vấn đề kiện đòi tài sản trong luật Dân sự Việt Nam - Pdf 33

MỞ ĐẦU
******************************************
Quan hệ về quyền sở hữu tài sản là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy chủ sở hữu
tự mình thể hiện ý chí trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Tuy nhiên,
trong quan hệ xã hội và pháp luật, tài sản của chủ sở hữu trong những hoàn cảnh cụ
thể đã dời khỏi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí, do có hành vi
chiếm đoạt trái pháp luật tài sản đó. Vì thế pháp luật cần phải bảo hộ quyền sở hữu tài
sản cho cá nhân và tổ chức.Tuy nhiên mỗi chế độ xã hội khác nhau thì phương thức
và nội dung bảo hộ khác nhau. Kiện đòi lại tài sản là một trong các phương thức bảo
vệ quyền sở hữu theo qui định của pháp luật. Theo qui định tại Điều 255 BLDS, thì:
“Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu
phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở
hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Để hiểu rõ hơn về vấn đề
này, em xin đi sâu vào trình bày đề tài : Kiện đòi tài sản theo BLDS Việt Nam.

NỘI DUNG
******************************************
A. Khái quát về vấn đề kiện đòi tài sản trong luật Dân sự Việt Nam

Pháp luật của nhà nước ta ghi nhận và bảo vệ quyển sở hữu tài sản của các chủ
thể. Nếu quyền sở hữu bị xâm phạm, thì cho phép chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu toà
án bảo vệ quyền lợi cho mình. Trong lĩnh vực dân sự, nhà nước ban hành hệ thống
các pháp lệnh: Pháp lệnh về Quyền sở hữu công nghiệp 1989, Pháp lệnh về Thừa kế
1990, Pháp lệnh về Nhà ở 1991, Pháp lệnh về Hợp đồng dân sự 1991, Pháp lệnh về

1


Quyền tác giả 1994, nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng Bộ luật dân sự 1995. Như vậy
trước Bộ luật dân sự 1995, hệ thống pháp luật dân sự không có văn bản pháp qui qui

quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình.
Thứ ba, chủ sở hưũ chuyền tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp, người chiếm
hữu hợp pháp chuyển tài sản cho người thứ ba không được sự đồng ý của chủ sở hữu.
Trường hợp này, người thứ ba có thể ngay tình hoặc không ngay tình đều phải trả lại
tài sản cho chủ sở hữu.
Như vậy, căn cứ pháp lý để chủ sở hữu đòi lại tài sản trong các trường hợp trên
là chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác, thì trong
mọi trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đều phải trả lại tài sản
cho chủ sở hữu. Căn cứ thực tế để chủ sở hữu đòi lại tài sản là người đang chiếm hữu
tài sản làm cho chủ sở hữu không khai thác, sử dụng được tài sản của mình. Cần cho
phép chủ sở hữu tự bảo vệ tài sản của mình hoặc yêu cầu toà án giải quyết. Vì thế
trong tất cả các trường hợp chủ sở hữu đều có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm
hữu không có căn cứ ngay tình hoặc không ngay tình.
Về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu, theo tinh thần của Bộ luật dân sự 2005, Nhà nước
ta không những bảo vệ chủ sở hữu mà còn bảo vệ người thứ ba ngay tình. Điều
256 Quyền đòi lại tài sản. Điều 257- Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký
quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình. Điều 258 - Quyền đòi lại động sản phải
đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình. Từ Điều 284
BLDS 1995, Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung hai điều mới là Điều 257 và 258. Đây là
những hạn chế quyền đòi tài sản có điều kiện của chủ sở hữu đối với người ngay tình.
Như vậy, so với BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 thể hiện rõ những tiến bộ
trong quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình (Điều 138) và kiện đòi lại tài sản từ
người chiếm hữu ngay tình (Điều 257 và Điều 258). BLDS năm 2005 quy định cụ thể,
chi tiết hơn về những vấn đề này với mục đích bảo vệ và dung hoà lợi ích của chủ sở
hữu và người thứ ba chiếm hữu ngay tình, đồng thời đảm bảo sự ổn định trong giao
lưu dân sự.
B. Cơ sở lí luận về phương thức kiện đòi tài sản trong BLDS năm 2005

