nghiên cứu - trao đổi
14
Tạp chí luật học số 1/2009
Ths. Nguyễn Minh Oanh *
i sn l vn trung tõm, ct lừi ca
mi quan h xó hi núi chung v quan
h phỏp lut núi riờng. Khỏi nim ti sn ó
c cp t rt lõu trong thc tin cng
nh trong khoa hc phỏp lớ. Ti sn trờn thc
t tn ti rt nhiu dng khỏc nhau, vụ
cựng phong phỳ v a dng. Tuy nhiờn, mi
loi ti sn li cú nhng c tớnh khỏc bit
cn thit phi cú quy ch phỏp lớ iu chnh
riờng. Chớnh vỡ vy, vic phõn loi ti sn l
cn thit khụng ch cú ý ngha trong hot
ng lp phỏp m cũn cú ý ngha trong thc
tin ỏp dng phỏp lut. Vic phõn loi ti sn
theo quy nh ca B lut dõn s nm 2005
ti Phn th hai, Chng IX t iu 174 n
iu 181 cũn hn hp, cha a ra c y
nhng loi ti sn c bn nht nờn ó gõy
khú khn cho vic tỡm hiu v ỏp dng. Rừ
rng, mi gúc khỏc nhau, mt s vt,
hin tng s c nhỡn nhn, ỏnh giỏ mt
cỏch khỏc nhau. Do ú, mi tiờu chớ khỏc
nhau, ti sn cng s c phõn thnh cỏc
quan h phỏp lut nờn vt phi ỏp ng c
li ớch ca cỏc bờn ch th trong quan h.
Nh vy, mun tr thnh vt trong dõn s
phi tho món nhng iu kin sau:
- L b phn ca th gii vt cht;
- Con ngi chim hu c;
- Mang li li ớch cho ch th;
T
* Ging viờn Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 15
- Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành
trong tương lai.
Tiền, theo kinh tế chính trị học là vật
ngang giá chung được sử dụng làm thước đo
giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản
được coi là tiền hiện nay khi nó đang có giá
trị lưu hành trên thực tế. Với việc BLDS
năm 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán
phải là tiền Việt Nam như quy định tại
BLDS năm 1995 thì về mặt pháp lí tiền có
thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ.
(1)
Tuy
nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu
giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy
đăng kí ô tô, sổ tiết kiệm không phải là
giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì đó
chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc
sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
Quyền tài sản theo định nghĩa tại Điều
181 BLDS năm 2005 thống nhất viết tắt là
quyền trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả
quyền sở hữu trí tuệ. Theo đó thì quyền tài
sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được
phép của chủ thể mang quyền. Quyền ở đây
chính là một quyền năng dân sự chủ quan
của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo
vệ. Quyền này phải trị giá được thành tiền
hay nói cách khác là phải tương đương với
một đại lượng vật chất nhất định. Quyền tài
sản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền
tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong
các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài
sản tại Điều 163 BLDS. Hiện nay, pháp luật
dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài
sản là tài sản như quyền sử dụng đất, quyền
khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu
cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị
xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền
đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền
được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo
đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp
phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều
154 BLHS năm 1999); tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả (Điều 180); tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có
giá giả khác (Điều 181); tội hợp pháp hoá
tiền, tài sản do phạm tội mà có (Điều 251).
2. Bất động sản và động sản
Khái niệm bất động sản và động sản đã
được quy định tại Điều 174 Bộ luật dân sự
năm 2005 như sau:
“Bất động sản là các tài sản bao gồm:
- Đất đai;
- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với
đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà,
công trình xây dựng đó;
- Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
- Các tài sản khác do pháp luật quy định.
Động sản là những tài sản không phải là
bất động sản”.
