Tội pháp hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ KHÁNH TOÀN

Tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong luật hình sự Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Hà nội - 2010

Mục lục của luận văn
Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục Mở đầu
1

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong luật hình sự việt nam
8
1.1
Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết và ý nghĩa của việc quy định
tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam
8
1.1.1.
Khái niệm tội phá hoại chính sách đoàn kết
8

Liên bang Nga
33

Chương 2: Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong bộ luật hình sự
năm 1999 và thực tiễn áp dụng
35
2.1.
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong Bộ luật hình sự năm 1999
35
2.1.1.
Khách thể của tội phạm
35
2.1.2.
Mặt khách quan của tội phạm
36
2.1.3.
Chủ thể của tội phạm
43
2.1.4.
Mặt chủ quan của tội phạm
45
2.2.
Hình phạt đối với phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự năm
1999
48
2.3.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội phá hoại
chính sách đoàn kết
53

3.3.4.
Nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng cho
cán bộ tư pháp
84

Kết luận
87

Danh mục tài liệu tham khảo
89 1
Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
"Đoàn kết" là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam
trong quá trình dựng nước và giữ nước. Tinh thần dân tộc và sức mạnh của
dân tộc là điểm tựa vững chắc cho mọi quyết sách mà ông cha ta bao đời đã
vận dụng để đánh thắng mọi kẻ thù. Kế thừa và phát huy truyền thống đó,
ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn luôn coi trọng, củng
cố và mở rộng khối đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với
sức mạnh quốc tế, sức mạnh truyền thống với sức mạnh thời đại, lãnh đạo
nhân dân Việt Nam liên tiếp giành được những thắng lợi vĩ đại trong cuộc đấu
tranh vì độc lập của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
chia rẽ dân tộc, phá hoại nền độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, toàn
vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó là một sự thật lịch sử mà cho đến hôm nay, các
thế lực thù địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu và hành động chống phá. Những năm
đầu thế kỷ XXI, chiêu bài dân chủ, tôn giáo gắn với nhân quyền vẫn được coi

hình sự Việt Nam", Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2001; GS.TSKH Lê Cảm: "Những vấn đề lý luận về bảo vệ an ninh quốc gia
bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền", Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 7, 2007; GS.TSKH Lê Cảm: "Nhà nước pháp quyền
trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người
bằng pháp luật hình sự", Tạp chí kiểm sát; PGS.TS Kiều Đình Thụ: "Các tội
xâm phạm an ninh quốc gia, lịch sử, thực trạng và phương hướng hoàn
thiện", Thông tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, 1994; "Hoàn thiện các quy
định về trách nhiệm hình sự đối với các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an
ninh quốc gia", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 1995); "Về các tội đặc biệt
nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia", Tạp chí Công an nhân dân, 1995

3
Ngoài ra, một số giáo trình do tập thể tác giả của trường, khoa Luật
biên soạn phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học
có đề cập đến tội phá hoại chính sách đoàn kết như: Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam (tập 1), do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2006; Bình luận các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự năm
1999, do TS. Uông Chu Lưu chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003
Tuy nhiên, các công trình nói trên mới chỉ dừng lại ở việc đề cập dấu
hiệu cấu thành các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói chung, chưa có công
trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về tội phá hoại chính sách
đoàn kết, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể lịch sử hình thành và
phát triển của các quy phạm về nó từ thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám đến
nay, tổng kết đánh giá thực tiễn áp dụng, cũng như chỉ ra các tồn tại, vướng
mắc trong thực tế để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
phạm pháp luật về tội phạm này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu

quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, cũng như thành tựu
của các ngành khoa học pháp lý như lý luận chung nhà nước và pháp luật, xã
hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học,
những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo
và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt
Nam và nước ngoài.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân
tích và so sánh, phương pháp tổng hợp, thống kê đồng thời, việc nghiên cứu

5
đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của nhà nước và những giải thích
thống nhất có tính chất chỉ đạo thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình
sự của Tòa án nhân dân tối cao, các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương có
liên quan đến tội phá hoại chính sách đoàn kết, những số liệu thống kê, tổng
kết hằng năm trong các báo cáo của ngành Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và địa phương và các tài liệu vụ án hình sự trong thực tiễn
xét xử, cũng như thông tin trên mạng Internet
Trong quá trình nghiên cứu các phương pháp này được vận dụng một
cách linh hoạt và đan xen lẫn nhau để tạo ra kết quả nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự
Việt Nam nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống những vấn đề lý luận
và thực tiễn áp dụng đối với tội phá hoại chính sách đoàn kết ở cấp độ một
luận văn thạc sĩ luật học. Trong luận văn này, tác giả luận văn đã giải quyết
về mặt lý luận một số vấn đề sau:
1- Nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện những vấn
đề lý luận chung về tội phá hoại chính sách đoàn kết.
2- Hệ thống hóa lịch sử hình thành và phát triển của các quy phạm
pháp luật hình sự về tội phá hoại chính sách đoàn kết, từ đó rút ra những nhận

lượng tham gia đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần
thiết cho các nhà khoa học-luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như
phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình
sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục,

7
cải tạo người phạm tội ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Tội phá hoại chính sách đoàn kết trong Bộ luật hình sự
năm 1999 và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy
định Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phá hoại chính sách đoàn kết.


