Đặc điểm hình sự của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng và giải pháp phòng ngừa - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGÔ THỊ THU THỦY Đặc điểm hình sự của tội phạm trong lĩnh
vực hoàn thuế giá trị gia tăng và giải pháp
phòng ngừa
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ
của tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên đăng trên Tạp chí Thuế Nhà nước số tháng
8/2003, bài viết “Đi tìm giải pháp cho việc quản lý hoá đơn bán hàng” của tác
giả Nguyễn Xuân Sơn đăng trên tạp chí Tài chính số tháng 9/2002 Nghiên cứu
của ngành Công an chủ yếu hướng vào các biện pháp đấu tranh mang tính
nghiệp vụ đặc thù của ngành như Luận văn Thạc sỹ Luật học “Phát hiện, điều
tra tội phạm lừa đảo trong việc thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng của lực

2
lượng cảnh sát kinh tế” của tác giả Phan Quang Phương, Học viện Cảnh sát
nhân dân (năm 2002)
Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :”Đặc điểm
hình sự của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng và giải pháp
phòng ngừa”. Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần cùng các ngành
chức năng tìm ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm
này một cách có hiệu quả, góp phần chống thất thoát ngân sách Nhà nước, đảm
bảo công bằng xã hội.
2. Mục đích của đề tài
2.1. Nghiên cứu, phân tích làm rõ những đặc điểm hình sự của các tội phạm
trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng.
2.2. Đưa ra một số giải pháp phòng ngừa những tội phạm này có hiệu quả cao
nhất.
3. Nhiệm vụ của đề tài
3.1. Làm rõ cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng, hoàn thuế giá trị gia tăng và
đặc điểm hình sự của các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng.
3.2. Phân tích làm rõ những sơ hở, thiếu sót trong các qui phạm pháp luật về
hoàn thuế giá trị gia tăng mà tội phạm có thể lợi dụng để hoạt động.
3.3. Phân tích làm rõ những nguyên nhân, phương thức, thủ đoạn, trách nhiệm
hình sự và những vấn đề khác có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội trong
lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng.
3.4. Dự báo tình hình tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng.

giá trị gia tăng
4
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG,
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ
TRỊ GIA TĂNG
1.1.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhưng ở
Việt Nam mới được áp dụng từ năm 1999. Thuế giá trị gia tăng có ưu điểm hơn
hẳn so với thuế doanh thu trước đây. Nếu như thuế doanh thu tính trên doanh thu
đã có thuế thì thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ. Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng đã đưa ra khái niệm về thuế giá trị
gia tăng: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng
hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.”
Như vậy, theo định nghĩa này thì thuế giá trị gia tăng có đặc điểm:
Thuế được tính trên giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chứ không tính
trên toàn bộ giá trị của hàng hoá, dịch vụ đó. Nhà nước kiểm soát được từng giai
đoạn làm thay đổi giá trị hàng hoá, dịch vụ, do đó có cơ chế đánh thuế phù hợp.
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm tất cả các loại hàng hoá, dịch
vụ được luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất [4,11].
a- Giá tính thuế:
Do thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ nên giá tính thuế là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng hoặc đối với
hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu
[4,11].
b- Thuế suất thuế giá trị gia tăng:
Luật Thuế giá trị gia tăng qui định có bốn mức: 0%, 5%, 10% và 20%.
Mức thuế suất 0% được áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá xuất khẩu. Mức thuế
suất 5% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: nước sạch phục vụ sinh