Cũng giống như cách định nghĩa tài sản,
BLDS đã sử dụng phương pháp liệt kê để
định nghĩa bất động sản. Căn cứ vào quy
định đó thì hiện nay đất đai và những tài sản
gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây
dựng, cây cối, tài nguyên sẽ được coi là bất
động sản. Tuy nhiên, ở đây pháp luật đã liệt
kê mở chứ không liệt kê khép kín như Điều
163 BLDS. Do đó, cả những tài sản khác do
pháp luật quy định cũng sẽ được coi là bất
đăng kí bất động sản còn quyền sở hữu đối
với động sản không phải đăng kí trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
- Xác định thời điểm chuyển giao quyền
sở hữu đối với tài sản: Khoản 1 Điều 168
BLDS quy định việc chuyển giao quyền sở
hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ
thời điểm đăng kí quyền sở hữu, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác. Còn khoản
2 quy định việc chuyển quyền sở hữu đối với
động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động
sản được chuyển giao trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác.
- Xác định được các quyền năng của chủ
thể quyền đối với từng loại tài sản nhất định:
Đối với bất động sản do đặc tính vật lí của
nó là khó có thể di dời nên việc thực hiện
các quyền năng của quyền sở hữu đối với
loại tài sản này sẽ gặp những hạn chế nhất
định. Chính bởi vậy, pháp luật đã ghi nhận
cho các chủ thể có những quyền năng nhất
định đối với tài sản của người khác để bất
động sản có thể khai thác được công dụng
một cách tốt nhất như quyền sử dụng hạn
chế bất động sản liền kề (từ Điều 273 đến
Điều 278 BLDS).
- Xác định địa điểm thực hiện nghĩa vụ
đối với các giao dịch có đối tượng là bất
động sản trong trường hợp các bên không có
thoả thuận. Theo quy định tại Điều 284
hiệu và các thủ tục khác: Ví dụ thời hạn
thông báo công khai tài sản bán đấu giá
chậm nhất là bảy ngày đối với động sản, ba
mươi ngày đối với bất động sản (Điều 457);
thời hạn chuộc lại đối với tài sản đã bán
trong hợp đồng mua bán có chuộc lại đối với
động sản là một năm và đối với bất động sản
là năm năm (Điều 462); việc bán đấu giá bất
động sản được thực hiện tại nơi có bất động
sản, sau khi có thông báo về việc bán đấu giá nghiªn cøu - trao ®æi
18
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009
bất động sản, những người muốn mua phải
đăng kí mua và phải nộp một khoản tiền đặt
trước (Điều 459)
- Xác định phương thức kiện dân sự:
Theo Điều 257, 258 BLDS thì điều kiện để
chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp
có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với
động sản và bất động sản là khác nhau. Do
đó, nếu không áp dụng được phương thức
kiện đòi lại tài sản thì chủ thể sẽ phải áp
dụng phương thức kiện khác như kiện yêu
cầu bồi thường thiệt hại.
- Xác định toà án có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự: Theo Điều 35 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 thì toà án có
liền với tài sản gốc thì nó được coi là một bộ
phận không thể tách rời của tài sản đó. Ví dụ
hoa quả vẫn ở trên cây, con bê con vẫn trong
bụng con bò mẹ
- Cần phân biệt hoa lợi, lợi tức với sản
phẩm: Chỉ được gọi là hoa lợi, lợi tức những
tài sản sinh ra từ tài sản gốc mà không làm
giảm sút, ảnh hưởng đến trạng thái ban đầu
của tài sản gốc. Trong trường hợp để thu
được một lợi ích vật chất của tài sản mà tài
sản gốc bị giảm sút không thể tái tạo bằng
cách khai thác khả năng sinh sản của tài sản
gốc hoặc chỉ có thể tái tạo bằng cách lặp lại
chu kì đầu tư nhằm khôi phục trạng thái ban
đầu của tài sản gốc thì lợi ích vật chất thu
được gọi là sản phẩm chứ không phải hoa
lợi. Ví dụ: Cây trồng trên đất thì cây được
thu hoạch là sản phẩm chứ không phải hoa
lợi. Quả của cây được thu hoạch lại được coi
là hoa lợi.
Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc
và hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa pháp lí trong
một số trường hợp nhất định:
- Có ý nghĩa trong việc xác định chủ sở
hữu của tài sản: Về nguyên tắc thì hoa lợi sẽ
thuộc chủ sở hữu của tài sản, lợi tức sẽ thuộc
về người có quyền sử dụng hợp pháp tài sản nghiªn cøu - trao ®æi
thể thao Tài sản không đăng kí quyền sở
hữu là tài sản mà theo quy định của pháp
luật không buộc phải đăng kí tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Việc phân loại tài sản thành tài sản có
đăng kí quyền sở hữu và tài sản không đăng
kí quyền sở hữu có những ý nghĩa cơ bản
sau đây:
- Xác định thời điểm phát sinh, chuyển
giao quyền sở hữu: Đối với tài sản có đăng
kí quyền sở hữu thì theo quy định của pháp
luật quyền sở hữu chỉ phát sinh khi hoàn
thành thủ tục đăng kí, không phụ thuộc vào
tài sản đó là động sản hay bất động sản
(Điều 439 BLDS).
- Xác định phương thức kiện dân sự:
Đối với động sản là tài sản phải đăng kí
quyền sở hữu thì chủ thể có quyền kiện đòi
lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình trừ
trường hợp người đó có được tài sản đó
thông qua bán đấu giá hoặc với người mà
theo bản án, quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền là chủ sở hữu của tài
sản nhưng sau đó người này không phải là
chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị
huỷ, sửa (Điều 258 BLDS). Còn đối với tài
sản là động sản không phải đăng kí quyền sở
hữu thì chủ thể có quyền đòi lại từ người
chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người
chiếm hữu ngay tình có được tài sản này
dch chuyn trong giao dch dõn s nht thit
phi tuõn theo nhng quy nh riờng ca
phỏp lut. Trong mt s trng hp phi
c s ng ý, cho phộp ca c quan nh
nc cú thm quyn. Vớ d v khớ th thao,
thanh toỏn bng ngoi t vi s lng ln
- Ti sn t do lu thụng l nhng ti sn
m khụng cú quy nh no ca phỏp lut hn
ch vic dch chuyn i vi ti sn ú. Nu
cú s dch chuyn thỡ cỏc ch th khụng cn
phi xin phộp. Hu ht cỏc ti sn tn ti trờn
thc t hin nay u l ti sn t do lu
thụng nh xe mỏy, ti vi, t lnh, lng thc,
thc phm
Vic xỏc nh ỳng loi ti sn ny cng
cú ý ngha rt ln trong vic xỏc nh hiu
lc phỏp lớ ca giao dch dõn s, c th: Ti
sn cm lu thụng khụng th tr thnh i
tng trong giao dch dõn s. Chớnh vỡ vy,
nu cỏc bờn vn xỏc lp nhng giao dch ny
thỡ giao dch ú s l giao dch vụ hiu tuyt
i do cú ni dung vi phm iu cm ca
phỏp lut; v khi ú ti sn giao dch, hoa
li, li tc thu c s b tch thu sung qu
nh nc. Cũn i vi ti sn hn ch lu
thụng thỡ khi xỏc lp giao dch cỏc bờn phi
tuõn th cht ch v iu kin giao dch, nu
phỏp lut cú quy nh phi ng kớ hoc xin
phộp thỡ cỏc bờn phi tuõn theo th tc ú.
6. Ti sn hin cú, ti sn hỡnh thnh
nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009 21
cụ thể Ngoài ra, tài sản hình thành trong
tương lai còn bao gồm cả tài sản đã được
hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch
nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch tài
sản đó mới thuộc sở hữu của các bên,
(5)
ví dụ
như tài sản có được do mua bán, trao đổi,
tặng cho, cho vay, thừa kế nhưng chưa hoàn
thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu.
