Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn - Pdf 25


1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI LY HÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan

HÀ NỘI - 2013 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA
VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN

Nguyên tắc chia đôi tài sản chung là nhà ở và quyền sử dụng
đất của vợ chồng, bảo đảm quyền có chỗ ở cho các đương sự
sau khi ly hôn
27
1.2.3.

Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con
chưa thành niên
29

4

1.2.4.

Nguyên tắc bảo đảm tính năng công dụng của nhà ở và quyền
sử dụng đất; bảo đảm lợi ích chính đáng của sản xuất, kinh
doanh và nghề nghiệp
31
1.2.5.

Nguyên tắc chia tài sản bằng hiện vật hoặc theo giá trị 33
1.3. Cơ chế giải quyết tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất khi
ly hôn
34
1.3.1.

Cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở 34
1.3.2.

Cơ chế giải quyết tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất

mà vợ chồng thuê của nhà nước
55
2.2.4.

Giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất trong
trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
59
2.2.5.

Giải quyết tranh chấp liên quan đến nhà ở, quyền sử dụng đất
là tài sản của người khác mà vợ chồng đang quản lý, sử dụng
63

5

hợp pháp
2.2.6.

Giải quyết tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất liên quan
đến thế chấp
70
Chương 3:
NHỮNG VƯỚNG MẮC BẤT CẤP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
GIỮA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

78
3.1. Những vướng mắc bất cập trong việc giải quyết tranh chấp
nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn
6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
LĐĐ : Luật Đất đai
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBND : Ủy ban nhân dân 7

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)
cho thấy gắn liền với việc giải quyết các quan hệ nhân thân là các quan hệ về
tài sản của vợ chồng mà cụ thể là việc xác định tài sản chung, tài sản riêng
của vợ chồng… Có thể nói, trong vụ kiện ly hôn có yêu cầu chia tài sản là
nhà, đất luôn là loại việc thường xảy ra tranh chấp gay gắt. Bởi vì đối với
người Việt Nam, nhà ở và quyền sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng không
chỉ về mặt giá trị mà đó là nơi trú ngụ, là nguồn sống, nguồn kinh tế cơ bản,

phần do trình độ yếu kém, chưa đồng đều của các cán bộ Tòa án. Điều đó, dẫn
đến tình trạng các đương sự không đồng ý với bản án sơ thẩm và nộp đơn
phúc thẩm tạo nên sự quá tải của tòa cấp phúc thẩm, từ đó kéo theo một số hệ
lụy khác như: Việc giải quyết án chậm, kém chất lượng, gây tốn kém tiền của,
công sức…
Nhận thấy việc giải quyết các tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất
trong các vụ án ly hôn có vai trò quan trọng, là một đề tài phong phú, có ý
nghĩa thiết thực trong đời sống nên tôi đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải
quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn" làm luận văn thạc
sĩ của mình với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tà
Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các qui
định của luật thực định về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất
của vợ chồng khi ly hôn, tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực định để giải
quyết các tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất trong hoạt động xét xử ly
hôn của Tòa án. Từ đó, tìm hiểu những qui định bất cập, chưa cụ thể, trên cơ
sở đó có những nhận xét, kiến nghị về hướng hoàn thiện pháp luật trong việc
giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.
Luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ sau:

9

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong việc giải quyết tranh chấp
nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng. Luận văn phân tích những quy định
của pháp luật làm căn cứ giải quyết tranh chấp, nguyên tắc giải quyết tranh chấp,
cơ chế giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly
hôn; phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểm mới qui định
về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn theo Luật
HN&GĐ năm 2000 từ đó nêu lên ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp nhà ở
và quyền sử dụng đất khi ly hôn đối với gia đình và xã hội.

chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn" đã được nghiên cứu, tìm hiểu dưới
nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau dưới nhiều hình thức như luận văn; khóa luận
tốt nghiệp như: Đề tài "Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử
dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn"
của nhóm A
1
- HS30A