9
của Người. Người đã sử dụng khoảng 2.000 lần cụm từ "đoàn kết", "đại đoàn
kết" trong các văn bản viết. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn kết toàn dân
tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng.
Sau khi giành được độc lập dân tộc, tại nhiều hội nghị, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh sức mạnh của đoàn kết:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công!"
Năm 1951, Hồ Chí Minh thay mặt đảng tuyên bố trước toàn thể dân
tộc nhân buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam: "Mục đích của Đảng Lao
động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ
quốc". Như vậy, đoàn kết toàn dân là một đường lối lãnh đạo của đảng.
Không dừng lại ở việc xác định đại đoàn kết là mục tiêu, Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn khẳng định nhiệm vụ của toàn Đảng là giữ gìn sự đoàn kết. Trong
Di chúc, người dặn lại chúng ta: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý
báu của đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần
phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình" [23].
Nước ta là một cộng đồng gồm 54 dân tộc anh em. Ngay từ những
ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã nói: "Đồng bào Kinh hay Thổ,
Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu
số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống
chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Giang sơn và Chính
phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt
chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta". Dân tộc Việt Nam được
hiểu là người dân Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở Việt Nam và những
người Việt sinh sống, làm ăn ở nớc ngoài có gốc gác là người Việt Nam,
không phân biệt họ là dân tộc thiểu số hay đa số, họ theo hoặc không theo tín
ngỡng, tôn giáo, không phân biệt họ giàu hay nghèo, họ là nam hay nữ, già


11
chăm lo cho họ "phần xác" no ấm, "phần hồn" vui vẻ; các cơ sở thờ tự của các
tôn giáo như đình chùa, miếu mạo, thánh thất, nhà thờ phải được tu sửa, bảo vệ.
Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân rộng rãi nhưng phải xác định lực
lượng nào là nền tảng của khối đại đoàn kết. Người chỉ rõ: "Đại đoàn kết tức
là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là
công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc
của đại đoàn kết".
Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc chính là mặt trận dân tộc thống
nhất. Mặt trận là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi
người dân nước Việt trong nước và ngoài nước phấn đấu vì mục tiêu chung là
độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn mọi người phải khắc
phục đoàn kết xuôi chiều, hình thức, đoàn kết thiếu đấu tranh với những mặt
tốt. Người viết: "Đoàn kết thật sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập
trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu
tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê
bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân". Người cổ vũ mọi người vào mặt
trận Việt Minh: dân ta phải nhớ chữ đồng: "đồng tình, đồng sức, đồng lòng,
đồng minh".
Là tổ chức chính trị to lớn nhất, cách mạng nhất, Đảng lãnh đạo xây
dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất đồng thời cũng là một thành viên của Mặt
trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận trước hết bằng việc xác định chính sách mặt trận
đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng ta có chính sách Mặt trận
dân tộc đúng đắn, cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn kết và yêu
nước rất vẻ vang của dân tộc ta".
Đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại đoàn kết quốc tế và là cơ sở cho
việc thực hiện đoàn kết quốc tế. Ngược lại, đại đoàn kết quốc tế là một nhân


13
Học tập tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định: "Đoàn
kết là truyền thống quý báu và bài học lớn của cách mạng nước ta"
.
. Đại hội ix
của Đảng nhấn mạnh: "Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp
của các dân tộc". Những thành tựu nước ta gặt hái được trong những năm qua,
với sự phát triển về kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, có điều
kiện tiên quyết từ chiến lược đoàn kết các dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đoàn kết thể hiện qua những vấn đề sau:
1- Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp,
thành phần, mọi giới, mọi lứa tuổi, người trong Đảng và người ngoài Đảng,
người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình
dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay định cư ở nước ngoài.
2- Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu
nước và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, chủ
quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời tôn trọng những điểm
khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; xóa bỏ mặc cảm, định
kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần
cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai.
3- Củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt
trận tổ quốc trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức.
4- Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ
trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng. Thực hiện dân chủ trên tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội v.v ở tất cả các cấp các ngành [55].