6
hoạt, sản xuất; thuốc chữa bệnh; phân bón; thuốc trừ sâu Mức thuế suất 10%
được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: dầu mỏ, than đá, điện thương
phẩm, vận tải, bốc xếp Mức thuế suất 20% được áp dụng đối với hàng hoá,
dịch vụ như: vàng bạc, khách sạn, du lịch, dịch vụ môi giới [4,12-16].
Việc phân loại các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết
thu và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ. Hàng hoá xuất khẩu áp
dụng thuế suất 0% để khuyển khích xuất khẩu. Hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, phục
vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng được áp dụng mức thuế suất thấp là 5%.
Hàng hoá, dịch vụ không thiết yếu, cần điều tiết, mức thuế suất là 20%.
Nguyên tắc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng so với thuế suất thuế
doanh thu có những điểm khác nhau, đó là: Thứ nhất, thuế suất thuế doanh thu
phân biệt theo ngành nghề, mặt hàng và công dụng. Cùng một loại sản phẩm,
hàng hoá nhưng thuế suất qui định khâu sản xuất khác với thuế suất khâu kinh
doanh thương nghiệp; Thứ hai, thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng thống nhất
theo loại hàng hoá, dịch vụ, không phân biệt ngành nghề sản xuất, kinh doanh,
bán buôn, bán lẻ hay nhập khẩu.
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy sự khác nhau giữa hàng hoá, dịch vụ không
chịu thuế và hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% là: hàng hoá xuất

hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế
theo phương pháp khấu trừ thuế và cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quí
[4,17-18].
Trước đây, Nhà nước ta ban hành Luật Thuế doanh thu, song Luật thuế
này bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót như: thuế đánh chồng lên thuế, có nhiều kẽ
hở để trốn thuế Việc ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng thay cho Luật Thuế
doanh thu nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Luật Thuế doanh thu.
Nghiên cứu hai Luật Thuế trên cho thấy giữa chúng có một số điểm giống
và khác nhau cơ bản như sau:
a- Những điểm giống nhau: đều là thuế gián thu, có phạm vi điều chỉnh rộng đối
với hầu hết các hàng hoá, dịch vụ và hoạt động kinh doanh; thuế tính trên doanh

8
thu hoặc giá bán hàng hoá, dịch vụ; đối tượng nộp thuế là các cơ sở sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
b- Những điểm khác nhau:
Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng tính trên giá bán hàng hoá, dịch vụ chưa có
thuế giá trị gia tăng, còn thuế doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế doanh
thu;
Thứ hai, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ, còn đối
tượng chịu thuế doanh thu là doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì
vậy, thuế suất thuế doanh thu tăng, giảm sẽ tác động trực tiếp đến đối tượng tiêu
dùng hàng hoá, dịch vụ;
Thứ ba, thuế doanh thu cơ sở kinh doanh phải nộp tính trên doanh thu,
còn thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị gia tăng;
Thứ tư, thuế doanh thu không thu khâu nhập khẩu hàng hoá, thuế giá trị
gia tăng thu ngay khâu nhập khẩu hàng hoá. Điều này thể hiện chính sách thuế
thống nhất và bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất trong nước với hàng hoá nhập
khẩu.
Chính vì những điểm khác nhau trên mà thuế giá trị gia tăng có nhiều ưu

thể tại Mục I Phần D Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000
của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng:
“Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
a- Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế
toán) có luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra được hoàn
thuế. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian
xin hoàn thuế.
Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế giá trị gia tăng có số thuế giá trị gia
tăng đầu vào, đầu ra như sau:
(Đơn vị tính: triệu đồng)

Thuế đầu
Thuế đầu ra

Luỹ kế số

10
Tháng kê khai
thuế
vào được
khấu trừ
trong tháng
phát sinh
trong tháng
Thuế phải
nộp
thuế đầu vào
chưa được

Các trường hợp cơ sở đã lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế thì không được tính
bù trừ với số thuế đầu vào đã đề nghị hoàn thuế vào số thuế nộp thiếu của tháng
trước hoặc số thuế phát sinh của tháng tiếp sau thời gian đã lập hồ sơ hoàn thuế.
Trường hợp tháng trước thời gian xin hoàn thuế cơ sở có số thuế giá trị
gia tăng nộp thừa thì cơ sở được tính cộng thuế giá trị gia tăng nộp thừa vào số
thuế giá trị gia tăng được hoàn của thời gian xin hoàn thuế tiếp sau.
Trường hợp cơ sở kinh doanh phát sinh luỹ kế số thuế đầu vào lớn hơn số
thuế đầu ra từ ba tháng trở lên nhưng cơ sở không đề nghị hoàn thuế thì được
tính khấu trừ vào các tháng tiếp sau, nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa
được khấu trừ hết thì cơ sở lập hồ sơ hoàn thuế.”
1.1.5.2. Phân loại đối tƣợng hoàn thuế