Việc xác định được đúng tài sản hiện có
và tài sản hình thành trong tương lai có một
số ý nghĩa nhất định:
Xác định đối tượng được phép giao dịch:
Chỉ những tài sản hiện có hoặc những tài sản
hình thành trong tương lai được xác định ở
trên mới có thể trở thành đối tượng của giao
dịch còn những tài sản các chủ thể nghĩ rằng
nó có thể sẽ có trong tương lai mà không có
căn cứ để xác định nó chắc chắn sẽ có thì
không được coi là đối tượng của bất kì giao
dịch cũng như quan hệ nghĩa vụ nào. Điều
282 BLDS có quy định đối tượng của nghĩa
vụ dân sự phải được xác định cụ thể và theo
quy định tại điều 411 BLDS thì trong trường
hợp ngay từ khi kí kết, hợp đồng có đối
tượng không thể thực hiện được vì lí do
được các quyền năng của chủ sở hữu, quyền
ưu tiên của chủ thể cũng như xác định hiệu
lực của các giao dịch dân sự:
- Trong việc thực hiện các quyền năng
của quyền sở hữu: Đối với tài sản riêng thì
chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử
dụng định đoạt tài sản của mình theo quy
định của pháp luật. Còn đối với tài sản
thuộc sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu
thì việc thực hiện các quyền năng của quyền
sở hữu đối với mỗi loại sở hữu chung là
khác nhau. Đối với sở hữu chung theo phần
thì mỗi chủ sở hữu chung có quyền, nghĩa
vụ đối với tài sản chung tương ứng với phần
quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có nghiªn cøu - trao ®æi
22
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2009
thoả thuận khác. Đối với tài sản chung hợp
nhất thì các bên đều có quyền ngang nhau
đối với tài sản chung nên khi thực hiện các
quyền năng của quyền sở hữu các bên phải
thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
hoặc theo tập quán.
- Trong việc xác định hiệu lực của giao
dịch: Vì tài sản chung khi đưa vào giao dịch
cần phải có sự thống nhất ý chí của các chủ
sở hữu chung nên nếu không thoả mãn điều
điểm xem xét thì chủ sở hữu đã từ bỏ
quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó
và chưa có ai được xác lập quyền sở hữu
đối với tài sản đó.
Tài sản không xác định được ai là chủ sở
hữu là tài sản mà vào thời điểm xem xét không
xác định được chủ sở hữu và cũng không có
căn cứ chứng minh rằng chủ sở hữu đã từ bỏ
quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Hiện nay, trong BLDS Việt Nam không
đề cập các loại tài sản kể trên mà cách phân
loại này chỉ được hiểu gián tiếp thông qua
các quy định về vật vô chủ, vật không xác
định được ai là chủ sở hữu. Chính vì vậy mà
hiện nay, BLDS chỉ quy định xác lập quyền
sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác
định được ai là chủ sở hữu, vật đánh rơi, bỏ
quên chôn giấu, chìm đắm mà không xác
định đối với tài sản nói chung (Điều 239,
240, 241 BLDS). Quy định đó đã dẫn đến
những cách hiểu khác nhau như sau: Trong
trường hợp tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền
tài sản mà chủ sở hữu từ bỏ quyền sỏ hữu
của mình hoặc không xác định được ai là
chủ sở hữu thì người phát hiện có thể được
xác lập quyền sở hữu theo các điều luật trên
hay không? Hay đối với những loại tài sản
đó sẽ thuộc sở hữu nhà nước? Có thể nói,
vật vô chủ, vật không xác định được ai là
chủ sở hữu là một loại tài sản và trong
chia được theo phần như sau: “Nghĩa vụ dân
sự phân chia được theo phần là nghĩa vụ mà
đối tượng của nghĩa vụ là vật chia được
hoặc công việc có thể chia thành nhiều phần
để thực hiện. Bên có nghĩa vụ có thể thực
hiện từng phần nghĩa vụ trừ trường hợp có
thoả thuận khác”. Điều 301 quy định:
“Nghĩa vụ dân sự không phân chia được
theo phần là nghĩa vụ mà đối tượng của
nghĩa vụ là vật không chia được hoặc là
công việc phải thực hiện cùng một lúc.
Trong trường hợp nhiều người cùng phải
thực hiện nghĩa vụ không phân chia được thì
họ phải thực hiện nghĩa vụ cùng một lúc”.
Vậy nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải
là vật mà là các tài sản khác thì trong trường
hợp này có được xem xét là nghĩa vụ dân sự
phân chia được theo phần hay không? Nếu
câu trả lời là không thì nghĩa vụ đó có luôn
được hiểu là nghĩa vụ dân sự không phân
chia được theo phần và nếu có nhiều chủ thể
nghĩa vụ thì các chủ thể đó phải thực hiện
nghĩa vụ cùng một lúc hay không? Việc
BLDS định nghĩa cả hai loại nghĩa vụ này và
không dùng phương pháp loại trừ dẫn đến có
loại nghĩa vụ không thể xếp vào loại này
hoặc loại kia. Điều này dẫn đến sự không
thuận lợi cho các chủ thể trong khi thực hiện
nghĩa vụ nếu nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ trả
tiền hay giao giấy tờ có giá.
lượng, sóng phát thanh truyền hình cũng vẫn
được coi là tài sản hữu hình bởi con người
vẫn cảm giác được nó bằng các giác quan
khác của con người và vẫn xác định được nó
bằng các đơn vị đo lường.
Tài sản vô hình được hiểu là tài sản mà
con người không thể dùng giác quan để thấy
được và không thể dùng đại lượng để tính.
Xét theo nghĩa rộng thì tài sản vô hình hiện
nay chính là các quyền tài sản. Tuy nhiên,
trên thực tế, nhắc đến tài sản vô hình người
ta thường hay nghĩ đến tài sản trí tuệ. Như
vậy, theo nghĩa hẹp thì tài sản vô hình được
hiểu là các quyền tài sản phát sinh từ quyền
sở hữu trí tuệ như quyền tài sản đối với
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đối với giống cây trồng.
Có ý kiến cho rằng quyền tài sản có thể
phân thành quyền tài sản vô hình và quyền
tài sản hữu hình. Theo đó thì “quyền vô hình
được hiểu là những quyền không có đối
tượng được nhận biết như là một vật cụ thể
mà cũng không tương ứng với nghĩa vụ tài
sản của bất kì một người nào ví dụ như
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương
mại và không coi quyền vô hình là một
quyền đối vật hay quyền đối nhân”.
(6)
Tuy
chiếm hữu thực tế, có thể sử dụng để khai
thác công dụng của tài sản thì đối với tài sản nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 1/2009 25
vụ hỡnh, ch th quyn ch cú th chim hu,
s dng v nh ot ti sn v mt phỏp lớ
m thụi. Hn na, i vi ti sn vụ hỡnh,
vic nh giỏ l rt khú khn v cú nhiu
khỏc bit hn so vi ti sn hu hỡnh. Chớnh
vỡ vy vic ban hnh cỏc vn bn phỏp lut
quy nh v vn ny s gii quyt c
nhiu vn trong Lut dõn s nh xỏc nh
thit hi khi cú hnh vi xõm phm n loi
ti sn vụ hỡnh ny; tớnh giỏ tr ca ti sn
chia; xỏc nh giỏ tr thc hin vic trao
i, mua bỏn, bự tr ngha v
Trờn õy l mt s loi ti sn c bn
c quy nh hoc cn thit c quy nh
bi lut dõn s. Ngoi ra, ti sn cũn c
phõn thnh nhiu loi khỏc nhau nh ti sn
l t liu sn xut, t liu tiờu dựng; ti sn
cú tht, ti sn o; ti sn c nh, ti sn lu
ng; ti sn cụng, ti sn t; ti sn ti
chớnh, ti sn phi ti chớnh Tuy nhiờn,
nhng cỏch phõn loi ny khụng cú nhiu ý
ngha trong lut dõn s nờn khụng c
cp trong phm vi bi vit ny./.
HBA. Nhng quyt nh cn s thc hin
ca tt c cỏc thnh viờn thỡ HBA phi xem
xột ý kin ca tt c cỏc thnh viờn v m
bo rng ú l ý kin v nguyn vng ca h,
cú tớnh n kh nng thc hin quyt nh
c tớnh n trong quỏ trỡnh ra quyt nh.
Chng trỡnh v kt qu ca cỏc cuc hp
cn cụng b kp thi v cụng khai hn na,
cỏc bỏo cỏo ca HBA cng cn cú nhiu
phõn tớch v lun gii cho c s ca cỏc
quyt nh, nht l trong trng hp s dng
quyn ph quyt.
Khỏc vi vic m rng thnh viờn, ci
tin th tc lm vic ca HBA d t c
hn bi nú khụng yờu cu s sa i Hin
chng LHQ v cú th c thc hin bi
quyt nh ca HBA. Do ú, trong khi ch
i quyt nh v ci t thnh phn, HBA
cn ci tin quy trỡnh lm vic cụng vic
tr nờn d tip cn v cụng khai hn i vi
tt c cỏc nc thnh viờn./.