Thủ tục phục hồi trong pháp luật phá sản - Những vấn đề lý luận và thực tiễn tại Việt Nam - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC THƢỞNG
THỦ TỤC PHỤC HỒI TRONG PHÁP LUẬT PHÁ
SẢN – NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Huy Cƣơng
Hà Nội – 2013

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tự do cạnh tranh và phá sản là những thuộc tính vốn có của kinh tế thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào không đáp ứng được
những đòi hỏi nghiệt ngã của thương trường, của sức ép cạnh tranh sẽ bị đào
thải. Để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài, mất khả năng
thanh toán các khoản nợ đến hạn, đồng thời phòng ngừa, khắc phục những
hậu quả, rủi ro mà những doanh nghiệp này có thể gây ra cho nền kinh tế, mỗi
quốc gia đều phải xây dựng và thực thi một cơ chế phá sản có hiệu quả. Tuy
nhiên, do tính chất nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng rộng tới nhiều đối tượng
khác nhau trong đời sống kinh tế nên cơ chế phá sản luôn đòi hỏi sự can thiệp
mềm dẻo, linh hoạt của Nhà nước, phù hợp với những yêu cầu thực tiễn mà
hoạt động kinh doanh đặt ra. Tuyên bố phá sản một con nợ chỉ là giải pháp
cuối cùng nếu việc tái cấu trúc lại con nợ không đạt được kết quả thông qua
thủ tục phá sản.
Trong hệ thống pháp luật về phá sản hiện đại, thủ tục phục hồi doanh
nghiệp, hợp tác xã mắc nợ là một nội dung quan trọng. Sự ra đời của thủ tục

Đã từ lâu, việc nghiên cứu về phá sản và pháp luật phá sản không
còn là một hướng nghiên cứu xa lạ ở Việt Nam. Đã có rất nhiều các công
trình nghiên cứu công phu về chùm chủ đề này được công bố, trong đó có
những công trình tiêu biểu như: “Giáo trình Luật Kinh tế”, “Giáo trình Luật
thương mại” của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Hà
Nội, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Mở Hà Nội, Đại học Công nghiệp
thành phố Hồ Chí Minh,… và các sách tham khảo như: “Pháp luật phá sản
của Việt Nam 2005” của PGS.TS Dương Đăng Huệ; “Báo cáo rà soát,
đánh giá thực tiễn thi hành Luật phá sản năm 2004” do Bộ Tư pháp xây
dựng; hoặc các bài viết như: “Đi tìm triết lý của Luật phá sản” của
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa; “Luật phá sản năm 2004 với việc cải thiện môi
trường kinh doanh tại Việt Nam” của PGS.TS Dương Đăng Huệ; “Một số ý

kiến về dự thảo Luật phá sản (sửa đổi)” của PGS.TS Dương Đăng Huệ -
Cao Đăng Vinh…; cho tới các khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân, luận văn
thạc sĩ và luận án tiến sĩ đã bảo vệ thành công.
Tuy nhiên, các công trình và bài viết này chỉ đề cập đến những nội
dung cơ bản của thủ tục phá sản nói chung mà chưa nghiên cứu một cách
chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về các khía cạnh pháp lý của thủ tục
phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ với tư cách là một thủ tục độc
lập cũng như đánh giá toàn diện thực trạng của các quy định về thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm xây
dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hồi.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện các vấn đề lý luận về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thực trạng
quy định và áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh để
trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của thủ tục
phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THñ TỤC PHỤC HỒI TRONG
PHÁP LUẬT PHÁ SẢN HIỆN ĐẠI

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của thủ tục phục hồi trong thủ tục phá sản
1.1.1. Khái niệm thủ tục phục hồi
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp khác nhau
thuộc mọi thành phần kinh tế được Nhà nước khuyến khích thành lập và tạo
điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp
luật. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể tránh khỏi hiện tượng,
bên cạnh những doanh nghiệp được thành lập và kinh doanh có hiệu quả, tạo
ra nhiều sản phẩm và công ăn việc làm cho người lao động, góp phần cho sự
ổn định và phát triển kinh tế xã hội, còn có một bộ phận không nhỏ những
doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân khác nhau làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả,
không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính của mình khi đến hạn. Điều
này không chỉ làm ảnh hưởng tới chính bản thân doanh nghiệp, hợp tác xã đó
mà nó còn có thể gây thiệt hại tới nhiều chủ thể khác, đó là quyền lợi của các
chủ nợ không được bảo đảm, lợi ích của người lao động bị xâm phạm và đặc
biệt sự đổ vỡ của các doanh nghiệp lớn hoặc những doanh nghiệp hoạt động
trong những lĩnh vực “nhạy cảm” như tài chính, tín dụng, bảo hiểm… thì còn