sách đoàn kết như sau: Tội phá hoại chính sách đoàn kết là những hành vi

15
tuyên truyền, kích động hoặc bằng thủ đoạn khác chia rẽ sự đoàn kết thống
nhất toàn dân, đoàn kết dân tộc, tôn giáo, đoàn kết quốc tế, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chống
chính quyền nhân dân.
1.1.2. ý nghĩa của việc ghi nhận tội phá hoại chính sách đoàn kết
trong Luật hình sự Việt Nam
Qua nghiên cứu tội phá hoại chính sách đoàn kết trong luật hình sự
Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số ý nghĩa cơ bản của việc ghi nhận tội
danh này trong luật hình sự như sau:
Thứ nhất, việc ghi nhận tội phá hoại chính sách đoàn kết tạo cơ sở
pháp lý quan trọng cho cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung
và tội phá hoại chính sách đoàn kết nói riêng.
Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phá hoại chính sách đoàn kết là một
bộ phận của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung nhằm bảo vệ sự
tồn tại và vững mạnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Lực lượng tham gia cuộc đấu tranh này không chỉ là một cá nhân, cơ quan, tổ
chức, công dân nhất định mà là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, của toàn
xã hội. Đây là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Nghị quyết ix Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: "Tăng cường quốc
phòng, giữ vững an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu
thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân". Để làm thất bại mọi âm mưu
chống phá sự nghiệp xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của các
thế lực thù địch, bên cạnh những nhiệm vụ kinh tế, mở rộng dân chủ, tăng
cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, còn phải thực hiện chính
sách đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự hiện hành, các cơ quan áp
dụng pháp luật căn cứ vào quy định của luật để tiến hành xử lý nghiêm minh

17
thiện pháp luật hình sự, tiến tới mục tiêu chung xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Từ khi đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường và xu
thế hội nhập quốc tế hiện nay, diễn biến của tình hình tội phạm nói chung,
cũng như tình hình các tội phạm phá hoại chính sách đoàn kết có những diễn
biến phức tạp và có xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về
tính chất, hậu quả ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của nước ta trên trường quốc
tế. Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo
loạn, lật đổ hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân tộc. Chúng triệt
để lợi dụng khó khăn của các địa bàn trọng điểm, vùng tập trung đồng bào tôn
giáo, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; lợi dụng
mặt trái của nền kinh tế thị trờng và những sơ hở, thiếu sót, yếu kém của ta
trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội để chống phá, xuyên tạc đường lối của
Đảng, Nhà nước ta và kích động, lôi kéo quần chúng. Trước những âm mưu,
thủ đoạn thâm độc này, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động xây dựng và triển
khai các đối sách đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả, giữ vững ổn định chính trị,
phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một trong những chiến lược quan trọng đó là
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Do
vậy, việc quy định tội phá hoại chính sách đoàn kết trong pháp luật hình sự
Việt Nam đã một phần đáp ứng được yêu cầu này trong giai đoạn hiện nay.
Thứ tư, việc ghi nhận tội phá hoại chính sách đoàn kết trong pháp luật
hình sự còn mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc.
Những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong
những năm vừa qua đã tạo cơ sở và niềm tin cho các thế hệ đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Việc quy
định tội phá hoại chính sách đoàn kết là một trong các tội xâm phạm an ninh


phụ thuộc vào ý chí chủ quan của vua hay các viên quan đứng đầu khu vực.
Mặc dù chưa có tài liệu chứng minh pháp luật thời kỳ này đã quy định tội
phá hoại chính sách đoàn kết hay chưa? nhưng các nhà sử học đã ghi lại
trong thời kỳ này, Đinh Bộ Lĩnh rất nghiêm khắc với những hành vi phản lại
hoặc trái với vua, quan quân triều đình (vua thời kỳ này được coi là con trời)
và quy định hình phạt rất nghiêm khắc, tương ứng với những hành vi mà
Vua và những quan lại coi là trái phép: "Người nào trái phép sẽ bị bỏ vạc
dầu hay cho hổ ăn".
Thời vua Lê Đại Hành vẫn giữ nguyên hình phạt và cách thức thi hành
các hình phạt đó. Theo lời sớ của Tổng Cảo, thì cách xử tội của Lê Hoàn như
sau: "Tả hữu có lỗi nhỏ cũng giết đi hoặc đánh từ 100 đến 200 roi. Bọn giúp
việc, ai hơi có điều gì làm phật ý cũng bị đánh từ 30 đến 50 roi, truất làm tên
gác cổng, khi hết giận lại gọi về làm chức cũ". Có điều thời kỳ này chúng ta
chưa thể xác định đã có luật thành văn hay chưa.
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, thời kỳ này, quyền thống trị
của giai cấp phong kiến đã được xác lập, tổ chức cai trị có quy củ hơn. Để củng
cố quyền hành của mình, ổn định tình hình xã hội, năm 1042, Lý Thái Tông đã
xuống chiếu ban hành bộ Hình thư, gồm có 03 quyển, nhằm tránh sự tùy tiện của
các quan khi xét xử, tránh cho dân chúng bị xét xử oan sai. Đây là Bộ luật hành
văn đầu tiên nước ta, nhưng rất tiếc hiện nay bộ Hình thư không còn nữa. Theo tác
giả Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, dưới thời Lý, chế định về "Thập
ác tội" đã được công nhận trong luật, trong đó có quy định về tội mưu phản, tội
đại mưu nghịch, nhưng nội dung như thế nào thì chúng ta không nắm bắt được.
Dưới thời Trần, có hai bộ luật được ban hành dưới thời vua Trần Thái
Tông và Trần Dụ Tông có tên gọi là Hình Luật thư, nhưng cũng như Hình thư
thời nhà Lý, hai bộ luật nhà Trần cũng bị thất lạc, cho nên chúng ta cũng
không thể biết về từng điều khoản của hai bộ luật đó. Tuy nhiên, nhìn chung
pháp luật hình sự nước ta thời kỳ này đã từng bước hình thành và phát triển.

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status