Tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HẢI TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010


Hà nội - 2010 Mục lục
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Mở đầu
1

Ch-ơng 1: Các vấn đề chung về tội gây rối trật tự
công cộng trong luật hình sự Việt Nam
7
1.1.
An toàn công cộng, trật tự công cộng với t- cách là khách thể

1985 đến tr-ớc pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự
năm 1999
37 Ch-ơng 2: Tội gây rối trật tự công cộng theo quy
định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
và thực tiễn xét xử
47
2.1.
Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999
47
2.1.1.
Một số điểm mới sửa đổi, bổ sung
47
2.1.2.
Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội gây rối trật tự công cộng
55
2.1.3.
Hình phạt
66
2.2.
Thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng
69
2.2.1.
Nhận xét chung
69
2.2.2.
Tình hình xét xử tội gây rối trật tự công cộng

Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể
112
3.3.
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về tội gây rối trật tự công cộng
114

3.3.1.
Tăng c-ờng công tác h-ớng dẫn, giải thích các quy định của
Bộ luật hình sự trong t-ơng quan với các văn bản pháp luật
khác về hành vi gây rối trật tự công cộng
114
3.3.2.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
115
3.3.3.
Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp
luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và xét xử nghiêm
minh tội gây rối trật tự công cộng
121
3.3.4.
Giải pháp mang tính nghiệp vụ, chuyên ngành, quản lý hành
chính về trật tự xã hội
124
3.3.5.
Giải pháp tăng c-ờng đời sống, cơ sở vật chất, trang thiết bị,
công cụ hỗ trợ cho cán bộ, chiến sĩ, ng-ời thi hành công vụ và
trách nhiệm của đội ngũ làm công tác thi hành công vụ, bảo
vệ an toàn, trật tự xã hội
128

31
2.1
Các nhóm quan hệ xã hội đ-ợc Bộ luật hình sự Việt Nam
bảo vệ
56
2.2
Tổng số vụ, số bị cáo phải xét xử và tổng số vụ, số bị cáo
đã xử về tội gây rối trật tự công cộng trên tổng số vụ án,
số bị cáo đ-a ra xét xử trong 10 năm (2000-2009)
76
2.3
Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội gây rối trật
tự công cộng trong 10 năm (2000-2009)
77
2.4
Tổng số vụ án, số bị cáo do Tòa án xét xử về tội gây rối
trật tự công cộng trong t-ơng quan với các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng trong 10 năm (2000-2009)
78
2.5
Tổng số vụ án, số bị cáo do Tòa án xét xử về tội gây rối
trật tự công cộng trong t-ơng quan với tội phá rối an ninh,
tội giết ng-ời, tội cố ý gây th-ơng tích, tội đua xe trái
phép và tội chống ng-ời thi hành công vụ trong 10 năm
(2000-2009)
80

2.6
Về hình phạt và các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình
sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo bị Tòa án xét xử về

Hiện nay, tội phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng nói riêng và đặc biệt là tội gây rối trật tự công cộng trên các
thành phố, khu đô thị, thị xã lớn đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, tuy
loại tội phạm này không có tính nguy hiểm cao so với các loại tội phạm khác
nhưng nó có tính phổ biến, đa dạng hình thức và có ảnh hưởng không nhỏ đến
tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Tội phạm này thể hiện ở chỗ - hành vi
gây rối trật tự công cộng xâm phạm nghiêm trọng các quan hệ xã hội trong
lĩnh vực công cộng, gây tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
nước và công dân, hành vi này được thực hiện công khai và thường ở những
nơi đông người, biểu hiện ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của

