ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
7
1.1.
Khái niệm, đặc điểm của hình phạt tù chung thân
7
1.1.1.
Khái niệm hình phạt tù chung thân
7
1.1.2.
Đặc điểm của hình phạt tù chung thân
8
1.2.
Mục đích của hình phạt tù chung thân
15
1.3.
Phân biệt hình phạt tù chung thân với các hình phạt chính khác
20
1.3.1.
thân thời kỳ trước năm 1945
38
2.1.2.
Các quy định của luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù chung
thân thời kỳ từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước
khi có Bộ luật Hình sự năm 1985
41
2.1.3.
Các quy định của luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù chung
thân thời kỳ từ 1985 đến 1999
49
2.2.
Các quy định hiện hành về hình phạt tù chung thân trong luật
hình sự Việt Nam
53
2.2.1.
Hình phạt tù chung thân theo các quy định thuộc phần chung
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
53
2.2.2.
Hình phạt tù chung thân theo các quy định thuộc Phần Các tội
phạm Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
64
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
Ở NƢỚC TA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT NÀY
72
3.1.
Thực tiễn áp dụng hình phạt tù chung thân ở nước ta trong
thổ trên thế giới
29
2.1
Phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa
đổi bổ sung năm 2009 (tính theo cấu thành tội phạm)
65
2.2
Các hình phạt trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự
năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tính theo điều luật)
67
2.3
Các tội danh trong Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung
năm 2009 quy định có áp dụng hình phạt tù chung thân
68 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, Nhà nước
ta đã sử dụng đồng thời nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục,
pháp lý… Trong các biện pháp đó, hình phạt giữ một vai trò rất quan trọng.
Nhà làm luật đã xây dựng một hệ thống hình phạt đa dạng với nội dung cưỡng
chế, thuyết phục, giáo dục nặng, nhẹ khác nhau, bao gồm hình phạt chính và
hình phạt bổ sung. Hình phạt tù chung thân là một trong bảy hình phạt chính
của hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành.
Việc quy định hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt của
trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Vấn đề hình phạt được rất nhiều chuyên gia trên thế giới nghiên cứu.
Đặc biệt là ở Liên Xô trước đây, cụ thể như: Cudriapxep V.N với công trình
"Luật pháp và hành vi", Matxcơva 1983 ; Galperin I.M với công trình "Hình
phạt, chức năng xã hội và thực tiễn ứng dụng", Matxcơva, 1983; Sargorotxki
với công trình "Hình phạt, mục đích và hiệu quả của nó"; Leningrat 1973,
Lưxôp M.D với công trình "Hình phạt và việc áp dụng nó đối với các tội chức
vụ", Cazan 1987
Song song với xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới trong
những thập kỷ gần đây, hình phạt tù chung thân cũng được đưa ra nghiên cứu
với tư cách là hình phạt lựa chọn thay thế cho hình phạt tử hình. Trung tâm
nghiên cứu về hình phạt tử hình, Trường Luật, Đại học Westminster (Vương
quốc Anh) đang nghiên cứu về các hình phạt thay thế hình phạt tử hình trong
các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu Âu đưa ra sự mâu thuẫn trong bản
thân thuật ngữ "tù chung thân" giữa các quốc gia thành viên của Hội đồng
Châu âu: sự mâu thuẫn thể hiện ở quy định về thời hạn áp dụng hình phạt tù
chung thân. Một số các quốc gia lựa chọn hình thức tù chung thân có thể được
ân giảm, còn có một số các quốc gia lại lựa chọn hình phạt tù chung thân suốt
đời (không được ân giảm) là hình phạt thay thế cho hình phạt tử hình.