hơn một chủ nợ) đối với một con nợ duy nhất. Trong điều kiện sản nghiệp của
con nợ không còn đủ để đồng thời thanh toán hết tổng số nợ, dù con nợ có
trao toàn bộ sản nghiệp của mình cho các chủ nợ thì rủi ro vẫn là quá lớn đồi
với các chủ nợ. Nếu có thể, bằng một giải pháp nào đó và với sự trợ giúp của
các chủ nợ, mà con nợ còn có thể tiếp tục tồn tại thì cơ hội để thu hồi đủ số nợ
cho các chủ nợ lại trở lên khả quan hơn. Chính vì vậy, so với thủ tục đòi nợ
dân sự, thủ tục phá sản không đơn thuần chỉ là một công cụ lấy nợ “tập thể”
mà còn hướng vào mục tiêu tái cấu trúc lại con nợ nhằm hài hòa một cách tốt
nhất những mâu thuẫn lợi ích giữa chủ nợ, con nợ, người lao động và nền
kinh tế.

Ở thời điểm hiện tại, bất kì một đạo luật phá sản được coi là hiện đại
trên thế giới đều coi trọng việc cứu vãn hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp mắc nợ. Toà án chỉ tuyên bố phá sản con nợ trong những trường hợp
bất đắc dĩ, khi các biện pháp khôi phục hoạt động kinh doanh và khả năng
thanh toán của con nợ không thành công. Việc phục hồi hoạt động kinh doanh
của con nợ có ý nghĩa không chỉ đối với bản thân con nợ mà còn có ý nghĩa
lớn đối với các chủ nợ, người lao động, các đối tác, đặc biệt là đối với sự
vững mạnh của nền kinh tế đất nước. Việc phục hồi tạo cơ hội cho doanh
nghiệp mắc nợ vượt qua tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, khôi
phục lại hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường, hạn chế đến mức thấp
nhất việc giải thể doanh nghiệp khi còn có hy vọng phục hồi nó.
Việc phục hồi hoạt động kinh doanh làm tăng thêm sự tin tưởng của
người lao động đối với doanh nghiệp. Trong hoàn cảnh nào đi nữa và với bất
kỳ lý do gì, nếu doanh nghiệp mắc nợ phục hồi được hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, thu được lợi nhuận, lấy lại được uy tín trên thương trường
thì nó không chỉ giải quyết được các khoản nợ lương đối với người lao động
mà còn tạo sự gắn bó hơn nữa giữa người lao động đối với doanh nghiệp. Quá
trình phân công lao động ngày càng theo chiều rộng và chiều sâu ở mỗi thị
trường quốc gia và thị trường toàn cầu đã làm tính phụ thuộc giữa các doanh

phá sản, nhất thiết chúng ta phải phân biệt với sự tự phục hồi của con nợ. Khi
một con nợ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, bản thân con nợ đó có
thể áp dụng tất cả các biện pháp có thể nhằm tự “cứu mình”, thậm chí có thể
thỏa thuận riêng rẽ với từng chủ nợ để tìm cơ hội cứu vãn tình trạng mất khả
năng thanh toán. Nhưng khi thủ tục phá sản đã mở ra đối với con nợ thì việc
phục hồi con nợ phải tuân theo một trình tự tố tụng hết sức chặt chẽ. Thủ tục
này được áp dụng bởi tòa án sau khi có sự chấp thuận của các chủ nợ và được
giám sát chặt chẽ bởi chính tòa án và các chủ nợ.
Xét về bản chất pháp lí, thủ tục phục hồi con nợ có thể được hiểu là quá
trình xác lập và thực hiện một “khế ước” giữa con nợ và tập thể các chủ nợ