3




Tài sản phải là vật đặc định tức là vật được phân biệt với các vật khác nhờ
những dấu hiệu nhận dạng riêng và vật này hiện đang trong tay người chiếm hữu bất
hợp pháp . Đây là điều kiện thực tế quan trọng bởi vì họ chỉ có thể kiện để đòi lại tài
sản khi tài sản đó đang tồn tại trong sự chiếm hữu bất hợp pháp của người khác , nhờ
có những đặc điểm riêng về màu sắc hình dáng, đặc tính hoặc những kí hiệu khác mà
chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp nhận ra nó khi đang bị người khác chiếm
giữ trái pháp luật. Hơn nữa tài sản tranh chấp trong vụ án là vật đặc định đang tồn tại
trên thực tế sẽ là bằng chứng để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp chứng
minh quyền sở hữu của mình. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của toàn dân thì
trong mọi trường hợp đều có thể áp dụng phương thức kiện đòi laị tài sản mà không
áp dụng thời hiệu.
Theo Khoản 2, Điều 247 BLDS quy định: Người chiếm hữu tài sản thuộc hình
thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai,
dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó.Đó
là các loại khách thể là tài sản chỉ riêng nhà nước mới có như đất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất , nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và
vùng trời , những tài sản liên quan đến quốc phòng an ninh hay văn hóa xã hội mà chỉ
riêng nhà nước mới có . Còn đối với các khách thể thông thường khác được lưu thông
trong giao lưu dân sự thì các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu có tính chất chung , với
các điều kiện như nhau trong mọi hình thức sở hữu.
II. Những yêu cầu của pháp luật đối với phương thức kiện đòi tài sản
1.Đối với chủ thể quyền khởi kiện( nguyên đơn)
Người kiện đòi tài sản phải là chủ sở hữu của vật và phải chứng minh quyền sở
hữu của mình đối với vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp. Nếu nguyên đơn là
người chiếm hữu hợp pháp thông qua hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phù hợp
với ý chí của chủ sở hữu , thì người đó phải chứng minh mình là người có quyền
chiếm hữu, sử dụng tài sản đang bị bị đơn chiếm giữ hợp pháp ngoài ý chí của những
người này( đánh rơi, bỏ quên, bị mất cắp…) trường hợp này chủ sở hữu, người chiếm

sản đánh rơi, phát hiện gia súc , gia cầm thất lạc (Điều 241BLDS . Điều242BLDS và
Điều 243 BLDS).
a) Người bị kiện là người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật,không ngay tình
Người bị kiện phải trả lại tài sản là người đang thực tế chiếm hữu vật không có
căn cứ pháp luật, không ngay tình như tài sản do trộm, cắp, cướp, lừa đảo mà có; biết
6


tài sản đó là của gian nhưng vẫn mua... hoặc nhặt được tài sản do chủ sở hữu , người
chiếm hữu hợp pháp đánh rơi, bỏ quên...nhưng đã không giao nộp cho cơ quan có
trách nhiệm, thì người chiếm hữu bất hợp pháp phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu ,
người chiếm hữu hợp pháp.Trong trường hợp người chiếm hữu, người sử dụng tài sản
không có căn cứ pháp luật không ngay tình nhưng đã giao tài sản cho người thứ ba,
thì người thứ ba cũng có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó nếu chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp có yêu cầu hoàn trả. Như vậy khi tài sản rời khỏi chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp ngoài ý chí của họ thì những người đang thực tế chiếm hữu vật
đều phải trả lại tài sản. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 601 BLDS ngoài việc trả lại
tài sản những người này còn:…phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm
chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Ví dụ 1: A trộm được chiếc xe máy SH của B trị giá 150 triệu đồng, A bán lại
cho C là bạn thân của A với giá 145 triệu, mặc dù C biết chiếc xe này do A ăn trộm
mà có nhưng vẫn mua. B phát hiện ra xe của mình bị A ăn trộm và đã được bán cho
C. B kiện đòi lại tài sản, trong trường hợp này C phải trả lại chiếc xe máy cho B là
chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe.
Hay trường hợp nhặt được tài sản do chủ sở hữu , người chiếm hữu hợp pháp
đánh rơi, bỏ quên như:
Ví dụ 2: A đang trên đường đi làm, có một vụ tai nạn trên đường nên anh đã bỏ
xe máy và ba lô ở đầu ngõ để cứu nạn nhân. C nhìn thấy xe máy cùng với ba lô ở đầu
ngõ, không thấy chủ, liền dắt xe về nhà. Chiếc xe máy trị giá 40 triệu cùng toàn bộ
tiền mặt trong ví và laptop trị giá 30 triệu đồng. Ông C không báo cho cơ quan có

hợp pháp để gây thiệt hại cho người thứ ba. Mặt khác pháp luật cũng bảo vệ quyền
của chủ sở hữu, cho phép chủ sở hữu yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp bồi thường
giá trị tài sản. Những người đã thuê, mượn, nhận , giữ tài sản của chủ sở hữu mà bán
tài sản đó có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản của công dân theo điều 158 BLHS. Tài sản trong trường hợp này là vật chứng để
chứng minh là của chủ sở hữu.

8


Ví dụ : Bà Nguyễn Thị Mai trú tại thôn Xanh, xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan
, cho bà Bùi Thị Lan là hàng xóm thuê chiếc máy mát xa trị đau lưng trị giá 20 triệu
vào ngày 20/01/2007 . Ngày 20 /7/2007 bà Bùi Thị Lan lâm bệnh nặng và chết. Bà
Mai đã yêu cầu bà Hồng trả lại theo hợp đồng đã thuê nhưng bà Hồng không đồng ý.
Bà Nguyễn Thị Mai làm đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân huyên Nho Quan yêu cầu
bà Bùi Minh Hồng trả lại tài sản. Trong trường hợp này, bà Bùi Minh Hồng phải trả
lại chiếc máy mát xa cho bà Nguyễn Thị Mai theo hợp đồng mà bà Mai và bà Lan đã
kí.
Có thể thấy, việc áp dụng một số biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong
hợp đồng là một giải pháp an toàn hơn đảm bảo quyền lợi cho bên có quyền đồng thời
ràng buộc trách nhiệm đối với bên có nghĩa vụ .Các biện pháp nhằm bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ phổ biến hiện nay bao gồm: cầm cố, thế chấp đặt cọc…được áp dụng
khá phổ biến trong các hợp đồng mua bán hay hợp đồng về tài sản.
Mặt khác, Điều 138 BLDS quy định: trong trường hợp giao dịch dân sự vô
hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu đã được
chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với
người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của bộ luật này.
Ví dụ: A mua chiếc vi tính của B rồi đem bán lại cho C , sau đó A mới biết là B
không phải chủ sở hữu chiếc vi tính đó và không có quyền bán , giao dịch đầu tiên vô
hiệu. Về nguyên tắc thì hai bên trả lại cho nhau những gì đã nhận , nhưng chiếc vi tính

giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ
ba bị vô hiệu… Tức là người thứ ba ngay tình luôn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu
hoặc người chiếm hữu hợp pháp với tài sản là bất động sản hoặc động sản phải đăng
kí quyền sở hữu bởi vì đối với động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản
thì người chiếm hữu luôn buộc phải biết chủ sở hữu là ai. Mặt khác đối với những tài
sản này, người mua chỉ có quyền sở hữu khi sang tên đăng kí chuyển quyền sở hữu từ
người chủ sở hữu . Người thực tế đang có vật phải trả lại vật cho chủ sở hữu và có
quyền yêu cầu người chuyển giao vật cho mình hoàn trả tiền hoặc các lợi ích vật chất
mà mình bị thiệt hại.
Ví dụ: A cho B thuê nhà, hợp đồng thuê nhà là 6 năm. 6 năm sau, A đòi lại mà
B không trả, B đã dùng nhà của A cho C thuê để làm mặt bằng buôn bán tạp hóa. A
khởi kiện hành vi của B lên tòa án. Trong trường hợp này, B và C hoàn toàn phải trả
lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà là A.
10


Tuy nhiên ngoại lệ của nguyên tắc này nằm tại điều 258 BLDS : Chủ sở hữu
được đòi lại động sản phải đăng kí quyền sở hữu và bất động sản , trừ trường hợp
người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc
giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do
bản án , quyết định bị hủy, sửa.
Như vậy chủ sở hữu tài sản không được đòi lại tài sản từ người chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình trong trường hợp người đó nhận được tài
sản thông qua đấu giá hoặc giao dịch dân sự với người mà trước đó theo bản án quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì họ là chủ sở hữu tài sản , sau đó người
này không còn là chủ sở hữu tài sản nữa do bản án, quyết định đã bị thay đổi. Trong
trường hợp này vì người chiếm hữu ngay tình không có lỗi mà lỗi thuộc về cơ quan
tiến hành tố tụng nên người bị kiện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo Điều 619
BLDS. Việc công nhận quyền sở hữu cho người thứ ba ngay tình trong trường hợp

đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.Điều
kiện áp dụng trường hợp này là:
+ Người thiết lập giao dịch với người là chủ sở hữu tài sản theo bản án, quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải là người chiếm hữu ngay tình. Người
này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch với mình không phải là chủ
sở hữu tài sản.
+ Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba chiếm hữu ngay tình với người
mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài
sản.
+ Do bản án, quyền định bị huỷ, sửa nên người thiết lập giao dịch, giao dịch với
người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở hữu tài sản nữa. Thông thường, bản án,
quyết định của Toà án bị huỷ, sửa do vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng, trừ
những trường hợp huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải
quyết vụ án. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng dẫn đến người thứ ba
ngay tình được bảo vệ khi bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa.

12


Tuy nhiên pháp luật dân sự cũng có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình như sau: Người thứ ba ngay tình được hưởng hoa lợi, lợi tức
từ thời điểm nhận được tài sản cho đến khi người đó biết hoặc phải biết về việc chiếm
hữu, sử dụng , được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật trừ trường hợp người
thứ ba ngay tình chiếm hữu trên cơ sở 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất
động sản một cách ngay tình, liên tục và công khai.( Khoản 2, Điều 601BLDS).
Người thứ 3 ngay tình còn được yêu cầu người đã giao tài sản cho mình phải bồi
thường thiệt hại ( Điều 602 BLDS) . Tuy nhiên việc tìm được người này không phải
lúc nào cũng dễ dàng chưa nói đến việc họ có khả năng tài chính để bồi thường.
Người thứ ba ngay tình còn được chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp thanh toán
các chi phí hợp lí mà họ đã bỏ ra đểm bảo quản hay làm tăng giá trị của tài sản. Còn

lợi tức phát sinh từ tài sản đó ( Điều 601BLDS)
+ Đối với người đang chiếm hữu tài sản là người chiếm hữu không có căn cứ
pháp luật và không ngay tình thì người đó luôn luôn phải trả lại tài sản đồng thời phải
hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức có được trong thời gian chiếm hữu tài sản cho chủ sở hữu
hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Như vậy sự ghi nhận của pháp luật đối với phương thức kiện đòi lại tài sản thể
hiện thái độ tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối của nhà nước đối với quyền sở hữu hợp
pháp của chủ thể trong xã hội . Thông thường chủ sở hữu nào cũng muốn lựa chọn
phương thức đòi lại tài sản bởi vì đó là phương thức bảo hộ thiết thực và hiệu quả mà
không cần quan tâm đến khả năng tài chính của người phải thực hiện nghĩa vụ . Tuy
nhiên nếu không thỏa mãn được các điều kiện đòi lại tài sản thì chủ thể bị xâm phạm
có thể áp dụng phương thức kiện đòi bồi thường thiệt hại để bảo vệ lợi ích cho mình.
C. Thực tiến áp dụng và hướng hoàn thiện
1. Có sự mâu thuẫn, thiếu nhất quán trong quy định của pháp luật
Điều 256. Quyền đòi lại tài sản
Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu,
người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài
sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản
đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp
tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257
và Điều 258 của Bộ luật này.

14


Một là: Theo quy định này thì việc yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng tài sản,
người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản bao gồm cả
chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp. Nhưng tại Điều 257BLDS, Điều 258 BLDS
thì các nhà lập pháp lại không công nhận quyền này cho người chiếm hữu hợp pháp
mà chỉ dành quyền này cho chủ sở hữu. Trong khi thực tế và về phương diện pháp lý

người mua một cách vô điều kiện.
Bốn là: Việc sử dụng thuật ngữ “chiếm hữu không có căn cứ” và “chiếm hữu
bật hợp pháp” để đồng nhất về tính chất trong các qui định về nội dung bảo vệ quyền
sở hữu của BLDS là không đảm bảo về mặt học lý. Bởi lẽ: “Bất hợp pháp” có nghĩa
là không phù hợp quy định của pháp luật. “Không có căn cứ pháp luật” là không dựa
trên bất cứ một quy định nào của pháp luật đang có để xác định vấn đề. Hai ý nghĩa
này không phải lúc nào cũng đồng nhất nhau. Trên thực tế, sẽ có những trường hợp,
sự chiếm hữu là không dựa trên quy định nào của pháp luật nhưng nó không trái với
nguyên tắc chung của luật. Chẳng hạn, người được lợi về tài sản không có căn cứ
pháp luật thì chỉ xác định đây là việc chiếm hữu không có căn cứ mà không phải là
chiếm hữu bất hợp pháp? Giả sử cách hiểu này hoàn toàn hợp lý và chính xác, thì quy
định tại Điều 260 BLDS cũng cần xem xét. Nếu chiếm hữu hợp pháp là chiếm hữu có
căn cứ pháp luật thì người chiếm hữu hợp pháp chính là chủ sở hữu và người không
phải chủ sở hữu trong một số trường hợp đã nêu tại Điều 183BLDS . Điều 260 BLDS
ghi rõ: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại”. Vậy, “chủ
sở hữu” với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp (Điều 183BLDS) và “chủ sở hữu”
nói riêng (Điều 260 BLDS) có là “một”?
Năm là: Chưa bao quát hết các trường hợp diễn ra trên thực tế của việc chuyển
dịch tài sản, Điều 257 chỉ quy định “Người chiếm hữu ngay tình có được động sản
thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản”.