Ở Anh cũng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề hình phạt tù
chung thân - chế tài thay thế hình phạt tử hình: Nigel Walker, "Tội phạm và
hình phạt ở Anh", Nhà xuất bản Đại học Edinburgh, 1965; Giáo sư Dirk Van
Zyl Smit, bài viết "Thi hành hình phạt tù chung thân nghiêm khắc trong pháp
luật quốc gia và pháp luật quốc tế"; Hội đồng tư vấn về hệ thống hình sự, "Các
hình phạt tù: xem xét các hình phạt tối đa", HMSO, London, 1978; "Báo cáo
của Ủy ban đặc biệt thuộc Thượng viện về tội giết người và án phạt tù chung
thân", (HL paper. 78), HMSO, London, 1989; "Kết án chung thân: cải cách
thức chế tài bổ sung khi áp dụng hình phạt tù chung thân thay cho hình phạt
tử hình hay không; điều kiện để tù nhân tù chung thân được xét ân giảm thời
hạn chấp hành hình phạt như thế nào cho phù hợp. Cũng có rất nhiều nghiên
cứu về vấn đề cách đối xử với người bị thi hành hình phạt tù chung thân và
những quyền mà tù nhân tù chung thân nhất thiết phải được bảo đảm. Về vấn
đề này, trong Báo cáo của Ngành tư pháp hình sự của Liên hợp quốc năm
1996 cũng đưa ra những khuyến nghị về hình phạt tù chung thân; Hội đồng
Châu âu cũng có những hướng dẫn về việc quản lý những phạm nhân tù
chung thân và dài hạn.
2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu
ở các mức độ khác nhau về vấn đề hình phạt và hệ thống hình phạt, trong đó
có hình phạt tù chung thân. Đó là các công trình như: "Chính sách hình sự và
hình phạt" của Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc; "Tội phạm học, luật
hình sự và tố tụng hình sự" của tập thể tác giả do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học
Đào Trí Úc chủ biên; Luận án tiến sĩ Luật học "Các hình phạt chính trong
Luật hình sự Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Sơn; Luận văn Thạc sĩ Luật học
"Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Vĩnh;
"Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam" của Đặng Đức Thạo. Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên các tạp
chí chuyên ngành về vấn đề này như: "Hình phạt: một số vấn đề lý luận" của
Nguyễn Mạnh Kháng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2000; "Bàn về bản
chất và chức năng của hình phạt" của Nguyễn Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 9/2002; "Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự 1999 về hình phạt và
quyết định hình phạt" của Đinh Văn Quế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số
02/2001; "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về hệ thống hình phạt
và quyết định hình phạt" của Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Kiểm sát số 4/2001
Nhìn chung, các công trình đó đã nghiên cứu một cách tổng quát, khái
quát về những vấn đề chung của hình phạt và hệ thống hình phạt hoặc về một
Chương 1: Những vấn đề chung về hình phạt tù chung thân.
Chương 2: Hình phạt tù chung thân trong pháp luật hình sự Việt Nam
hiện hành.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tù chung thân ở nước ta và
một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù chung thân. Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
1.1.1. Khái niệm hình phạt tù chung thân
Hình phạt tù chung thân là một loại hình phạt chính trong hệ thống
hình phạt, nên khái niệm hình phạt nói chung bao trùm cả khái niệm hình phạt
tù chung thân. Do vậy, muốn hiểu rõ được khái niệm hình phạt tù chung thân,
trước hết chúng ta phải nghiên cứu thế nào là hình phạt.
Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất cấu thành bởi các ngành
luật khác nhau. Gắn liền với các ngành luật đó là những biện pháp trách nhiệm
pháp lý khác nhau và những chế tài cụ thể khác nhau. Gắn liền với ngành luật
hình sự là biện pháp trách nhiệm hình sự và chế tài cụ thể để thực hiện trách
nhiệm hình sự là hình phạt. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế đặc thù của luật
hình sự được áp dụng đối với người thực hiện tội phạm. Lần đầu tiên trong lịch
sử lập pháp khái niệm về hình phạt được quy định rõ ràng, cụ thể trong Bộ
luật Hình sự năm 1999. Trước khi khái niệm về hình phạt được quy định
chính thức trong Bộ luật Hình sự, thì khái niệm về hình phạt chỉ được nghiên
cứu như là một khái niệm có tính chất khoa học trên các tạp chí khoa học, tạp
chí chuyên ngành hoặc trong các giáo trình của các trường đại học. Việc Bộ
luật Hình sự năm 1999 dành một điều quy định khái niệm về hình phạt là một
bước tiến trong công tác lập pháp. Khái niệm hình phạt quy định tại Điều 26
Bộ luật Hình sự đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt: "Hình phạt
* Đặc điểm chung:
Với tư cách là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt, Hình phạt
tù chung thân có đầy đủ những đặc điểm chung của hình phạt như sau:
Một là, hình phạt tù chung thân là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc
của Nhà nước
Cưỡng chế là thuộc tính của pháp luật nói chung. V.I.Lênin đã từng
nói: "Pháp luật không có gì hết, nếu thiếu bộ máy bảo đảm cưỡng chế sự tuân
theo các quy định của pháp luật" [19]. Trong đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, được áp
dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời. Tính cưỡng chế của hình phạt là dùng
quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo. Tức là, hình phạt được bảo đảm bằng
sức mạnh của quyền lực nhà nước. Trong lịch sử loài người, mọi hình thức
nhà nước đều sử dụng hình phạt như là biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các
quan hệ xã hội và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc đối với
những cá nhân có hành vi gây nguy hiểm cho sự tồn tại của xã hội.
