Chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ thực tiễn các Tòa án quân sự - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DUY NAM

CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM TỪ THỰC
TIỄN CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN DUY NAM



hành tố tụng mà nhất là Tòa án và trực tiếp là đội ngũ Thẩm phán được khách
quan, chính xác.
Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua công tác xét xử của các Tòa
án nói chung và các Tòa án quân sự nói riêng đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận. Hàng năm, các tòa án quân sự đã xét xử hàng trăm vụ án hình sự
theo thủ tục sơ thẩm, trong đó có những vụ án lớn, có số lượng người bị hại
đông, xâm phạm đến giá trị tài sản lớn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Mặc dù vậy, trong hoạt động xét xử vẫn còn có tình trạng sai sót, bỏ lọt tội
phạm và người phạm tội. Những hạn chế này đã gây ra những thiệt hại về tinh
thần và vật chất của các bên có liên quan, làm giảm uy tín của các Tòa án
trong việc thực thiện chức năng thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ quyền con
người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Một trong những nguyên nhân của các hạn chế trên là do những quy
định của pháp luật liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án trong giai đoạn
xét xử còn chưa thực sự thống nhất và chặt chẽ, gây nhiều khó khăn, vướng
mắc trong nhận thức và áp dụng pháp luật, nhất là việc chứng minh vụ án
hình sự nói chung và chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm nói riêng. Mặt khác, giữa lý luận khoa học pháp lý và thực tiễn áp
1


dụng pháp luật còn có khoảng cách đòi hỏi phải có sự nghiên cứu chuyên sâu
để tiếp tục làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản của hoạt động chứng minh vụ
án hình sự và nhất là vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề
"Chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ
thực tiễn các Tòa án quân sự" làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ Luật
học cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề chứng cứ và chứng

sung năm 2009) và Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về
chương "Các tội xâm phạm sở hữu" và các văn bản hướng dẫn áp dụng các
quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong thực tiễn.
Xem xét thực tiễn hoạt động chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm tại các Tòa án quân sự từ năm 2010 đến năm 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của Luận văn là chủ nghĩa duy vật lịch sử và
duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và
quản điểm của Đảng về nhà nước pháp quyền và về vấn đề cải cách tư pháp
trong giai đoạn hiện nay.
Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu luận văn gồm phương
pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…

5


6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động chứng minh vụ án
xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phân biệt chứng minh giai
đoạn xét xử sơ thẩm với các giai đoạn tố tụng khác.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt
động chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, đề
xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chứng
minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 2 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng
hình sự về chứng minh vụ án xâm phạm sở hữu trong giai đoạn xét xử sở

phạm.
Khách thể của nhận thức trong tố tụng hình sự là "sự thật khách quan
của vụ án". Các vụ án hình sự xảy ra luôn để lại "dấu vết" trong thế giới
khách quan. Quá trình chứng minh vụ án hình sự thực chất là quá trình con
người nhận thức về sự kiện phạm tội đã xảy ra thông qua việc thu thập, phân
tích, đánh giá những "dấu vết" (thông tin) về vụ án. Các "dấu vết" (thông tin)
7


của vụ án chính là các chứng cứ của vụ án hình sự. Dựa trên các chứng cứ của
vụ án, các chủ thể tiến hành tố tụng "phải dựng lại toàn bộ bức tranh tội phạm
một cách toàn diện, khách quan và trung thực" [10, tr. 54].
Trong khoa học pháp lý hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau xung quanh khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: "Chứng minh là quá trình nhận thức các
sự kiện, các tình tiết của vụ án hình sự" [54, tr. 330].
Quan điểm này đã phản ánh được bản chất của hoạt động chứng minh,
đó là quá trình nhận thức và đối tượng chứng minh là các sự kiện, tình tiết của
vụ án. Tuy nhiên quan điểm này không làm rõ được chủ thể của quá trình
chứng minh, các hoạt động cụ thể của quá trình chứng minh, cũng như căn cứ
pháp lý của hoạt động chứng minh.
Quan điểm thứ hai cho rằng: "Chứng minh là quá trình nhận thức các
sự kiện, các tính tiết của vụ án thông qua các chứng cứ" [8, tr. 164].
Quan điểm này đã xác định được đối tượng cần chứng minh trong vụ
án hình sự và phương tiện dùng để chứng minh là các chứng cứ. Tuy nhiên
tác giả vẫn chưa làm rõ được chủ thể chứng minh là ai, các hoạt động cụ thể
của quá trình chứng minh cũng như cơ sở pháp lý của hoạt động chứng minh.
Quan điểm thứ ba cho rằng: "Quá trình chứng minh trong vụ án hình
sự là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủ thể khác trong
việc phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm làm

