháp tư pháp dẫn
đến bị hủy, sửa án.
- Sai lầm về đánh giá chứng cứ dẫn đến trả hồ sơ điều tra bổ
sung không có căn cứ.
- Sai lầm trong đánh giá chứng cứ dẫn đến quyết định sai phần
bồi thường thiệt hại.
- Sai lầm trong đánh giá chứng cứ dẫn đến xác định sai vai trò
của người phạm tội trong vụ án đồng phạm:
2.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc
2.1.3.1. Những bất cập, hạn chế của pháp luật
* Về Bộ luật tố tụng hình sự:
Sau khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và đặc biệt là sau
khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành, có thể nói hệ thống
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã quy định trình tự, thủ tục tố tụng
hình sự khá chặt chẽ, đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được logic,
khoa học và nhất là bảo đảm quyền con người, quyền lợi ích của công
dân. Tuy nhiên thực tiễn áp dụng quy định pháp luật cho thấy vẫn còn
nhiều bất cập do các quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa rõ
ràng, thống nhất đã gây khó khăn cho các chủ thể chứng minh và các
chủ thể khác khi tiến hành và tham gia vào hoạt động chứng minh. Có
thể kể đến một số bất cập chủ yếu sau:
15
Một là, bất cập trong quy định về phương tiện chứng minh
Hai là, Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay chưa có quy định cụ thể,
rõ ràng về giới hạn chứng minh
Ba là, Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay chưa có sự phân biệt rõ
ràng giữa hai hoạt động kiểm tra và đánh giá chứng cứ.
chiếm đoạt. Nhưng chính dấu hiệu định lượng trong cấu thành cơ bản
của tội “trộm cắp tài sản” lại gây ra một số vướng mắc, bất cấp trong
thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự khi mà không xác định được giá trị
tài sản mà người phạm tội dự định chiếm đoạt. Ví dụ: A thông đồng với
bảo vệ ngân hàng phá cửa, khoan phá két sắt để trộm cắp tiền nhưng cho
đến khi trời sáng vẫn không phá được két nên phải bỏ dở. Quá trình điều
tra xác định được trong két không có tiền. Các bị cáo khai không biết
trong két có bao nhiều tiền và cũng không có ý định sẽ chiếm đoạt từ 2
triệu đồng trở lên. Nên trên thực tế xét xử đã gây lúng túng cho các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án. Thực tiễn
cho thấy đối với trường hợp này, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng thường giải quyết theo hướng xử lý vi phạm hành chính. Nếu
hành vi phạm tội gây ra thiệt hại về tài sản từ hai triệu đồng trở lên thì
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thường “lái” hướng xử lý
vụ án sang “tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2.1.3.2. Nguyên nhân từ các chủ thể chứng minh
Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm là những chủ thể có trách
nhiệm chứng minh trực tiếp, tiến hành các hoạt động chứng minh nhằm
xác định sự thật của vụ án và đưa ra kết luận, phán quyết giải quyết vụ
án hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng. Do đó,
trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của các
17
chủ thể này là yếu tố quyết định chất lượng của hoạt động chứng minh.
Tuy nhiên một bộ phận Kiểm sát viên, Thẩm phán do chuyển ngành
công tác, không được đào tạo bài bản về pháp luật nên trình độ nhận
thức về khoa học pháp lý có phần hạn chế. Một số Thẩm phán, Kiểm sát
viên không chuyên tâm vào nghề nghiệp, ngại nghiên cứu kỹ năng xét
xử và các quy định của pháp luật, không cập nhật kịp thời các văn bản
chứng minh tại phiên tòa không cao. Có những trường hợp, Luật sư bào
chữa theo chỉ định của Tòa án không nghiên cứu hồ sơ vụ án, chỉ xem
bản Kết luận điều tra và Cáo trạng để biết nội dung vụ án. Tại phiên tòa
Luật sư bào chữa theo chỉ định hầu như không tham gia xét hỏi hoặc chỉ
xét hỏi chiếu lệ và khi tran luận cũng chỉ tập trung nêu một vài tình tiết
giảm nhẹ để đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mà
không tham gia tranh luận gì thêm. Nguyên nhân của thực trạng trên một
phần là do chi phí thù lao mà Luật sư bào theo chỉ định của cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thấp hơn nhiều so với chi phí họ nhận
được từ hợp đồng dịch vụ pháp lý mà họ ký kết với khách hàng, nên
trong nhiều trường hợp thực hiện nghĩa vụ bào chữa theo chỉ định, Luật
sư đã không thực hiện hết trách nhiệm của mình. Nguyên nhân khác là
do Luật sư tham gia bào chữa theo chỉ định thường là những người
“quen biết” hoặc muốn tạo dựng mối quan hệ với cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, khi thực hiện việc bào chữa tại phiên
tòa Luật sư thường chỉ làm việc qua loa, hình thức để “tạo mối quan hệ
tốt” cho công việc của mình sau này. Thực trạng trên đã dẫn tới hoạt
động chứng minh tại phiên tòa nói chung và phiên tòa xét xử sơ thẩm
nói riêng vẫn có những sai sót.
2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng chứng minh các
vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
19
2.2.1. Triển khai thi hành, bảo đảm thực hiện và hướng dẫn
áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ
luật hình sự.
* Đối với Bộ luật Tố tụng hình sự:
Kịp thời hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật
- Hoàn thiện quy định về cấu thành tội phạm.
- Hoàn thiện cấu thành tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản theo
hướng quy định bổ sung trường hợp hành vi trộm cắp tài sản có tính
nguy hiểm đáng kể cho xã hội nhưng không thỏa mãn dấu hiệu định
lượng về tài sản như phá két sắt, phá máy ATM ... để chiếm đoạt tài sản
cũng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản.
- Hoàn thiện cấu thành tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản theo hướng quy định hành vi phạm tội
trước tiên phải là hành vi chiếm đoạt tài sản và hành vi ấy thuộc mặt
khách quan của tội phạm, còn việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, đe
dọa sẽ dùng vũ lực, bắt cóc người hay thủ đoạn khác … chỉ là thủ đoạn
phạm tội để phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với nhau.
2.2.3. Kiện toàn bộ máy và nhân lực của các chủ thể có trách
nhiệm chứng minh.
Xây dựng hệ thống các cơ quan tư pháp trong quân đội theo
hướng tinh gọn, xây dựng đội ngũ những người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn và kỹ năng
nghề nghiệp giỏi là một yêu cầu cấp thiết, một giải pháp có ý nghĩa rất
quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chứng minh
trong quá trình giải quyết vụ án nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm nói riêng.
21
Về đội ngũ những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: công
tác tuyển dụng cần được thực hiện thường xuyên song phải đảm bảo
chất lượng và các tiêu chí về ngoại hình phù hợp với yêu cầu của ngành
Tòa án và quân đội. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về trình độ
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp chưa được thường xuyên, nhất là việc
đào tạo nghiệp vụ Thư ký và nghiệp vụ kỹ năng xét xử cho đội ngũ
hình phát triển của đất nước và tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp
dụng pháp luật. Song một số bất cập tồn tại từ các quy định của các bộ
luật trước đó vẫn chưa được giải quyết. Những bất cập này cần phải
được nghiên cứu để hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng
chứng minh trong xét xử vụ án hình sự.
23