Tính nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân thể hiện ở chỗ, khi
được áp dụng hình phạt có thể tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích
thiết thân nhất của người bị kết án đến hết đời, như quyền tự do, quyền chính
trị, quyền sở hữu…; gây nên những tổn hại về thể chất, vật chất và tinh thần
không chỉ cho người bị kết án mà còn cho gia đình, những người thân thích
của họ. Với tư cách là hình phạt hình sự, bất kể nặng hay nhẹ đều dẫn tới hậu
quả pháp lý chung là làm cho người bị kết án phải mang án tích trong một
thời hạn nhất định. Án tích là hậu quả tất yếu của hình phạt nói chung và của
hình phạt tù chung thân nói riêng. Đó là dấu hiệu pháp lý rất đặc trưng của
hình phạt, án tích có thể làm cho người bị kết án chịu một số hạn chế nhất
định. Và "tình tiết có án tích sẽ là đặc điểm về nhân thân bất lợi cho người có
đặc điểm đó trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành
vi phạm pháp hay phạm tội" [14, tr. 27].
Hai là, Hình phạt tù chung thân gắn liền với tội phạm
đối với những hành vi không được quy định trong Bộ luật Hình sự là tội phạm
và nếu hình phạt ấy cũng không được quy định trong hệ thống hình phạt hiện
hành và trong chế tài của điều luật cụ thể. Quy định này đã khẳng định không
áp dụng pháp luật tương tự trong luật hình sự. Và đây là một yêu cầu nghiêm
khắc của nguyên tắc pháp chế, bảo đảm cho pháp luật hình sự được áp dụng
thống nhất.
Chỉ có Bộ luật Hình sự mới được quy định hệ thống hình phạt hình sự;
nội dung, phạm vi, điều kiện cho phép áp dụng từng loại hình phạt cũng như
khung hình phạt của từng tội phạm cụ thể. Hiện nay, văn bản luật duy nhất
quy định các loại hình phạt là Bô luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ
sung năm 2009 (Bộ luật Hình sự hiện hành).
Trong Bộ luật Hình sự, hình phạt tù chung thân được quy định ở cả
phần chung và phần các tội phạm. Ở phần chung, Điều 34 quy định hình phạt
tù chung thân với tư cách là hình phạt chính với nội dung: đưa ra khái niệm
hình phạt tù chung thân, các trường hợp được áp dụng và không được áp dụng
hình phạt tù chung thân. Ở phần các tội phạm, hình phạt tù chung thân được
quy định là chế tài lựa chọn kèm theo các tội phạm cụ thể; được quy định chủ
yếu trong các chương về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại
hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội đặc biệt nghiêm
trọng trong các chương xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
của con người; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế; các tội phạm về ma túy; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng; các tội phạm về chức vụ và các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách
nhiệm của quân nhân. Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt tù chung
thân được quy định tại 58/272 điều luật quy định về tội phạm.
Bốn là, Hình phạt tù chung thân do tòa án áp dụng đối với người bị
kết án
Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án phải thông qua các giai
đoạn tố tụng hình sự được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt trong Bộ luật
tránh hình phạt. Tòa án không được áp dụng hình phạt đối với pháp nhân hoặc
tổ chức, vì luật hình sự Việt Nam không thừa nhận pháp nhân hoặc tổ chức là
chủ thể của tội phạm. Dấu hiệu này nói lên tính chất cá nhân của hình phạt.