2
Nhà nước. Hình thức biểu hiện của hành vi gây rối thường là: Hành hung,
đánh lộn, đập phá, gây lộn xộn ở nơi đông người, tụ tập đi xe máy tốc độ cao,
lạng lách, đánh võng, gây huyên náo đường phố và ngày càng có xu hướng
gia tăng, kèm theo đó là các hành vi hủy hoại tài sản, chống người thi hành
công vụ, cố ý gây thương tích, thậm chí là giết người; v.v Qua các số liệu
thống kê chính thức được thu thập từ các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án
trong cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn cho thấy, diễn biến của loại hành
vi và tội phạm này ngày càng phức tạp (ví dụ: vụ án gây rối trật tự công cộng
và hủy hoại tài sản tại 178 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội năm 2008; vụ án đua
xe trái phép và gây rối trật tự công cộng tại quận Hoàng Kiếm, Hà Nội năm
2009), với nhiều hình thức vi phạm và phạm tội khác nhau, trong đó đáng báo
động là số lượng những người phạm tội tham gia ngày một đông hơn, trẻ hơn
và trong độ tuổi học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ cao (ví dụ: vụ án gây rối trật
tự công cộng tại Đồng Nai năm 2009 với 46 bị cáo; vụ án gây rối trật tự công
cộng và hủy hoại tài sản tại tỉnh Phú Yên năm 2006 với 37 bị cáo; vụ án giết
người và gây rối trật tự công cộng tại thành phố Đà Nẵng năm 2007 với 18 bị
cáo; v.v ). Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2005 đến năm 2008,
tổng số vi phạm pháp luật hình sự trong học sinh, sinh viên khoảng hơn 8.000

1) GS.TS. Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm)", do GS.TSKH. Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2003.
2) GS.TS. Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần các tội phạm)", do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2001.
3) GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam", (Tập II), do GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2010.

4
4) TS. Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng, Trong sách: "Luật hình sự Việt Nam" (Quyển 2 - Phần các
tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
5) TS. Trương Quang Vinh, Bình luận các điều 241 đến 256, Trong
sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999" (tái bản có
sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
6) TS. Trần Minh Hưởng (chủ biên), TS. Đỗ Đức Hồng Hà, TS. Trịnh
Tiến Việt và tập thể tác giả, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành", Nxb
Lao động, Hà Nội, 2010.
7) TS. Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2002.
8) TS. Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999", Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Tội gây
rối trật tự công cộng trong luật hình sự Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh
phòng, chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học
pháp lý như: lịch sử, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật
hình sự, tội phạm học và triết học, những luận điểm khoa học trong các công
trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí trong và
ngoài nước.

6
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học
luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học, phương pháp so
sánh, đối chiếu, phương pháp điều tra án điển hình để phân tích các tri thức
khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ - tác giả
đã làm rõ các vấn đề chung tội gây rối trật tự công cộng trong luật hình sự
Việt Nam, phân tích khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy
định trong luật hình sự nước ta về tội phạm này từ năm 1945 đến nay, phân
biệt tội phạm này với một số tội phạm khác hay có sự nhầm lẫn trong thực
tiễn; làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội gây rối trật
tự công cộng và thực tiễn xét xử (2000-2009), qua đó chỉ ra nguyên nhân của
thực trạng này và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp
khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội gây
rối trật tự công cộng ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận

là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta năm 1991 đã viết: "Kết hợp lực
lượng chuyên trách, nửa chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật với
phong trào quần chúng. Kết hợp biện pháp phòng ngừa, giáo dục là cơ bản
với trấn áp, trừng trị các loại tội phạm " [20, tr. 17]. Thực hiện nhiệm vụ
quan trọng này, trước tiên phải xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,
bảo đảm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, "pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp
luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý Pháp chế có mối quan hệ chặt
chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai,
không một người nào có bất kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật " [1, tr.
100-102].
Sau nữa, phải tổ chức được mọi tầng lớp nhân dân cùng các cơ quan bảo
vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tham gia vào cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, trật tự

9
công cộng, an toàn xã hội đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp
luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội.
Đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
phải kể đến luật hình sự với tư cách là một ngành luật duy nhất trong hệ thống
pháp luật của Nhà nước quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là
các tội phạm và danh mục hình phạt và các biện pháp pháp lý hình sự cần áp
dụng đối với những người đã thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội đó.
Luật hình sự đã xác định các khách thể cần được xác lập và bảo vệ trong Điều 1
Bộ luật hình sự. Do đó, với tư cách là khách thể quan trọng được luật hình sự
bảo vệ, đòi hỏi phải làm rõ hai phạm trù "an toàn công cộng" và "trật tự công
cộng".