Trường Đại học Luật Hà Nội. Ngoài ra, vấn đề này còn
được nghiên cứu, bình luận, trao đổi thông qua các bài viết đăng trên các Tạp chí
chuyên ngành như: Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nhà
nước và pháp luật
Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách tổng thể những khía cạnh pháp
lý trong việc giải quyết tranh chấp tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ
chồng khi ly hôn và thực tiễn áp dụng pháp luật là một cách tiếp cận mới về
vấn đề này mà hiện nay chưa được khai thác sẽ là nét riêng của luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các
vấn đề liên quan đến pháp luật giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng

11
đất của vợ chồng khi ly hôn và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn
đề được nghiên cứu trong luận văn;
+ Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của
pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như
pháp luật của một số nước khác qui định về giải quyết tranh chấp nhà ở và

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp nhà
ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về nhà ở,
quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn.
Chương 3: Những vướng mắc bất cập và kiến nghị nhằm đảm bảo
hiệu quả việc giải quyết tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng
khi ly hôn. 13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1. CĂN CỨ PHÁP LÝ XÁC ĐỊNH NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ
TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1.1. Căn cứ pháp lý xác định nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản
chung của vợ chồng
Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ
chồng, theo đó tài sản chung của vợ chồng gồm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,
kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
- Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể
là: Tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có được
hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định BLDS
năm 2005;
- Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;

có thuộc một trong ba trường hợp trên hay không thì cần căn cứ vào ba yếu
tố sau:
Thứ nhất, căn cứ vào thời điểm nhà ở, quyền sử dụng đất phát sinh khi
có sự tồn tại của quan hệ hôn nhân.
Việc xác định thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân (cũng là thời
điểm phát sinh khối tài sản chung của vợ chồng), theo nguyên tắc chung dựa
trên cơ sở giấy chứng nhận kết hôn bởi lẽ giấy chứng nhận kết hôn ghi rõ thời

15
điểm quan hệ vợ chồng được nhà nước công nhận do đó nó có ý nghĩa quan
trọng trong thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng. Ngoài
ra, đối với một số trường hợp đặc biệt nam nữ chung sống như vợ chồng trong
quan hệ"hôn nhân thực tế" được quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10
của Quốc hội về thi hành Luật HN&GĐ năm 2000. Theo đó, việc chung sống
như vợ chồng được coi là có quan hệ hôn nhân và được xác định như sau:
- Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03
tháng 01 năm 1987, ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng
ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu
cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của
LHN&GĐ năm 2000.
- Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày
03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện
kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời
hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm
2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly
hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của LHN&GĐ năm 2000 để
giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn
thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Vấn đề xác định đúng quan hệ hôn nhân, thời điểm phát sinh quan hệ
hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp tài sản

cầu sử dụng thực tế (Điều 24, 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP).
Ví dụ: Sau khi kết hôn, người chồng đi làm ăn buôn bán xa, còn người
vợ ở nhà làm vườn. Năm 2004, người vợ được nhà nước giao đất nông nghiệp
để trồng cây. Căn cứ theo quy định trên thì quyền sử dụng đất nông nghiệp
mà người vợ được giao là tài sản chung của hai vợ chồng.
Như vậy, mặc dù đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm
muối chỉ được giao cho một bên nhưng thời điểm giao đất đó trong thời kỳ