* Đặc điểm riêng:
Là công cụ bảo đảm cho Luật Hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo
vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm, bên cạnh những đặc điểm chung, hình
phạt tù chung thân có những đặc điểm riêng vốn có của nó. Cụ thể là:
Một là, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân trong hệ
thống hình phạt chỉ đứng sau hình phạt tử hình:
Hình phạt tù chung thân là hình phạt có khả năng tước đoạt tự do đến
hết đời, bị cách ly vĩnh viễn khỏi môi trường sống bình thường. Có nghĩa là,
người bị kết án có thể phải sống phần đời còn lại của mình trong trại giam,
toàn bộ hoạt động của người bị thi hành án tù chung thân đều bị kiểm soát
chặt chẽ và phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật: lao động, học tập,
các sinh hoạt cá nhân, công việc hàng ngày, chế độ ăn, ngủ… Hình phạt này
giữ vị trí trung chuyển giữa hình phạt tù có thời hạn tối đa là 20 năm và hình
phạt tử hình, làm cho hệ thống hình phạt giữ được tính thống nhất nội tại của
nó; tạo ra khả năng phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa trách nhiệm
hình sự đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tù chung thân chỉ
được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến
mức bị xử phạt tử hình. Theo thực tiễn xét xử, đó là những trường hợp phạm
tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, tính mạng, sở hữu tài sản và có nhiều tình tiết tăng nặng đáng kể. Thông
thường hình phạt này được áp dụng đối với những trường hợp mà nếu áp
dụng hình phạt tù có thời hạn đến hai mươi năm tù thì vẫn còn nhẹ nhưng nếu
phạt tử hình thì chưa thật cần thiết.
Mục đích của hình phạt tù chung thân cũng giống như mục đích của
hình phạt nói chung, là mục đích cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt
Ba là, hình phạt tù chung thân không có tính linh hoạt trong áp dụng:
Hình phạt tù chung thân không có nhiều mức độ để Tòa án có thể
lượng hóa khi áp dụng đối với từng tội phạm với mức nguy hiểm cho xã hội
khác nhau. Ví dụ như, đối với hình phạt tù có thời hạn, tòa án có thể lựa chọn
mức từ 3 tháng đến 20 năm tù. Hoặc đối với hình phạt cải tạo không giam
giữ, tùy theo tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, tòa án có thể lựa chọn
mức từ 3 tháng đến 3 năm. Hình phạt tù chung thân chỉ chứa đựng duy nhất
một mức độ không thể tăng lên hay giảm xuống để áp dụng cho mọi trường
hợp phạm tội đáng phải bị áp dụng loại hình phạt này.
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
Điều 27 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn
giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa
họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [33].
Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự, vấn đề mục đích của hình phạt
vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau chưa thống nhất. Nhìn chung, có
thể thấy sự khác nhau căn bản của các quan điểm đó thể hiện cụ thể như sau:
1) Phần lớn các nhà luật học cho rằng mục đích của hình phạt là giáo dục, cải
tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý
thức tuân thủ pháp luật. Còn trừng trị chỉ là thuộc tính, là nội dung, là biện
pháp để đạt mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. 2) Một số tác
giả khác lại cho rằng mục đích của hình phạt bao gồm hai yếu tố: trừng trị và
giáo dục, cải tạo. 3) Có tác giả lại cho rằng, từ góc độ hình sự và tội phạm học
có thể phân chia mục đích của hình phạt thành các loại sau: một là, cải tạo,
giáo dục phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung (mục đích trực tiếp); hai là,
loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội (mục đích trung gian); ba là, loại
trừ tội phạm (mục đích cuối cùng).