16


Một câu hỏi đặt ra là các giao dịch dân sự một bên mà không có tính đền bù thì chủ sở
hữu có được thực hiện quyền này không? Ví dụ : thông qua việc nhận di sản thừa kế
theo di chúc; thông qua hứa thưởng, thông qua thi có giải.

2. Nguyên nhân của các tranh chấp quyền sở hữu

thêm người có quyền kiện đòi tài sản là người chiếm hữu hợp pháp tài sản . Bởi theo
quy định tại điều 256 BLDS thì cả chủ sở hữu và người có quyền chiếm hữu hợp pháp
tài sản đều có quyền yêu cầu người chiếm hữu , được lợi về tài sản không có căn cứ
pháp luật trả lại tài sản. Mặt khác việc bổ sung thêm quy định cho phép người chiếm
hữu hợp pháp tài sản cũng có quyền kiện đòi tài sản hoặc yêu cầu người chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản nhằm bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu
trong việc đảm bảo thời hiệu khởi kiện và tránh phức tạp vụ án khi người thứ ba đã
bán tài sản cho người khác và không tìm thấy họ.
+ Hiện nay pháp luật dân sự không quy định về giá trị tối thiểu của tài sản
khi khởi kiện dân sự nên điều này gây ra tốn kém cho đương sự khi khởi kiện tại tòa
án theo các phương thức dân sự để bảo vệ tài sản của mình . Do vậy BLDS cần quy
định thêm về giá trị tài sản khi đương sự khởi kiện tại tòa.
+ Pháp luật cần quy định về người chiếm hữu bất hợp pháp và người chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật. Bởi theo cách hiểu thông thường thì chiếm hữu hợp pháp
là chiếm hữu có căn cứ pháp luật , còn chiếm hữu bất hợp pháp là chiếm hữu không
có căn cứ pháp luật , mặc dù hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất. Người
chiếm hữu, sử dụng hay được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật tức là không
có căn cứ quy định tại Điều 170 BLDS . Không có căn cứ pháp luật tức là trong pháp
luật không tồn tại quy định nào quy định về điều đó. Còn chiếm hữu bất hợp pháp là
sự chiếm hữu trái với các qua định của pháp luật.
+ Pháp luật cần quy định rõ những tài sản nào bắt buộc phải đăng kí quyền sở
hữu nhằm xác định chủ sở hữu đích thực của đối với tài sản nhất là tài sản chung của
vợ chồng hay của hộ gia đình. Đồng thời cần quy định rõ trong các văn bản luật các
trường hợp cần có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu trong một giao dịch về tài sản
với những giá trị nhất định nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các chủ thể.
+ Cũng cần có sự phân biệt tài sản chiếm hữu không có căn cứ phap luật là
Tiền để xác đinh phương thức bảo vệ quyền sở hữu . Bởi tiền là tài sản tự do lưu
thông và là vật trung gian trong giao lưu thương mại . Chẳng hạn trong phương thức
kiện đòi tài sản thì điều kiện đối với vật phải là vật đang còn tồn tại và là vật đặc định.
18

2. Đối tượng của vụ kiện đòi tài sản..............................................................
II. Những yêu cầu của pháp luật đối với phương thức kiện đòi tài sản........
1.Đối với chủ thể quyền khởi kiện( nguyên đơn)...............................................
2. Đối với người bị kiện ( bị đơn) .......................................................................
a. Người bị kiện là người chiếm giữ không có căn cứ pháp luật, không ngay
tình.....................................................................................................................
b. Nếu người bị kiện là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình .............................................................................................................
b.1) Đối với tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu .................
b.2) Đối với tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc là bất động
sản......................................................................................................................
III. Hậu quả của việc áp dụng phương thức kiện đòi tài sản........................
C. Thực tiến áp dụng và hướng hoàn thiện ..................................................
1. Có sự mâu thuẫn, thiếu nhất quán trong quy định của pháp luật............
2. Nguyên nhân của các tranh chấp quyền sở hữu........................................
3. Hướng hoàn thiện........................................................................................
KẾT BÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập I và II, Nxb.

CAND, Hà Nội, 2009.
2. Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb. Giáo dục,

Hà Nội, 2009.

20


3. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status