bao gồm cả đại diện của người lao động làm công cho con nợ đó với sự phê
chuẩn của tòa án nhằm xây dựng một kế hoạch tái cơ cấu lại doanh nghiệp
mắc nợ và lập một kế hoạch trả nợ phù hợp [1, Tr 1230]. Trong một số trường
hợp, kế hoạch tái cơ cấu có thể dẫn đến việc thay thế bộ máy quản lý, điều
hành doanh nghiệp mắc nợ. Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh cho phép
doanh nghiệp mắc nợ tiếp tục hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo cho con
nợ có cơ hội thoát khỏi khó khăn về tài chính và do đó tránh được bị tuyên bố
phá sản. Phục hồi hoạt động kinh doanh là nội dung thể hiện quan điểm tiến
bộ, tính nhân đạo của pháp luật phá sản hiện đại đối với doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản. Việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
đem lại cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản những cơ hội và điều
kiện để tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi
tình trạng phá sản.
Từ việc phân tích các dấu hiệu nêu trên có thể đưa ra khái niệm phục hồi
doanh nghiệp mắc nợ như sau:
Thủ tục phục hồi là thủ tục do Toà án có thẩm quyền quyết định áp
dụng trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, theo đó, một con nợ không
có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn được hưởng một thời hạn
nhất định để thi hành phương án phục hồi do Hội nghị chủ nợ thông qua

Những quy định này cũng là để đảm bảo tài sản phá sản của doanh nghiệp con
nợ, từ đó đảm bảo tài sản thanh toán nợ cho các chủ nợ.
1.1.2.2. Ý nghĩa của thủ tục phục hồi đối với ngƣời lao động
Khi một thương nhân lâm vào tình trạng đổ vỡ trong kinh doanh thì
ngoài các chủ nợ, có một nhóm đối tượng cũng phải chịu những tác động xấu
một cách trực tiếp từ sự đổ vỡ này đó chính là những người làm công ăn
lương. Bắt đầu từ khi công việc kinh doanh của thương nhân gặp khó khăn,
những người lao động làm việc cho thương nhân đó đã có thể bị cắt giảm thu
nhập hoặc bị giới chủ chậm trả lương và nếu như tình hình tài chính của

thương nhân đó không được cải thiện thì họ còn có thể bị mất việc làm và mất
luôn thu nhập.
Chính vì vậy một trong những chức năng cơ bản của pháp luật phá sản
là tìm giải pháp tối ưu nhất để bảo vệ lợi ích chính đáng của những người lao
động. Giải pháp tối ưu đó có lẽ chỉ có thể tìm thấy trong thủ tục phục hồi khi
mà thay vì thanh lí sản nghiệp và chấm dứt sự tồn tại của thương nhân vỡ nợ,
pháp luật tạo điều kiện cho thương nhân đó có thể tiếp tục tồn tại và như vậy
người lao động sẽ không bị mất việc làm, các khoản nợ thu nhập sẽ được
thanh toán một cách đầy đủ.
Trong thủ tục phục hồi người lao động còn có thể thể hiện vai trò như
là một chủ nợ trong tổng thể các chủ nợ thông qua người đại diện của mình.
1.1.2.3. Ý nghĩa của thủ tục phục hồi đối với thƣơng nhân mắc nợ
Đối với một thương nhân “trung thực” thì sự đỗ vỡ trong kinh doanh
là xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như gặp phải rủi ro trong kinh
doanh, do khủng hoảng của kinh tế, do năng lực kinh doanh yếu kém…và khi
lâm vào tình trạng phá sản, không còn khả năng thanh toán nợ cho các bạn
hàng, thương nhân đó có thể rơi vào tình trạng tuyệt vọng vì:
- Thứ nhất: họ có thể đánh mất đi niềm tin của các bạn hàng, mất đi sự tín
nhiệm trên thương trường mà có thể mất rất nhiều thời gian mới có được;
- Thứ hai: họ có thể mất đi sản nghiệp thương mại được gây dựng với nhiều

doanh nghiệp đó phải chịu những tác động xấu. Đặc biệt, nếu con nợ là những
doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như tài chính, tín dụng, bảo
hiểm…việc phá sản của con nợ đó có thể kéo theo sự đổ vỡ của cả một hệ
thống các doanh nghiệp khác có liên quan.
Ngoài ra, khi một doanh nghiệp bị phá sản, những người lao động làm
việc trong doanh nghiệp đó sẽ bị mất việc làm và điều đó cũng đồng nghĩa với
việc họ sẽ mất đi nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống của họ và gia đình.
Giải quyết bài toán thất nghiệp hay tái đào tạo lại nghề cho những người lao
động sẽ là một sức ép lớn cho nhà nước và xã hội.

Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường
mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh
doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng
thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của
tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã
hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định
nào đó.
Phục hồi thành công doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ góp
phần hạn chế những tác động tiêu cực đối với xã hội. Đặc biệt, nếu giải quyết
thỏa đáng mối quan hệ lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phục
hồi sẽ góp phần hạn chế những mâu thuẫn, căng thẳng có thể có giữa những
chủ thể này với nhau, từ đó góp phần duy trì trật tự, ổn định xã hội và lành
mạnh hóa môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp.
1.2. Các nguyên tắc của thủ tục phục hồi
Khi một thương nhân lâm vào tình trạng phá sản và bị mở thủ tục phá
sản, việc tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi đối với thương nhân
đó cũng như trong suốt quá trình diễn ra thủ tục phục hồi đều phải tuân thủ
theo những nguyên tắc sau:
1.2.1. Thủ tục phục hồi chỉ đƣợc áp dụng đối với con nợ trên cơ sở “khế
ƣớc” đã đƣợc xác lập giữa tổng thể các chủ nợ với con nợ.

được một phương án tái cơ cấu khả thi được tổng thể các chủ nợ thông qua sẽ
phải trải qua một thời gian thích hợp để con nợ và các chủ nợ tiếp tục thỏa
hiệp để xây dựng phương án này.
Như vậy, bản chất của nghị quyết hội nghị chủ nợ về việc chấp thuận
cho con nợ được áp dụng thủ tục phục hồi chính là sự thể hiện ý chí chung
của tổng thể các chủ nợ nhằm giao kết một hợp đồng với con nợ. Hình thức
của hợp đồng này chính là biên bản họp hội nghị chủ nợ với sự chứng thực
của tòa án. Bản hợp đồng này có giá trị:

- Là cơ sở pháp lí để tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi đối
với con nợ;
- Ghi nhận sự ràng buộc nghĩa vụ giữa tổng thể các chủ nợ với con nợ
trong suốt thời gian diễn ra thủ tục phục hồi;
- Và là cơ sở để các chủ nợ giám sát, đánh giá về sự thành công hay
thất bại của việc phục hồi con nợ để có những quyết định tiếp theo
đối với “số phận” của con nợ.
1.2.2. Thủ tục phục hồi chỉ áp dụng đối với những con nợ bị lâm vào tình
trạng phá sản nhƣng còn khả năng phục hồi
“Lâm vào tình trạng phá sản” là một khái niệm cơ bản và vô cùng quan
trọng trong pháp luật phá sản vì khái niệm này cho phép xác định điểm khởi
đầu của một vụ kiện phá sản. Chỉ khi con nợ bị “lâm vào tình trạng phá sản”
thì chủ nợ và một số chủ thể có quyền khác mới có thể đệ đơn tới tòa án yêu
cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ.
Pháp luật của các quốc gia trên thế giới hiện nay có cách quy định khá
khác nhau về “tình trạng phá sản” của con nợ, tuy nhiên, có hai phương pháp
để xác định tình trạng phá sản của con nợ được khá nhiều quốc gia áp dụng
là:
- Dựa trên cán cân thanh toán giữa tài sản có và tài sản nợ của con nợ.
Theo tiêu chí này, một con nợ sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản
khi tổng giá trị tài sản sẵn có của doanh nghiệp thấp hơn tổng giá trị tài sản

hạn thì được xem như là lâm vào tình trạng phá sản mà không cần biết nguyên
nhân tại sao doanh nghiệp lại không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
Căn cứ vào tình trạng phá sản thực chất của con nợ, tòa án có thể ra
quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản đối với con nợ đó.
Khi xem xét thủ tục phục hồi với tính chất là một thủ tục tố tụng do tòa
án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản thì rõ ràng chỉ có những

con nợ lâm vào tình trạng phá sản và đã bị tòa án mở thủ tục phá sản mới là
đối tượng được áp dụng thủ tục phục hồi.
Cũng cần lưu ý rằng, việc áp dụng thủ tục phục hồi còn là bắt buộc đối
với những doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ an ninh, quốc phòng;
doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và
trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ
công ích thiết yếu khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn hoặc tình hình tài
chÝnh lâm vào tình trạng nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc phục hồi này thường
được thực hiện thông qua một quy trình đặc biệt chứ không áp dụng theo thủ
tục phục hồi thông thường như những con nợ khác. Theo quy định của pháp
luật Việt Nam, đối với các doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp “đặc
biệt” như đã kể trên thì việc áp dụng các biện pháp phục hồi thuộc về trách
nhiệm của cơ quan chủ quản doanh nghiệp đó chứ không phải tòa án. Tòa án
chỉ thụ lí và ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp này
khi việc phục hồi con nợ của cơ quan chủ quản không thành công và sau đó
tòa án sẽ ra quyết định áp dụng thủ tục thanh lí, bỏ qua giai đoạn áp dụng thủ
tục phục hồi tại tòa án.
Theo quy định chung của nhiều nước trên thế giới, sau khi xác định
doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn, tức là đã lâm vào
tình trạng phá sản thì Toà án sẽ tiến hành xem xét tình trạng tài chính và khả
năng phục hồi hoạt động của con nợ để áp dụng một trong các thủ tục: thủ tục
phục hồi hoạt động kinh doanh; thủ tục thanh toán tài sản cho phù hợp với
con nợ đó. Điều đó có nghĩa là, toà án có thể tuyên bố phá sản, thực hiện ngay

việc thực hiện các cam kết đã đạt được giữa con nợ với tổng thể các chủ nợ
thông qua hội nghị chủ nợ. Theo đó, tổng thể các chủ nợ chỉ chấp nhận cho
con nợ được áp dụng thủ tục phục hồi với điều kiện con nợ phải tuân thủ đúng
những nội dung đã cam kết của mình trước các chủ nợ.

- Hai là: Một trong những mục đích quan trọng nhất của thủ tục phục hồi
chính là nhằm khôi phục lại sản nghiệp của con nợ để tối đa hóa khả năng trả
nợ của con nợ đối với các chủ nợ. Trên thế giới mặc dù còn có nhiều quan
điểm khác nhau về vấn đề tổng thể các chủ nợ có phải là một pháp nhân hay
không [1, Tr 1161-1162], song rõ ràng quyết định mở thủ tục phá sản của tòa
án đối với con nợ không làm mất đi quyền sở hữu sản nghiệp của con nợ cho
tới khi có quyết định tuyên bố con nợ chính thức phá sản. Như vậy, trong suất
thời gian diễn ra thủ tục phục hồi quyền sở hữu đối với sản nghiệp vẫn thuộc
về con nợ dù phải chịu những hạn chế nhất định và sản nghiệp đó lại chính là
đối tượng để thực hiện việc thanh toán các trái quyền cho các chủ nợ. Chính
vì vậy, nhất thiết các chủ nợ phải có quyền giám sát khối sản nghiệp của con
nợ trong quá trình diễn ra thủ tục phục hồi.
Cũng cần lưu ý thêm rằng, ngoài các chủ nợ, tòa án cũng có quyền
giám sát việc thực hiện thủ tục phục hồi xuất phát từ chỗ thủ tục phục hồi
không chỉ nhằm hướng đến các chủ nợ hay con nợ mà còn hướng đến việc
đảm bảo các mục tiêu khác như lợi ích của người lao động, của nhà nước.
Ngoài quyền giám sát việc thực hiện thủ tục phục hồi, các chủ nợ còn
có quyền căn cứ vào những cam kết của con nợ trong phương án phục hồi đã
được hội nghị chủ nợ thông qua để đánh giá về kết quả của việc thực hiện thủ
tục phục hồi.
1.2.4. Thủ tục phục hồi có thể chuyển thành thủ tục thanh toán trong thủ
tục phá sản.
Như trên đã phân tích, một trong những mục đích của thủ tục phục hồi là
nhằm thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho các chủ nợ. Việc tiến hành thủ tục
phục hồi bao giờ cũng diễn ra trước thủ tục thanh toán trong Luật phá sản trừ