Nếu coi trừng trị là mục đích của hình phạt thì sẽ thừa nhận hình phạt
là công cụ trả thù người phạm tội. Hiểu như vậy đã hoàn toàn trái với nguyên
tắc nhân đạo của Luật hình sự nước ta. Hơn nữa, nếu quá tập trung đến việc
buộc người phạm tội phải trả giá cho những gì mà người phạm tội đã làm thì
hình phạt sẽ không có tác dụng định hướng cho hành vi của người phạm tội
cũng như của cả cộng đồng trong tương lai. Việc trừng phạt người phạm tội
trong trường hợp này sẽ không mang lai lợi ích cho xã hội, cái giá mà người
phạm tội phải trả cũng chuyển cho Nhà nước chứ không phải người bị hại, bởi
vì quyền trừng phạt thuộc về Nhà nước. Do vậy, chúng tôi đồng tình với quan
điểm cho rằng hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam không có mục đích
trừng trị. Trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện
hình phạt. Với nội dung là sự tước bỏ, hạn chế nhất định về quyền và lợi ích
của người phạm tội theo quy định của pháp luật, hình phạt bản thân là sự
trừng phạt của Nhà nước đối với người phạm tội.
Như vậy, trừng trị cũng là nội dung không thể thiếu được của hình
phạt tù chung thân. Khi xác định hiệu quả của hình phạt tù chung thân hay
một loại hình phạt nào đó, yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá được khả năng
trừng trị của nó. Nếu không có trừng trị thì không có hình phạt. Nó là tiền đề
quan trọng để đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm.
Còn nếu coi giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích duy nhất của
hình phạt thì chúng ta sẽ không thể lý giải được vì sao trong hệ thống hình
phạt lại có hình phạt tử hình- loại hình phạt triệt tiêu mọi khả năng cải tạo,
giáo dục người phạm tội. Và tại sao đối với các tội phạm do vô ý, vẫn bị áp
dụng những hình phạt rất nghiêm khắc. Hơn nữa, nếu đặt vấn đề như vậy thì
căn cứ quan trọng nhất để quyết định hình phạt phải là nhân thân người phạm
tội chứ không phải tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Theo logic hình thức, chúng ta cũng có thể thấy rằng, trong "cải tạo, giáo dục
người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội…" thì cải tạo, giáo dục là
biện pháp tác động, còn mục đích là thành người có ích cho xã hội. Như vậy,
độ, liều lượng khác nhau khi quy định các hình phạt khác nhau đối
với những tội phạm có những mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã
hội. Nhưng trong mọi trường hợp, để bảo đảm công bằng cần tăng
cường nội dung trừng trị của hình phạt đối với những tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng [54].
Công bằng xã hội đã lý giải vì sao trong hệ thống hình phạt tồn tại những
loại hình phạt khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng. Khi quyết
định hình phạt, nếu áp dụng hình phạt quá nặng thì sẽ không phù hợp với nguyên
tắc công bằng và nhân đạo, dẫn đến sự mất lòng tin của người dân vào tính công
minh của pháp luật và triệt tiêu sự nỗ lực phấn đấu cải tạo, giáo dục của người
phạm tội. Còn nếu áp dụng hình phạt quá nhẹ, sẽ dẫn đến tình trạng coi thường
sự uy nghiêm của pháp luật, dẫn đến việc tái phạm, tái phạm nguy hiểm thường
xuyên diễn ra. Bàn về vấn đề này V.I.Lênin đã viết: "Tác dụng phòng ngừa của
hình phạt hoàn toàn không phải ở chỗ là hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ là
đã phạm tội thì không thoát bị trừng phạt. Điều quan trọng không phải ở chỗ
là tội phạm bị trừng phạt nặng, mà ở chỗ là không một tội phạm nào không
bị phát hiện ra". Ở đây Lênin đã nhấn mạnh hiệu quả cải tạo, giáo dục của
hình phạt phụ thuộc vào khả năng bảo đảm công bằng xã hội của nó.
Mục đích quan trọng nhất mà người áp dụng hình phạt muốn hướng
tới là phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa ở đây gồm cả phòng ngừa riêng và
phòng ngừa chung. Giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích
cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn
chặn người phạm tội tái phạm, được gọi là mục đích phòng ngừa riêng của
hình phạt. Hình phạt khi được áp dụng không chỉ tác động trực tiếp đến người
phạm tội mà nó còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong xã hội, giáo dục
các thành viên khác trong xã hội nâng cao ý thức pháp luật, tích cực tham gia
vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, được gọi là phòng ngừa
chung. Khi đó, sẽ làm cho mọi người hiểu rằng, hình phạt chính là hậu quả
mà kẻ phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội.