ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI DŨNG
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN LUẬT ĐỊNH:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN: TRÊN CƠ
SỞ CÁC DỮ LIỆU THỰC TIỄN CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN TH.S LUẬT
Ngưới hướng dẫn:.TSKH.PGS Lê Văn Cảm
Hà Nội 2007
2
tội phạm và người phạm tội của Nhà nước ta, đó là “nghiêm trị kết hợp với
khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo”.
Đến lần pháp điển hóa lần thứ nhất Luật hình sự Việt Nam bằng việc
thông qua BLHS năm 1985, quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định đã được
ghi nhận chính thức, nhưng nó vẫn được quy định chung cùng với những tình
tiết giảm nhẹ tại một điều của Bộ luật (Điều 38). Tương tự như vậy, đến lần
pháp điển thứ hai Luật hình sự bằng việc thông qua BLHS năm 1999, các quy
định về quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định cũng đã được sửa đổi, bổ sung
và tiếp tục hoàn thiện, mà cụ thể nó đã được ghi nhận tại một điều luật riêng
biệt trong Phần chung (Điều 47). Tuy nhiên, lần pháp điển hóa thứ hai vừa qua
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt lập pháp đối với chế định này, cũng
như thực tiễn áp dụng nó kể từ khi Bộ luật có hiệu lực thi hành. Chẳng hạn, cả
BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý
của khái niệm quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định, các tình tiết giảm nhẹ
TNHS ngoài quy định tại khoản 1 Điều 46 có giá trị như thế nào trong khi
quyết định một hình phạt nhẹ hơn luật định. Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự cho thấy những quy phạm của chế định này còn nhiều bất
cập, một số quy định chưa chặt chẽ về nội dung và chưa thống nhất, đặc biệt
trong thực tiễn đời sống xã hội & thực tiễn pháp lý đang tồn tại vấn đề là tại
sao lại quy định chỉ được quyết định hình phạt trong khung hình phạt nhẹ hơn
liền kề, trong khi các chế định khác như miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình
sự còn mang lại hậu quả pháp lý có lợi hơn nhiều cho người phạm tội thì trên
thực tế cơ sở để áp dụng cũng tương tự như cơ sở khi quyết định hình phạt nhẹ
hơn quy định của BLHS. Điều đó cho thấy những bất hợp lý, không cân đối
trong luật hình sự thực định.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt
khoa học các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về quyết
định hình phạt nhẹ hơn luật định và vấn đề áp dụng trong thực tiễn, đồng thời
định khác như hình phạt, quyết định hình phạt, các biện pháp tha miễn, các 4
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Tuy nhiên, đáng chú ý, đó là công trình
nghiên cứu của TSKH, PGS Lê Cảm: 1) Về bản chất pháp lý của quy phạm
"Nguyên tắc quyết định hình phạt" tại Điều 37 BLHS 1985 (Một số vấn đề lý
luận-thực tiễn & hoàn thiện pháp luật, Tạp chí Toà án nhân dân - số 1, 2 năm
1989); 2) Nhân thân người phạm tội: một số vấn đề lý luận cơ bản (Tạp chí
Toà án nhân dân - số 10/2001); 3) Nhân thân người phạm tội: một số vấn đề
lý luận cơ bản (đồng tác giả với Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Toà án nhân dân - số
1/2003); 4) Quyết định hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt đối với một tội: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn (đồng tác giả với Võ Khánh Vinh, tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 1, 2 năm 1988).
Ngoài ra, phải kể đến các nghiên cứu của các tác giả khác như: 1) Định
tội danh và quyết định hình phạt (Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2004
của TS. Dương Tuyết Miên); 2) Định tội danh và quyết định hình phạt trong
Luật hình sự Việt Nam (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2004 của TS Lê
Văn Đệ); 3) Quyết định hình phạt (Chương XIV, Giáo trình luật hình sự Việt
Nam, Phần chung, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 của ThS Trịnh Quốc
Toản); 4) Về ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong
việc quyết định hình phạt (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2004 của tác giả
Trịnh Tiến Việt); 5) Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS (Tạp
chí Pháp lý, số 7/2000 của tác giả Phan Hữu Thức)
Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dưới
dạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mục
trong các giáo trình, sách tham khảo hay sách bình luận, hoặc mới chỉ xem xét
vấn đề ở cấp độ một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật. Có nghĩa là cho đến nay
trong khoa học luật hình sự của Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào đề
cập đến chế định này một cách tương đối có hệ thống, tương đối đồng bộ và ở
vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:
1) Phân tích căn cứ quyết định hình phạt được ghi nhận trong pháp luật
hình sự thực định, một số quan điểm khác nhau về quyết định hình phạt. 6
2) Phân tích các quan điểm khác nhau về khái niệm quyết định hình
phạt nhẹ hơn luật định, khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định
này để đưa ra quan điểm của mình.
3) Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng những trường hợp quyết định
hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS theo các quy định của BLHS năm 1999
hiện hành và thực tiễn áp dụng tại TAND tỉnh Nam Định từ năm 2000 đến
năm 2005. Qua đó phân tích một số tồn tại xung quanh việc quy định và áp
dụng chế định này.
4) Luận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định và đưa ra một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử
và phương pháp tổng hợp , cũng như những thành tựu của khoa học luật hình
sự, khoa học luật tố tụng hình sự, xã hội học pháp luật… trong các công trình
của các nhà khoa học - luật gia ở trong và ngoài nước.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào số liệu trong một số vụ án
hình sự mà thực tiễn xét xử và thông tin trên mạng Internet để phân tích và
đánh giá, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN LUẬT ĐỊNH
1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của quyết định hình phạt
nhẹ hơn luật định:
1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định:
* Một số khái niệm của các nhà khoa học:
Điều 38 khoản 3 BLHS năm 1985 và Điều 47 BLHS năm 1999 quy
định quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nội
dung của các điều, khoản này là Toà án sẽ áp dụng một hình phạt dưới mức
thấp nhất hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu có
nhiều tình tiết giảm nhẹ. Quy định này đã được Toà án áp dụng rất nhiều trên
thực tế, tuy nhiên để hiểu chính xác và đúng đắn tinh thần điều luật và nội
dung bên trong của nó thì vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có một câu
hỏi là: như thế nào là "dưới mức thấp nhất" và như thế nào là "chuyển sang
phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định
trong điều luật về tội phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn
không được quy định trong điều luật
[30].
Những định nghĩa trên đây mới chỉ dừng lại ở việc giải thích theo nội
dung điều luật (Điều 38 khoản 3 BLHS 1985, Điều 47 BLHS 1999) mà chưa
có sự phân biệt để trả lời cho những thắc mắc đã nêu trên. Lý giải cặn kẽ vấn
đề này sẽ có cơ sở để đưa ra những tiêu chí, căn cứ giải quyết vấn đề khi nào
thì quyết định hình phạt nhẹ hơn (và phải cùng loại hình phạt), khi nào được 10
chuyển sang một loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Ví dụ bị cáo Phạm
Văn Thê và Phạm Thị Kim bị xét xử về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" theo khoản 1 điều 165
BLHS năm 1999, Toà án đã tuyên phạt Thê 9 tháng tù, Kim 6 tháng tù và
khẳng định đây là áp dụng điều 47 BLHS 1999 để quyết định hình phạt dưới
mức khởi điểm của khung hình phạt. Vậy trường hợp này áp dụng điều luật
và cho rằng đã quyết định hình phạt dưới mức khởi điểm của khung hình phạt
đã đúng chưa? Mức khởi điểm của khung 1 điều 165 là như thế nào, hình phạt
cải tạo không giam giữ hay hình phạt tù, hoặc mức thấp nhất của mỗi loại
hình phạt đều là mức khởi điểm của khung Cả Điều 38 khoản 3 BLHS 1985,
Điều 47 BLHS 1999 cũng như các định nghĩa nêu trên đều chưa làm rõ được
vấn đề này, vì thế cần thiết phải nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm đưa ra định nghĩa
đúng đắn, bao quát mọi trường hợp quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định.
* Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự cho thấy quyết định
hình phạt nhẹ hơn luật định là việc Toà án có thể đưa ra một hình phạt dưới
mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định (nhưng phải
chuyển sang một loại hình phạt khác nhẹ hơn khung hình phạt đối với
một tội phạm cụ thể được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự mà bị cáo bị Toà án đưa ra xét xử".
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của quyết định hình phạt nhẹ hơn luật
định:
* Mang đặc điểm của hoạt động quyết định hình phạt nói chung:
- Chỉ có thể do một cơ quan tư pháp duy nhất thực hiện, đó là Toà án.
Điều 127 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) quy định: "Toà án nhân dân Tối cao,
các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do
luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam". Như vậy đây là quy định xuất phát từ đạo luật gốc - Hiến pháp, có giá 12
trị pháp lý cao nhất, không cơ quan nào có thể làm thay Toà án trong hoạt
động xét xử. Cụ thể hoá điều này, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002
ngay tại Điều 1 đã nhắc lại quy định này và khẳng định: "Toà án xét xử những
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và
giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật". Điều 72 Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi) quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt
khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật", quy định này
cũng được nhắc lại tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự. Chỉ có Toà án mới có
thẩm quyền quyết định một hình phạt đối với một người (bị kết tội) - Điều 26
Bộ luật hình sự quy định: "Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và
do Toà án quyết định". Các cơ quan hành chính chỉ có thể ra quyết định xử lý
vi phạm hành chính, quyết định kỷ luật mà không bao giờ được áp dụng hình
phạt với bất cứ cá nhân nào. Tóm lại, Toà án là cơ quan duy nhất được Hiến
pháp quy định chức năng xét xử các vụ án hình sự và quyết định áp dụng hình
phạt đối với một cá nhân bị kết án.
* Quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định cũng là thể hiện nguyên tắc
nhân đạo trong pháp luật hình sự. Điều 3 Bộ luật hình sự quy định nguyên
tắc xử lý là:
"2….
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người
đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại gây ra.
3. Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có
thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc
gia đình giám sát, giáo dục".
Khoản 2 Điều 3 đã được quy định cụ thể thành các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự tại Điều 46 Bộ luật hình sự. Tinh thần của khoản 3 Điều
3 cũng được ghi nhận tại một phần của Điều 47 Bộ luật hình sự. 14
Theo quy định của Bộ luật hình sự, nếu người lần đầu phạm tội ít
nghiêm trọng, đã hối cải, thì Toà án có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục. Hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù bao gồm các hình phạt như: cảnh cáo, phạt tiền, cải
tạo không giam giữ. Ngoài ra, việc Toà án cho người phạm tội được hưởng án
treo cũng được coi là nhẹ hơn hình phạt tù. Nguyên tắc không áp dụng hình
phạt tù đối với người phạm tội là cơ sở quy định các chế định, các quy định
khác về quyết định hình phạt như: căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45);
quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự (Điều 47); án treo
(Điều 60) [26].
* Tuy nhiên, người bị kết án vẫn phải chịu án tích. Khi được áp dụng
hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật thì người bị kết án phải chịu một
trong sáu loại hình phạt chính được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật hình
sự (trừ hình phạt tử hình), không phải trường hợp được miễn hình phạt cho
hình. Đây là khung hình phạt liền kề nặng hơn. Còn khoản 2 có mức phạt tù
từ 12 năm đến 20 năm là khung hình phạt nhẹ hơn nhưng nếu vận dụng dưới
mức thấp nhất của khoản 4 là dưới 12 năm và phải nằm trong khung hình phạt
nhẹ hơn là khoản 2 (mức 12 đến 20 năm tù) thì mức hình phạt lại không thể
thấp hơn 12 năm được. Vì vậy không thể áp dụng khoản 2 để xử lý H được.
Vậy chỉ còn khoản 1 Điều 112 với mức phạt tù từ 7 đến 15 năm có thể được
gọi là khung hình phạt nhẹ hơn và mức hình phạt dưới 12 năm nhưng phải
nằm trong phạm vi từ 7 đến 15 năm (tức không được thấp hơn 7 năm). Nhưng
khoản 1 có được coi là khung hình phạt liền kề nhẹ hơn không? Và điều quan
trọng là khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 112 chỉ áp dụng với người phạm tội
mà nạn nhân là trẻ em nữ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn khoản 4 thì áp
dụng với người phạm tội hiếp dâm trẻ em mà nạn nhân là trẻ em nữ dưới 13
tuổi. Do vậy, khi H phạm tội thuộc khoản 4 Điều 112 thì không có khung
hình phạt liền kề nhẹ hơn, do đó giới hạn mức thấp nhất của hình phạt không
xác định được. 16
Theo quan điểm của tác giả Lê Đăng Doanh thì khi áp dụng Điều 47
trong trường hợp này phải coi đây là trường hợp phạm tội có một khung hình
phạt. Vì vậy, khi H tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 46
BLHS thì Toà án có quyền quyết định hình phạt dưới mức 12 năm, nhưng
giới hạn tối thiểu dưới 12 năm là bao nhiêu? Nếu theo khoản 4 Điều 112 do
luật không quy định rõ ràng, nên giới hạn tối thiểu ở đây được hiểu là không
thấp hơn 3 tháng tù (giới hạn thấp nhất của hình phạt tù). Và như vậy H có thể
được Toà án tuyên hình phạt 3 tháng tù, 6 tháng tù là mức hình phạt dưới 12
năm tù vẫn phải coi là đúng pháp luật. Trường hợp thực tế có thể xảy ra như
nêu trên rõ ràng là giảm nhẹ quá mức cần thiết, do đó để tránh sự lạm dụng
quy định không chặt chẽ của pháp luật và giảm nhẹ quá đáng cho người phạm
tội, cần có sự giải thích chính thức từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền
tác giả Đỗ Văn Chỉnh còn đưa ra hai tình huống khác [20]. Đó là: 1. Người
phạm tội đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó, mà việc tự thú này lại làm
xấu đi tình trạng của bị can, bị cáo. Ví dụ một người có hành vi bán hêrôin bị
bắt quả tang. Sau đó người này tự thú là: trước khi bị bắt quả tang, anh ta đã
có một lần bán hêrôin. Lời thú tội này được xác minh là đúng, vậy nên bị cáo
đã vi phạm khoản 2 Điều 194 BLHS với tình tiết phạm tội nhiều lần. (Nếu
người phạm tội không tự thú về hành vi phạm tội trước đó thì người này chỉ
vi phạm vào khoản 1 Điều 194 BLHS). Vì chỉ có một tình tiết giảm nhẹ là tự
thú nên Toà án không thể xử phạt họ dưới 7 năm tù được. 2. Bị cáo chỉ có một
tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng có hai hoặc ba
tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Tác giả có ý kiến như sau:
+ Đối với người phạm tội hiếp dâm mà người bị hại chưa đủ 13 tuổi,
người phạm tội lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 46; nhưng
lại không thể xử phạt dưới mức thấp nhất quy định tại khoản 4 Điều 112
được. (Vì khung hình phạt liền kề lại có mức phạt cao hơn). Căn cứ vào quy
định tại Điều 112 BLHS thì: Điều 112 quy định về tội hiếp dâm trẻ em. Trong 18
điều luật này chia làm hai loại tuổi trẻ em là người bị hại. Khoản 1, khoản 2
và khoản 3 điều luật này để trừng trị người hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến
dưới 16 tuổi. Còn khoản 4 là để trừng trị người hiếp dâm trẻ em chưa đủ 13
tuổi. Mức phạt quy định tại khoản 4 là mức phạt quy định chung cho người
phạm tội từ đủ 14 tuổi trở lên. Quy định mức phạt thấp nhất tại khoản 4 Điều
112 là đúng với khoản 2 Điều 12 và khoản 2 Điều 74 BLHS và sát với thực tế
cuộc sống. Vì có trẻ em chưa đủ 16 tuổi đã hiếp dâm trẻ em chưa đủ 13 tuổi
và còn có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần. Việc áp dụng pháp luật sẽ
là: Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi mà hiếp dâm trẻ em
chưa đủ 13 tuổi thì áp dụng khoản 4 Điều 112 để định tội danh, áp dụng
giảm.
+ Đối với người mua bán hêrôin bị bắt quả tang đã tự thú về hành vi
mua bán trái phép trước đó, nếu không tự thú thì họ chỉ bị xử phạt theo khoản
1 Điều 194 BLHS, còn tự thú lại bị xử phạt theo khoản 2 Điều 194 BLHS. Do
có một tình tiết giảm nhẹ là tự thú nên Toà án không thể xử phạt họ dưới 7
năm tù được. Tác giả cho rằng có thể Hội đồng xét xử đánh giá chưa thật đầy
đủ về các lời khai của người phạm tội. Thực tế công tác xét xử cho thấy,
người đã tự thú về hành vi phạm tội mà hành vi này không có ai biết, thì
thông thường người này cũng thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội đã bị
phát hiện hoặc tại phiên toà những người này thường tỏ rõ sự ăn năn hối cải.
Như vậy, người phạm tội sẽ có hai tình tiết giảm nhẹ là: tự thú và ăn năn hối
cải. Vấn đề là Hội đồng xét xử đã đánh giá đầy đủ tình tiết giảm nhẹ chưa.
Tuy Toà án áp dụng khoản 2 Điều 194 BLHS để xử phạt nhưng bị cáo
có hai tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 46 BLHS nên áp dụng Điều 47
BLHS để xử phạt dưới 7 năm tù, có như vậy mới khuyến khích người phạm
tội tự thú.
+ Đối với trường hợp bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại
khoản 1 Điều 46 BLHS và có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 46
BLHS mà không thể áp dụng Điều 47 BLHS được. Để giải quyết vấn đề này 20
cần phải tổng kết việc áp dụng Điều 47 BLHS và phải do cơ quan có thẩm
quyền quyết định có nên cho quy đổi hai hoặc ba tình tiết giảm nhẹ thuộc
khoản 2 Điều 46 BLHS thành một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1
Điều 46 BLHS hoặc tăng thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 46 BLHS
hay không. Còn hiện nay vẫn phải tuân theo quy định tại Điều 47 BLHS năm
1999 mà không thể làm khác được.
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là một trong những vấn đề quan
trọng của chế định quyết định hình phạt, bởi vì việc quyết định hình phạt
đúng pháp luật, công bằng và hợp lý hay không tuỳ thuộc rất nhiều vào việc
nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử. Đây là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Ý nghĩa lý luận của chúng thể hiện ở
chỗ: việc làm sáng tỏ các nguyên tắc đó góp phần vào việc nhận thức được
bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định quyết định hình phạt,
phân biệt chúng với các căn cứ quyết định hình phạt, đưa ra những phương án
tối ưu của việc thể hiện chúng trong các quy phạm của luật hình sự. Còn về
mặt thực tiễn, các nguyên tắc đó là những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam
cho hoạt động của Toà án khi chọn và quyết định loại và mức hình phạt đối
với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể.
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng xuất phát, tư
tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có,
xác định và định hướng hoạt động của Toà án khi áp dụng các chế tài luật
hình sự đối với người phạm tội.
Quyết định hình phạt cần dựa vào những nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa;
- Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt;
- Nguyên tắc công bằng (công minh). 22
Quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định cần tuân thủ những nguyên
tắc cụ thể nêu trên, cụ thể như sau:
* Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa:
hình phạt như trước năm 1985 khi chưa có Bộ luật hình sự. Nhưng trong luật
hình sự Việt Nam chúng ta có thể thấy một điểm nổi bật đáng chú ý, đó là: chỉ
có Bộ luật hình sự mới quy định tội phạm và hình phạt. Điều 8 Bộ luật hình
sự Việt Nam quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự "
* Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa:
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được sửa đổi, bổ sung ngày 25 tháng 12 năm 2001, tại Điều 2 khẳng định:
"Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân". "Nhà nước bảo đảm
và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân
dân" - Điều 3.
Nội dung chính của nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự là:
- Một là, đối với người phạm tội, việc áp dụng hình phạt, chỉ cần thiết
đến mức cần và đủ cho việc đạt được mục đích cải tạo, giáo dục, phòng ngừa.
- Hai là, hình phạt và các biện pháp khác của trách nhiệm hình sự
không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp phẩm giá con người. 24
Để thực hiện nguyên tắc nhân đạo, Bộ luật hình sự Việt Nam quy định
một loạt các chế định làm cơ sở pháp lý cho sự vận dụng của các cơ quan truy
tố và xét xử. Có thể liệt kê một số quy định và chế định như sau:
- Quy định áp dụng hiệu lực trở về trước đối với những điều luật quy
định xoá bỏ một tội phạm ; không áp dụng hiệu lực trở về trước đối với
những điều luật quy định một tội phạm mới