Quốc Ở Mỹ, Chương 11 của Bộ luật Liên bang tạo thành từ luật về phá sản
ngày 06/11/1978 (Bankrupty Act) điều chỉnh về thủ tục phục hồi và Chương
VII điều chỉnh về thủ tục thanh lý doanh nghiệp. Ở Đức, Bộ luật về giải quyết
vỡ nợ (Insolvenzordnung) được ban hành ngày 05/10/1995 và có hiệu lực kể

từ ngày 01/11/1999 điều chỉnh cả thủ tục phục hồi và thủ tục thanh lý doanh
nghiệp.
 Xu hƣớng thứ hai: Có hệ thống văn bản riêng điều chỉnh từng thủ tục
phục hồi và thanh lý tư pháp.
Có thể kể ra trong xu hướng này các nước như Ba Lan với sắc lệnh ngày
24/10/1984 có hiệu lực kể từ năm 1990, Bỉ có Đạo luật ngày 17/07/1997 liên
quan đến thoả hiệp tư pháp, Hà Lan có Đạo luật ngày 16/05/1925 về thoả hiệp
tư pháp và Nhật Bản có Đạo luật ngày 25/04/1922 về thoả hiệp tư pháp và
Luật ngày 07/06/1952 về phục hồi công ty.
Dù có sự khác nhau về nguồn điều chỉnh và cấu trúc của pháp luật phá
sản nhưng nếu xét về nội dung của thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ thì
pháp luật của các quốc gia trên thế giới lại có nhiều điểm tương đồng. Dù là
pháp luật của nước nào thì thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ luôn gồm 3
giai đoạn: mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ, giải quyết yêu cầu mở
thủ tục phục hồi doanh nghiệp mắc nợ và thực hiện phương án phục hồi
doanh nghiệp mắc nợ.
 Về quyền yêu cầu mở thủ tục phục hồi con nợ
Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới (ví dụ Mỹ, Pháp, Nhật Bản,
Đức ) đều quy định cho 2 chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục
hồi doanh nghiệp mắc nợ là các chủ nợ và bản thân con nợ. Đối với bản thân
doanh nghiệp mắc nợ thì việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi đồng thời
vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ mà pháp luật dành cho họ. Nhưng đối với các
chủ nợ, việc nộp đơn chính là quyền mà pháp luật dành cho các chủ nợ để
trong trường hợp cần thiết, có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh
đó, Toà án khi phát hiện doanh nghiệp bị vỡ nợ thì cũng có quyền mở thủ tục

nghiệp mắc nợ. Việc xây dựng một phương án phục hồi rồi được các chủ nợ
thông qua và nhận sự phê chuẩn của Toà án là một phương thức kỹ thuật của
sự duy trì này. Thông qua thủ tục như vậy, Toà án và các chủ nợ tạo điều kiện

cho doanh nghiệp mắc nợ thực hiện những giải pháp, phương thức giải quyết
món nợ và thể thức, phương thức duy trì hoạt động của doanh nghiệp mắc nợ.
Vào thời điểm hiện nay, thủ tục phục hồi cho phép duy trì hoạt động của
doanh nghiệp mắc nợ có hai loại:
- Thủ tục phục hồi truyền thống cho phép duy trì hoạt động của doanh
nghiệp mắc nợ bằng cách có phương tiện để trả nợ.
- Thủ tục phục hồi hiện đại theo đuổi mục tiêu là chưa phải trả nợ nhưng
được dành những phương tiện tốt nhất, quan trọng nhất nhằm duy trì và cơ
cấu lại doanh nghiệp mắc nợ.
Có quốc gia như Tây Ban Nha, Bỉ quan niệm rằng một doanh nghiệp
khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn chỉ được áp dụng những quy định về
phục hồi nếu tổng toàn bộ giá trị tài sản có của doanh nghiệp mắc nợ lớn hơn
tổng tài sản nợ của doanh nghiệp mắc nợ không kể doanh nghiệp mắc nợ là
loại hình doanh nghiệp nào, có vị trí, vai trò ra sao trong nền kinh tế.
Có quốc gia như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản lại quan niệm thủ tục
phục hồi chỉ được áp dụng cho những doanh nghiệp mắc nợ còn khả năng
phục hồi và cần thiết phải phục hồi vì những lý do như tầm quan trọng của
doanh nghiệp mắc nợ, nguồn nhân lực lao động trong doanh nghiệp. Do đó,
những doanh nghiệp mắc nợ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp liên
quan đến các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ hoặc có hoạt động sản
xuất ra những nhu yếu phẩm hàng ngày của con người hay việc thanh lý
doanh nghiệp làm nhiều người lao động thất nghiệp là những doanh nghiệp
được áp dụng thủ tục phục hồi.
 Về thẩm quyền ra quyết định mở thủ tục phục hồi
Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giống nhau khi quy
định quyền ra quyết định mở thủ tục phục hồi thuộc về tòa án. Tuy nhiên, do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status