"Thu thập chứng cứ là việc cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện
pháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, ghi nhận, thu
giữ và bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án phục vụ
cho việc giải quyết vụ án" [42, tr. 65]. Trong đó, phát hiện chứng cứ là tìm ra
những nguồn lưu giữ thông tin về vụ án. Ghi nhận chứng cứ là mô tả, sao
chép những thông tin từ các nguồn lưu giữ thông tin về vụ án để đưa vào hồ
sơ vụ án. Nếu nguồn lưu giữ thông tin là các vật thì mô tả đặc điểm, dấu hiệu,
dấu vết có liên quan đến diễn biến của vụ án. Nếu nguồn lưu giữ thông tin là
người thì hoạt động ghi nhận được tiến hành bằng cách yêu cầu họ trình bày
10


về những tình tiết của vụ án mà họ biết được. Thu giữ chứng cứ được thực
hiện đối với những chứng cứ tồn tại dưới hình thức là vật và cần phải thu giữ
để đảm bảo tính nguyên vẹn của thông tin, phục vụ cho hoạt động kiểm tra và
đánh giá chứng cứ; bảo quản chứng cứ là bảo vệ tính nguyên vẹn của chứng
cứ, không để chứng cứ bị mất mát, hư hỏng, biến dạng, sai lệch.
Chứng cứ trong vụ án hình sự được chứa đựng bởi nhiều nguồn khác
nhau. Do đó, để thu thập chứng cứ hiệu quả, các chủ thể chứng minh cần áp
dụng nhiều biện pháp thu thập khác nhau phù hợp với đặc điểm của từng loại
nguồn chứng cứ. Các biện pháp thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự bao
gồm: thu giữ vật chứng; triệu tập để hỏi những người biết về vụ án; tiến hành
các hoạt động điều tra khác như khám nghiệm hiện trường, khám xét, thực
nghiệm điều tra, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể, trưng cầu giám
định ...; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, trình bày những
tình tiết làm sáng tỏ nội dung vụ án; tiếp nhận tài liệu, đồ vật, thông tin liên
quan đến vụ án do các cơ quan, tổ chức, cá nhân chủ động cung cấp...
Hoạt động thu thập chứng cứ ở các giai đoạn trước khi Tòa án thụ lý hồ
sơ vụ án có thể được các chủ thể chứng minh tiến hành bằng tất cả các biện
pháp nêu trên. Nhưng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, do chức năng tố tụng và

được coi là chứng cứ hay không và có thể sử dụng để chứng minh tội phạm
hay không?
Hoạt động kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa được thực hiện công khai,
do Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tiến hành với sự tham gia đầy đủ của
những người tham gia tố tụng thông qua thủ tục xét hỏi, xem xét vật chứng,
công bố các tài liệu liên quan đến vụ án v.v... Qua đó, Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng xem xét, kiểm tra các thuộc tính của
toàn bộ các chứng cứ đã được thu thập ở các giai đoạn tố tụng trước đó và tại
phiên tòa để làm cơ sở cho hoạt động đánh giá chứng cứ.
- Đánh giá chứng cứ:

12


Đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy của chủ thể chứng minh dựa
trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm xác định giá trị chứng minh của
toàn bộ các chứng cứ đã được thu thập và kiểm tra trước đó. Đây là một khâu
phức tạp trong quá trình chứng minh vụ án hình sự và có tính hệ quả của hoạt
động này cực kỳ quan trọng, bởi vì các chủ thể tiến hành tố tụng sẽ sử dụng
kết quả đánh giá đó làm cơ sở cho các quyết định, phán quyết giải quyết vụ
án. Để đánh giá chứng cứ chính xác, các chủ thể chứng minh phải phân chia
toàn bộ chứng cứ đã thu thập được trong vụ án thành các chứng cứ riêng lẻ,
phân biệt chứng cứ này với chứng cứ khác; phân tích từng chứng cứ riêng lẻ
để xác định các tình tiết, các sự kiện riêng. Sau đó phải tổng hợp tất cả các
chứng cứ, xem xét các chứng cứ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và
hệ thống trong mối quan hệ qua lại với nhau để xác định những vấn đề phải
chứng minh nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Đánh giá chứng cứ là một giai đoạn cực kỳ quan trọng của quá trình
chứng minh nhằm xác định xem: "Có thể sử dụng chứng cứ này để chứng
minh vấn đề gì trong vụ án. Việc sử dụng chứng cứ có mâu thuẫn với các

thẩm. Nhóm chủ thể thứ hai là người bị buộc tội có quyền chứng minh tội
phạm. Người bị buộc tội có thể trực tiếp thực hiện việc chứng minh hoặc
thông qua người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp để thực hiện việc chứng minh đó.
Thẩm phán và Hội thẩm là các thành viên của Hội đồng xét xử, chủ thể
đặc biệt của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Hoạt động chứng minh
của Hội đồng xét xử chủ yếu được thực hiện tại phiên tòa. Tại đây, Hội đồng
xét xử thu thập chứng cứ mới do những người tham gia tố tụng đưa ra; tự
kiểm tra, xác minh chứng cứ; kiểm tra, đánh giá toàn bộ các chứng cứ đã thu
thập được trong các giai đoạn tố tụng trước đó một cách đầy đủ, toàn diện.
Mặc dù, Hội đồng xét xử quyết định theo tập thể, nhưng với nguyên tắc "khi
xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" nên hoạt
động chứng minh của các thành viên Hội đồng xét xử hoàn toàn độc lập nhau
và độc lập với các chủ thể khác.
15


So với các giai đoạn khác, giai đoạn này các chủ thể tham gia hoạt
động chứng minh đông đảo và đầy đủ nhất. Đó là những người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng như bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người làm chứng… Trong hai nhóm chủ
thể đó thì nhóm chủ thể những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là
những người có trách nhiệm chứng minh để xác định sự thật khách quan của
vụ án. Còn những người tham gia tố tụng cũng có quyền chứng minh tội
phạm song họ không bắt buộc phải thực hiện điều đó. Điều 15 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 quy định: "Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp
pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,
làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng

tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi
hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay
không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân
của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định những tình tiết phải chứng
minh trong vụ án hình sự như quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 nhưng bổ sung thêm các tình tiết khác cũng phải chứng minh gồm:
nguyên nhân và điều kiện phạm tội; những tình tiết khác liên quan đến loại trừ
trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Bên cạnh đó,
để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, các chủ thể chứng minh còn
phải chứng minh các tình tiết để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại.
1.2.3. Phạm vi chứng minh
Từ việc quy định "những tình tiết phải chứng minh trong vụ án hình
sự", pháp luật tố tụng hình sự đã xác định phạm vi chứng minh của vụ án.
Hay nói cách khác, tất cả những tình tiết mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát,
tòa án phải làm rõ, tạo cơ sở để xác định những vấn đề cần phải chứng minh
18


do luật định chính là phạm vi chứng minh. Trên thực tế, phạm vi chứng minh
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có phạm vi rộng lớn hơn nhiều
so với phạm vi chứng minh do luật định. Bởi vì, "để xác định được những vấn
đề cần phải chứng minh do luật định, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án
còn phải chứng minh rất nhiều vấn đề khác, mặc dù các vấn đề này không
trực tiếp kết luận tội, lỗi của bị can, bị cáo nhưng cần thiết phải được làm
sáng tỏ để chỉ ra con đường xác định những vấn đề cần phải chứng minh do
luật định" [21, tr. 18-19].
Việc xác định phạm vi chứng minh trên thực tế vô cùng khó khăn và
phức tạp. Ngoài những tình tiết xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và

của hoạt động chứng minh phụ thuộc vào việc xác định đối tượng chứng
minh, phạm vi chứng minh, còn tính đầy đủ của hoạt động chứng minh phụ
thuộc vào việc xác định giới hạn chứng minh. Thông thường, "giới hạn chứng
minh được hiểu là ranh giới của việc thu thập và nghiên cứu những tình tiết
có ý nghĩa đối với vụ án. Như vậy, xác định giới hạn chứng minh chính là xác
định ranh giới của việc thu thập và nghiên cứu những tình tiết đó ở mức độ đủ
để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án theo đúng yêu cầu của pháp luật" [15, tr.
17-19].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác
nhau. Mỗi giai đoạn có chủ thể, nhiệm vụ, hành vi tố tụng, văn bản tố tụng
khác nhau khiến cho hoạt động chứng minh ở từng giai đoạn tố tụng có những
đặc trưng riêng biệt. Mục đích chứng minh để làm sáng tỏ các vấn đề cần giải
quyết vụ án hình sự trong từng giai đoạn tố tụng khác nhau đã xác định giới
hạn chứng minh của từng giai đoạn đó.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là "giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa
án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố
tụng theo quy định của pháp luật" [52, tr. 345]. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng
hoặc quyết định truy tố bị can do Viện kiểm sát chuyển đến và kết thúc khi
20


Tòa án ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án. Xét xử sơ thẩm là cấp xét
xử thứ nhất, đây là giai đoạn trọng tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Ở giai đoạn này, mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra, truy tố hay các chứng cứ do những
người tham gia tố tụng khác cung cấp đều được nghiên cứu kỹ và được xem
xét, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, Tòa án ra bản án, quyết
định giải quyết những vấn đề cơ bản của vụ án.
Tính chất của giai đoạn xét xử sơ thẩm làm cho hoạt động chứng minh

nên việc chứng minh vụ án của các cơ quan trên theo hướng buộc tội. Chức
năng của Tòa án là cơ quan xét xử nên đặc trưng hoạt động chứng minh của
tòa án không theo hướng buộc tội hay gỡ tội và nhằm mục đích để đưa ra các
phán quyết xử lý vụ án một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án là cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đóng vai trò chủ thể chính thực hiện chức năng chứng
minh vụ án. Hoạt động chứng minh của Tòa án thông qua người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng là Thẩm phán. Vai trò là chủ thể chính của hoạt động
chứng minh của Thẩm phán thể hiện rõ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án
hình sự. Bởi vì, kể từ khi thụ lý hồ sơ vụ án hình sự, trách nhiệm giải quyết vụ
án lúc này thuộc về Tòa án và Thẩm phán là những người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng đại diện cho Tòa án thực hiện nhiệm vụ chứng minh. Giai đoạn
chuẩn bị xét xử là giai đoạn Tòa án nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các
nội dung cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm. Theo quy định của Điều
176 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015 thì hoạt động chứng minh trong giai đoạn này chủ yếu thuộc về
Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa. Các chủ thể chứng minh khác
như Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia hoạt động
chứng minh trong giai đoạn này thông qua việc cung cấp, bổ sung các chứng
cứ, yêu cầu. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử còn có thêm các Hội
thẩm cũng tham gia hoạt động chứng minh. Tuy nhiên, động chứng minh của
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status