phạm "an toàn công cộng, trật tự công cộng" đều gây nên những thiệt hại
nhất định cho cuộc sống bình thường của công dân cần thiết phải bị xử lý, tùy
theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm mà áp dụng hình
thức xử lý khác nhau từ xử phạt hành chính đến xử lý hình sự.
Có thể nói, ngay từ khi giành được chính quyền, bên cạnh việc bảo vệ
thành quả cách mạng, Đảng và Nhà nước ta cũng quan tâm đến việc bảo vệ an
toàn công cộng, trật tự công cộng không chỉ bằng việc ban hành hàng loạt các
văn bản có liên quan đến lĩnh vực này, mà còn có những biện pháp thiết thực
để đưa các văn bản đó vào thực tiễn cuộc sống. Hiến pháp Việt Nam năm
1992 đã nhấn mạnh: "Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của
Nhà nước và lợi ích công cộng" (Điều 78) và "Công dân có nghĩa vụ tuân
theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an
toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc của sinh hoạt
công cộng" (Điều 79). Nói một cách khác, tôn trọng và bảo vệ "an toàn công
cộng, trật tự công cộng là một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá sự
ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả
năng quản lý của các cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được ý
thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân" [31, tr. 439].

11
Đặc biệt, ngày 31/7/1998, Chính phủ ban hành Nghị quyết số
09/1998/NQ-CP về Tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình
hình mới; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg
phê duyệt Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm. Qua năm năm thực
hiện các văn bản trên, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng: từng
bước nâng cao nhận thức của toàn xã hội về trách nhiệm đấu tranh phòng,
chống tội phạm; tạo lập cơ chế phối hợp đồng bộ, phát huy được sức mạnh
tổng hợp của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng,
chống tội phạm; từng bước kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, làm
giảm một số loại tội phạm nghiêm trọng; giữ vững an ninh chính trị và trật tự

phạm. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu tội phạm học và khoa học phòng,
chống tội phạm. Nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, nghiên cứu dự
báo tình hình tội phạm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ".
Để bảo vệ "an toàn công cộng, trật tự công cộng" với tư cách là khách
thể quan trọng được luật hình sự xác lập và bảo vệ, ngay từ Bộ luật hình sự
đầu tiên của nước ta năm 1985, nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng được xếp chung tại Chương VIII: "Các tội xâm phạm an toàn, trật
tự công cộng, trật tự quản lý hành chính" với ba nhóm quan hệ xã hội được
luật hình sự xác lập và bảo vệ - an toàn công cộng, trật tự công cộng và trật tự
quản lý hành chính. Quá trình áp dụng pháp luật cho thấy, các tội phạm được
quy định ở chương này có các khách thể loại khác nhau. Các tội xâm phạm an
toàn công cộng, trật tự công cộng xâm phạm vào những quy định, quy tắc bảo
đảm an toàn, trật tự trong cuộc sống của mọi công dân. Còn các tội xâm phạm
trật tự quản lý hành chính xâm phạm vào hoạt động bình thường của cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội. Mặt khác, nhóm các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng chiếm số lượng lớn nhất so với các loại tội phạm ở các
chương khác Bộ luật hình sự, do đó, cần phải tách riêng nhóm tội xâm phạm
an toàn công cộng, trật tự công cộng với nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý
hành chính. Vì vậy, Bộ luật hình sự năm 1999 quy định Chương XIX - "Các
tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" để làm cơ sở pháp lý để

13
truy cứu trách nhiệm hình sự những người có hành vi xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, qua đó gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của tổ
chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến
các hoạt động bình thường, ổn định của xã hội và nơi công cộng.
Trong khi đó, xét riêng dưới góc độ khoa học, quan điểm về khái niệm
"các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" mặc dù còn nhiều ý
kiến khác nhau, song tựu trung lại tổng hợp các quan điểm đó vẫn thống nhất
trong việc nêu ra bản chất pháp lý của nhóm tội phạm này.

những quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công
cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức,
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm
đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng [31, tr. 439].
Quan điểm này nêu tương đối đầy đủ nội dung, trong đó nhấn mạnh
thêm việc các hành vi xâm phạm đến cả "hoạt động bình thường ở những nơi
công cộng, nhưng trong dấu hiệu chủ thể của nhóm tội phạm này còn chưa nêu
dấu hiệu "đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự" như quan điểm đã nêu trên, vì đây là
một dấu hiệu hoàn toàn khác với dấu hiệu "có năng lực trách nhiệm hình sự".
Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự, các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những
người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về
an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà
nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, đồng
thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công
cộng.
Từ khái niệm này, chúng ta có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là những
hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an