11
Do ý thức chấp hành các Luật Thuế của các đối tượng nộp thuế khác
nhau, có đối tượng làm tốt nghĩa vụ nộp thuế, có đối tượng cố tình nợ thuế, trốn
thuế, vì vậy Luật Thuế giá trị gia tăng phân loại các đối tượng được hoàn thuế
trên cơ sở ý thức chấp hành các Luật Thuế của đối tượng nộp thuế. Cách phân
loại này nhằm tạo công bằng trong đối xử, đồng thời cũng là biện pháp tích cực
trong việc kiểm tra, giám sát các đối tượng nộp thuế.
a- Đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế
Cơ sở kinh doanh mới thành lập có thời gian kinh doanh dưới một năm,
đề nghị hoàn thuế lần đầu;
Cơ sở kinh doanh đã có các hành vi vi phạm gian lận về thuế giá trị gia
tăng như khai man, trốn thuế, vi phạm các qui định về chế độ hoá đơn, chứng
từ ;
Cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa
qua chế biến theo đường biên giới đất liền không thanh toán chuyển khoản qua
ngân hàng;
Các cơ sở kinh doanh chia tách, giải thể, phá sản.
b- Đối tượng áp dụng hoàn thuế trước, kiểm tra sau là các đối tượng không

khẩu của cơ sở nhận uỷ thác xuất khẩu (đối với trường hợp uỷ thác xuất
khẩu);
+ Xuất khẩu hàng hoá theo đường biên giới đất liền, đường biển, đường
hàng không; tên nước nhập khẩu.
Trường hợp việc kê khai thuế hàng tháng đã đầy đủ và chính xác, phù hợp
với Bảng kê khai tổng hợp, cơ sở không phải nộp Bảng kê hàng hoá, dịch vụ
mua vào, bán ra các tháng đề nghị hoàn thuế. Trường hợp có điều chỉnh thuế giá
trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra của các tháng
trong thời gian hoàn thuế thì cơ sở phải kê khai số thuế giá trị gia tăng đầu vào
được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra phát sinh từng tháng trong thời gian
hoàn thuế, số thuế điều chỉnh phải giải trình rõ lý do [4,153-155].
1.2. ĐẶC ĐIỂM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

13
1.2.1. Các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
Để chiếm đoạt được tiền từ ngân sách nhà nước qua việc hoàn thuế giá trị
gia tăng, đối tượng phạm tội thường phải tiến hành nhiều loại hành vi khác nhau
và có thể phạm nhiều loại tội khác nhau.
Qua nghiên cứu hồ sơ một số vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng,
chúng tôi nhận thấy có những tội phạm sau:
1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
2. Tội nhận hối lộ;
3. Tội đưa hối lộ;
4. Tội làm môi giới hối lộ;
5. Tội tham ô tài sản;
6. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Không phải tất cả các vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng đều có
tất cả các tội nói trên mà có thể có một hay nhiều tội đó.
Bộ Luật hình sự năm 1999 không có một Chương hay Mục riêng qui định về

a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài
sản.
b- Mặt khách quan của tội phạm: được thể hiện ở dấu hiệu hành vi và dấu
hiệu hậu quả.
Dấu hiệu hành vi: hành vi gian dối là việc đưa ra thông tin không đúng sự
thật nhằm để người khác tin là sự thật. Hành vi gian dối trong việc chiếm đoạt
tiền hoàn thuế có những biểu hiện mang tính mới mẻ và tinh vi, đó là:
Trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng và sử dụng hoá đơn: lập bảng kê
khống về việc mua hàng hoá ở những địa chỉ không có thật; mua hoá đơn trắng
để tự ý ghi; yêu cầu người xuất hoá đơn lập hoá đơn theo mục đích của mình;
mua hoá đơn giả; quay vòng hoá đơn; sử dụng hoá đơn của các doanh nghiệp bỏ
trốn
Trong lĩnh vực hải quan: xuất khống hoàn toàn (lợi dụng chế độ ưu đãi
miễn kiểm tra để xuất khẩu khống, nhập khẩu lậu), xuất hàng khống một phần,
mượn hoặc thuê hàng của tư thương để xuất khẩu, quay vòng hàng xuất khẩu,

15
sửa chữa tờ khai hải quan để tăng lượng hàng xuất khẩu, ví dụ: 1.040 bộ quần áo
sửa thành 10.400 bộ quần áo, làm giả vận tải đơn đường biển để chứng tỏ hàng
đã xuống tàu, có làm thủ tục xuất khẩu hàng nhưng không làm thủ tục xuất cảnh
cho phương tiện thực tế vận chuyển hàng hoá
Trong lĩnh vực ngân hàng: thanh toán bằng tiền mặt, không thanh toán
chuyển khoản qua ngân hàng, tự nộp tiền vào tài khoản của doanh nghiệp mình
cho hàng xuất khẩu khống.
Dấu hiệu hậu quả: tiền của Nhà nước bị chiếm đoạt bất hợp pháp. Giá trị
bị chiếm đoạt có khi lên tới vài chục tỉ đồng trong một vụ án. Tiền hoàn thuế
được trả cho những doanh nghiệp, cá nhân làm ăn gian dối, gây ảnh hưởng xấu
tới những doanh nghiệp hoạt động nghiêm túc.
c- Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế bao giờ

sự bị phạt tù từ hai năm đến tù chung thân hoặc tử hình.
Hình phạt bổ sung: được qui định tại Khoản 5: “Người phạm tội còn có thể
bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc
toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ một năm đến năm năm.”
1.2.2.2. Nhóm các tội phạm về hối lộ
Các tội phạm về hối lộ được qui định tại các Điều 279 Tội nhận hối lộ;
Điều 289 Tội đưa hối lộ; Điều 290 Tội làm môi giới hối lộ Bộ Luật hình sự năm
1999.
Các tội phạm về hối lộ gồm ba thành phần: nhận hối lộ, đưa hối lộ và làm
môi giới hối lộ.
a- Khách thể của các tội phạm về hối lộ: đều xâm phạm hoạt động đúng đắn của
cơ quan nhà nước, xâm phạm nhiều mặt đến việc thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
b- Mặt khách quan của các tội phạm về hối lộ:
Nhận hối lộ là hành vi đã hoặc sẽ nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác để
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

17
Thái độ phê phán của xã hội đối với hành vi nhận hối lộ gay gắt hơn so với đưa
hối lộ và làm môi giới hối lộ. Người cán bộ có chức năng kiểm tra, giám sát các
thủ tục cần thiết cho quá trình hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ không thực hiện đúng
chức năng của mình, thậm chí còn tiếp tay cho tội phạm như: không có hàng
xuất khẩu mà vẫn xác nhận có hàng xuất khẩu hoặc có hàng xuất khẩu ít nhưng
lại xác nhận nhiều hơn. Hành vi nhận hối lộ của cán bộ Thuế xâm phạm hoạt
động đúng đắn của cơ quan Thuế, vi phạm chính sách và pháp luật thuế, ở chỗ:
hướng dẫn những người phạm tội mua bán hoá đơn, lập bảng kê khống , cố ý
kiểm tra hồ sơ một cách chiếu lệ nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội được
hoàn thuế nhanh chóng nhất
Thời điểm hoàn thành tội nhận hối lộ là thời điểm người có chức vụ,

Thời điểm hoàn thành một trong hai tội: tội đưa hối lộ hoặc tội nhận hối
lộ, thì tại thời điểm đó tội làm môi giới hối lộ mới hoàn thành.
c- Chủ thể của các tội phạm về hối lộ
Đối với hành vi nhận hối lộ: phải là người có chức vụ, quyền hạn tức là
những người được bầu cử, bổ nhiệm hoặc được tuyển dụng, có quyền hạn nhất
định trong khi thực hiện công vụ. Những quyền hạn đã tạo cho những người này
có điều kiện thực hiện hành vi nhận hối lộ.
Đối với hành vi đưa hối lộ: là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Chủ thể thường là chủ hàng xuất khẩu (hoặc
xuất khẩu khống) hoặc là giám đốc các doanh nghiệp và những người khác được
chủ hàng yêu cầu thực hiện hành vi đưa hối lộ.
Đối với hành vi làm môi giới hối lộ là bất kỳ ai có quan hệ quen biết và có
khả năng gây ra việc móc nối giữa người đưa hối lộ và người nhận hối lộ, có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
d- Mặt chủ quan: đều là lỗi cố ý. Mục đích tư lợi (đối với tội nhận hối lộ).
Của hối lộ được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau nhưng chủ yếu dưới
dạng tiền: tiền Việt Nam, ngoại tệ; vàng, đá quí

19
Một số ngành đặc thù như ngành Thuế, ngành Hải quan, trách nhiệm cá
nhân rất cao. Cấp trên không phải lúc nào cũng kiểm tra, giám sát được mọi hoạt
động của cấp dưới. Đây cũng là một kẽ hở để cấp dưới cố tình làm trái.
Trách nhiệm hình sự của các tội phạm về hối lộ:
Tội nhận hối lộ:
Hình phạt chính: người nhận hối lộ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nếu người nhận hối lộ có các tình tiết tăng nặng theo qui định tại Khoản 2, 3, 4
Điều 279 Bộ Luật hình sự thì bị phạt tù từ bảy năm đến tù chung thân hoặc tử
hình.
Hình phạt bổ sung: Khoản 5 qui định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm
nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần

lộ hoặc tiền hoàn thuế sau khi vào tài khoản của doanh nghiệp nhưng những
người phạm tội lại chia nhau, thì họ không những phạm tội đưa hối lộ mà còn
phạm tội tham ô tài sản. Những người này thường mua hoá đơn để hợp pháp hoá
các khoản chi tiêu, che dấu lượng tiền, tài sản đã lấy ra để đưa hối lộ hoặc đưa
các khoản chi tiêu vào giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất
Điều 278 Bộ Luật hình sự năm 1999 qui định: “Người nào lợi dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý ”
Tài sản được lấy ra để hối lộ hoặc tiền hoàn thuế bị chiếm đoạt chủ yếu
dưới dạng tiền mặt.
a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản.
b- Mặt khách quan của tội phạm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao như
một phương tiện để biến tài sản của Nhà nước thành tài sản của mình. Hành vi
lợi dụng chức vụ, quyền hạn rất đa dạng như sử dụng chức vụ, quyền hạn để
thực hiện không đúng chức trách của mình, làm trái các qui định về quản lý tài
sản thuộc lĩnh vực công tác mà mình phụ trách, sử dụng quyền hạn vượt quá giới
hạn cho phép để chiếm đoạt tài sản.
Thủ đoạn phạm tội như: sửa chữa sổ sách, chứng từ, lập chứng từ giả, tiêu
huỷ hoá đơn, sổ sách Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội
có trách nhiệm quản lý, có giá trị từ 500.000 đồng trở lên.

21
Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội chiếm
đoạt được tài sản: tài sản được đưa ra khỏi nơi cất giữ hoặc người phạm tội sửa
chữa xong chứng từ, sổ sách, lập xong chứng từ giả, tiêu huỷ xong hoá đơn, sổ
sách cho dù tài sản chưa được đưa ra khỏi nơi cất giữ.
c- Chủ thể của tội phạm: Người phạm tội chủ yếu là lãnh đạo doanh nghiệp nhà
nước, kế toán trưởng, nhân viên kế toán, trưởng các phòng nghiệp vụ, thủ quĩ
d- Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý và tin rằng có thể chiếm đoạt được tài sản
chung mà không bị phát hiện hoặc sẽ trốn tránh được trách nhiệm pháp lý; mục
đích phạm tội là tư lợi.

Thực tế đã chứng minh, có trường hợp, người xuất khẩu hàng hoá lợi
dụng sự thiếu trách nhiệm của cán bộ Hải quan để xuất khống. Ví dụ: đối với
loại hàng hoá phải kiểm tra toàn bộ nhưng do cán bộ Hải quan muốn nhanh
chóng kết thúc nên chỉ kiểm tra một phần, do đó không phát hiện được những lô
hàng xuất khống. Cán bộ Thuế vì bận nhiều việc nên kiểm tra hồ sơ hoàn thuế
một cách sơ sài. Hồ sơ có nhiều điểm không chính xác, thậm chí mâu thuẫn nhau
nhưng vẫn cho hoàn thuế mà không yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình hoặc
không đề xuất kiểm tra tại doanh nghiệp. Sự thiếu trách nhiệm đó đã tạo điều
kiện cho người phạm tội chiếm đoạt hàng trăm tỉ đồng tiền hoàn thuế. Điều 285
Bộ Luật hình sự năm 1999 qui định về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng, bao gồm hai quá trình:
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao;
- Hành vi đó trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng giống với tội Nhận hối
lộ ở chỗ:
a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
b- Mặt khách quan của tội phạm: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nhiệm vụ được giao. Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội
phạm này. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là thiệt hại về vật chất và tinh thần. Ở
các vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế, số tiền bị chiếm đoạt bất hợp pháp ít thì vài
chục triệu đồng, nhiều thì hàng trăm tỉ đồng. Thiệt hại về tinh thần như gây mất

23
uy tín, giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan Nhà nước, hiệu quả quản lý
kém Nếu không có hậu quả nghiêm trọng xảy ra thì người thực hiện hành vi
thiếu trách nhiệm chỉ bị khiển trách, xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính.
c- Chủ thể: là những người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ cụ
thể do lãnh đạo phân công. Những người này được đào tạo qua trường, lớp, có
kinh nghiệm công tác. Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm
trọng trong vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế thường là cán bộ Thuế.

nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến
năm năm.”
Một đặc điểm nữa của vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế là bao giờ cũng có
đồng phạm. Một người không thể thực hiện được mà phải có nhiều người cùng
tham gia.
Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng
tham gia của từ hai người trở lên. Các dấu hiệu đặc trưng chung và bắt buộc của
đồng phạm:
a- Mặt khách quan: có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực
hiện tội phạm; những người đồng phạm phải cùng chung hành động. Hành vi của
mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm hoặc góp phần thực hiện tội
phạm; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm và
hậu quả phạm tội chung do hành vi đó gây nên.
b- Mặt chủ quan: phải có sự cùng cố ý của tất cả những người đồng phạm để
tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý. Những người đồng phạm trong
việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động phạm tội của nhau (của một
người, một số người hoặc tất cả những người đồng phạm); mỗi người đồng phạm
đều ý thức được rằng, bằng hành vi của mình cùng với những hành vi của người
khác, họ đã phạm tội hoặc góp phần thực hiện tội phạm; những người đồng
phạm đều cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phạm tội
chung xảy ra. Đa số các trường hợp, những người đồng phạm đều mong muốn
hậu quả xảy ra nên rất tích cực thực hiện hành vi phạm tội của mình. Rất hãn

Trích đoạn Ngành Công an Ngành Hải quan Ngành Ngân hàng GIẢI PHÁP VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GIẢI PHÁP TRONG LĨNH VỰC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN ĐẾN LUẬT DOANH NGHIỆP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status