17
hôn nhân thì vẫn thuộc tài sản chung của vợ chồng. Điều này không phụ
thuộc vào việc người chồng hoặc người vợ có trực tiếp sử dụng đất đó hay
không. Khi vợ chồng ly hôn, Tòa án sẽ xem xét vấn đề nhu cầu sử dụng đất,
đảm bảo tính năng công dụng của đất để phân chia quyền sử dụng đất trên
hợp lý, hợp tình.
 Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được Nhà nước cho thuê.
Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ chồng hoặc mỗi bên vợ chồng thuê
của nhà nước sau khi kết hôn là tài sản chung của hai vợ chồng. Do đó, khi ly
hôn, tài sản trên phải được chia theo quy định của pháp luật. Tùy theo phương
thức thanh toán tiền đối với nhà nước là trả tiền thuê hàng năm hay trả tiền
thuê một lần và nhu cầu sử dụng, mức độ đầu tư vào tài sản của cả hai vợ
chồng mà Tòa án có sự phân chia theo quy định tại Điều 25 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP.
 Nhà ở, quyền sử dụng đất mà hai vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
Trong thực tế cuộc sống cho thấy, ở Việt Nam hầu hết quan hệ vợ
chồng đều được xây dựng bắt nguồn từ yếu tố tình cảm, tình yêu. Do đó khi
cuộc sống hòa thuận hạnh phúc, vợ chồng thường không phân biệt tài sản
chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Cả vợ và chồng đều mong muốn sử
dụng các loại tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, của vợ
chồng; giữa vợ chồng thường không phân biệt "ranh giới" giữa tài sản chung
và tài sản riêng; không phân biệt "của anh, của tôi". Sau nhiều năm tháng

Đây là nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, lần
đầu tiên được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta (trước
đây Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định cụ thể về nguyên tắc này). Điều
này cũng phù hợp với nguyên tắc chứng minh thuộc về các bên đương sự theo
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004.
 Nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng được chuyển đổi, chuyển
nhượng, nhận thế chấp.

19
Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, nhà ở, quyền sử
dụng đất do vợ chồng nhận thế chấp, chuyển đổi, chuyển nhượng trong thời kỳ
hôn nhân là tài sản chung. Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:
Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan
đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia
đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng
bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh
doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này [20].
Theo đó trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng xác lập giao dịch dân sự
được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thế chấp là nhà ở, quyền sử
dụng đất phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Việc thỏa thuận của hai vợ
chồng được hiểu là có chữ ký của cả hai vợ chồng trong hợp đồng, hoặc có
văn bản ủy quyền giữa hai vợ chồng khi thực hiện giao dịch dân sự đó. Trong
trường hợp giao dịch dân sự đó được một bên vợ hoặc chồng xác lập trong
thời kỳ hôn nhân mà không có sự đồng ý của người chồng hoặc người vợ thì
giao dịch dân sự đó được xem là vô hiệu do bị lừa dối, giao dịch dân sự vô
hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 132, Điều 134 BLDS
năm 2005. Trừ trường hợp việc xác lập giao dịch dân sự đó được được thực
hiện bằng tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng.
Ngoài ra, đối với giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức pháp luật cho
phép các bên thời hạn để thực hiện quy định về hình thức, do đó trong trường

sản chung của vợ chồng. Như đối với trường hợp vợ chồng được tặng cho
chung, được thừa kế chung mà người để lại thừa kế hoặc người tặng cho tài
sản không phân biệt "kỷ phần" tài sản cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng.
Nhưng nếu trong hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại thừa kế chung
cho vợ chồng mà chủ sở hữu tài sản đã "xác định" kỷ phần (tỷ lệ) tài sản từ
trước cho mỗi bên vợ, chồng thì về nguyên tắc, những tài sản đó sẽ thuộc tài sản
riêng của vợ, chồng. Tài sản này chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện
nhập vào khối tài sản chung hay vợ chồng thỏa thuận đó là tài sản chung.

21
Vấn đề xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp nhận
thừa kế phụ thuộc vào quy định của pháp luật về thừa kế. Bởi lẽ, nếu bố mẹ
chết đi không để lại di chúc thì tài sản thừa kế đó sẽ được chia theo pháp luật
và chỉ con đẻ mới thuộc hàng thừa kế còn con dâu hoặc con rể không thuộc
hàng thừa kế. Ngoài ra, có nhiều trường hợp khi còn sống bố mẹ cho vợ
chồng nhà ở và đất bằng miệng, chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhà ở
và đất đó cho vợ chồng mà bố mẹ chết đi (không để lại di chúc) thì tài sản đó
vẫn thuộc di sản thừa kế của bố mẹ chồng (hoặc vợ) để lại và được chia thừa
kế theo pháp luật. Trong trường hợp này, nếu vợ chồng người con ly hôn thì
Tòa án sẽ xác định kỷ phần nhà ở, quyền sử dụng đất mà người chồng hoặc
người vợ do được thừa kế riêng theo quy định của pháp luật về thừa kế là tài
sản riêng của người đó.
Đối với trường hợp vợ chồng được tặng cho nhà ở và quyền sử dụng
đất thì việc tặng cho đó phải được lập thành văn bản theo khoản 1 Điều 467
BLDS năm 2005: "Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có
công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật
bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu" [25]. Trong đó, văn bản tặng cho
nhà ở và quyền sử dụng đất đó phải ghi đích danh tên của hai vợ chồng thì khi
đó mới được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Đây cũng là một trong
những chứng cứ để chứng minh tài sản trên là tài sản chung hay tài sản riêng

định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay riêng để bảo đảm lợi ích chính
đáng của mỗi người là rất khó khăn. Luật HN&GĐ năm 2000 quy định một
cách rõ ràng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài
sản chung, hoặc có được trước khi kết hôn mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản
chung là cơ sở pháp lý cần thiết cho vấn đề giải quyết tranh chấp về đất đai
khi chia tài sản chung của vợ chồng.
Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
ngày 23-12-2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC)
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây
gọi tắt là Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP) đã hướng dẫn cụ thể như sau:

23
Trong trường hợp tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ
hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu nhưng
trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, nếu
không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng, nếu có
tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận
quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế
riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có
được từ nguồn tài sản riêng quy định tài khoản 1 Điều 32… Trong
trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này
là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là
tái sản chung của vợ chồng [29].
Như vậy, đối với những trường hợp không ghi tên cả hai vợ chồng thì
nếu có tranh chấp các bên phải xuất trình các giấy tờ khác chứng minh đó là
tài sản riêng của mình, còn trong trường hợp không chứng minh được là tài
sản riêng thì đó là tài sản chung. Đây là quy định mới khẳng định sự bình
đẳng vợ chồng trong quan hệ về tài sản, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc
bảo vệ quyền sở hữu của người vợ. Việc pháp luật quy định quyền được ghi tên
của cả vợ và chồng vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản chung

trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo
quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư
trang cá nhân.
2. Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng
vào khối tài sản chung [20].
Từ quy định trên cho thấy, Luật HN&GĐ năm 2000 khẳng định vợ
chồng có quyền có tài sản riêng, pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu
riêng của vợ chồng đối với tài sản này.

25
Theo đó, pháp luật quy định rõ việc xác định tài sản riêng của vợ
chồng căn cứ vào thời điểm có tài sản và nguồn gốc tái sản. Cụ thể, nhà ở và
quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng gồm:
- Nhà ở và quyền sử dụng đất mà mỗi bên có trước khi kết hôn.
Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ chưa phải là vợ chồng của nhau
trước pháp luật. Theo tính chất nghề nghiệp, công việc của mỗi bên, tài sản là
nhà ở, quyền sử dụng đất do mỗi bên tạo ra thuộc quyền sở hữu của mỗi bên
vợ, chồng. Với tư cách là công dân, vợ, chồng là chủ sở hữu nhà ở, quyền sử
dụng đất mà mình có được trước khi kết hôn và được pháp luật thừa nhận và
bảo hộ (Điều 58 Hiến pháp 1992). Xét về nguồn gốc, những tài sản này không
phải do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động bởi
tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình.
Trong xã hội ta hiện nay, Đảng và Nhà nước bằng pháp luật với các chính
sách, đường lối đổi mới và phát triển nền kinh tế - xã hội khuyến khích và
bằng nhiều biện pháp tạo điều kiện cho công dân tạo ra thu nhập, tài sản làm
giàu cho cá nhân, gia đình và xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vật chất
và tinh thần của con người ngày càng cao và phong phú.
Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn có
thể do chính công sức của mỗi bên tạo ra theo tính chất nghề nghiệp, công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status