15
toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà
nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, đồng
thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công
cộng.
Hai là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội do những người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện.
Ba là, các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được những

[62, tr. 244], [85, tr. 401], đều căn cứ vào sự phân loại các nhóm tội phạm
theo Bộ luật hình sự năm 1999 (từng nhóm quan hệ xã hội mà một nhóm tội
phạm xâm phạm đến) để thống nhất chia thành các tội xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự công cộng thành hai nhóm chính như sau:
* Nhóm thứ nhất - Các tội xâm phạm an toàn công cộng. Nhóm tội
phạm này rất đa dạng trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội về xâm
phạm đến các quy định về an toàn công cộng như: các quy tắc của đời sống xã
hội, ở những nơi công cộng trên các lĩnh vực giao thông vận tải (đường sắt,
đường bộ, đường thủy, đường không), trong lao động sản xuất, quản lý vũ
khí, chất cháy, chất nổ; v.v Việc quy định những vấn đề này nhằm bảo đảm
an toàn tài sản của Nhà nước, của tổ chức, an toàn về tính mạng, sức khỏe và
tài sản của công dân, bảo đảm sự bình yên, ổn định của xã hội.
Nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng bao gồm 47 tội danh
trong Bộ luật hình sự năm 1999 (có 04 tội danh được bổ sung theo Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự ngày 19/6/2009 của Quốc hội),
cụ thể là: 1) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ (Điều 202); 2) Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203); 3) Tội đưa vào sử
dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn (Điều 204);
4) Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương
tiện giao thông đường bộ (Điều 205); 5) Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206);
6) Tội đua xe trái phép (Điều 207); 7) Tội vi phạm quy định về điều khiển

17
phương tiện giao thông đường sắt (Điều 208); 8) Tội cản trở giao thông đường
sắt (Điều 209); 9) Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường sắt
không bảo đảm an toàn (Điều 210); 10) Tội điều động hoặc giao cho người
không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt (Điều 211);
11) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy
(Điều 212); 12) Tội cản trở giao thông đường thủy (Điều 213); 13) Tội đưa vào
sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn (Điều

định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 234); 38) Tội thiếu
trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm
trọng (Điều 235); 39) Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ (Điều 236); 40) Tội vi phạm quy định về
quản lý chất phóng xạ (Điều 237); 41) Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (Điều 238); 42) Tội vi phạm
quy định về quản lý chất cháy, chất độc (Điều 239); 43) Tội vi phạm quy định về
phòng cháy, chữa cháy (Điều 240); 44) Tội vi phạm quy định về an toàn vận
hành công trình điện (Điều 241); 45) Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa
bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác
(Điều 242); 46) Tội phá thai trái phép (Điều 243) và; 47) Tội vi phạm quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm (Điều 244).
* Nhóm thứ hai - Các tội xâm phạm trật tự công cộng. Nhóm tội phạm
này cũng đa dạng và xâm phạm đến các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực
trật tự công cộng, là các quy định ở những nơi công cộng như nhà ga, bến xe, rạp
hát, công viên, đường phố hay những nơi tập trung đông dân cư có liên quan đến
nếp sống văn minh, quy tắc chung mà mọi người đều biết, nhận thức và thừa
nhận.
Các tội xâm phạm trật tự công cộng bao gồm 12 tội danh quy định
trong Bộ luật hình sự năm 1999, cụ thể là: 1) Tội gây rối trật tự công cộng
(Điều 245); 2) Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (Điều 246); 3) Tội hành
nghề mê tín, dị đoan (Điều 247); 4) Tội đánh bạc (Điều 248); 5) Tội tổ chức
đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 249); 6) Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
người khác phạm tội mà có (Điều 250); 7) Tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do
phạm tội mà có - nay tội phạm này đổi tên thành tội rửa tiền (Điều 251); 8)
Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều

Trích đoạn Sự cần thiết phải hoàn thiện cỏc quy định của Bộ luật hỡnh sự Việt Nam về tội gõy rối trật tự cụng cộng nghĩa của việc hoàn thiện cỏc quy định của Bộ luật hỡnh sự Việt Nam về tội gõy rối trật tự cụng cộng HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HèNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CễNG CỘNG Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HèNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CễNG CỘNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status