Thủ tục giải quyết các vụ án đối với người chưa thành niên (trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Bình Dương) - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ HUỲNH NGỌC THỦY
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN
ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG)

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm

Em xin trân trọng đón nhận tất cả những lời chỉ bảo, góp ý của quý Thầy Cô
để bản luận văn của em cơ bản đƣợc hoàn chỉnh hầu giúp bản thân em có thêm
nhiều kiến thức mới áp dụng cho thực tiễn công tác sau này.
Xin cảm ơn Ba Mẹ đã nuôi dạy con thành nhân.
Xin cảm ơn Quý Thầy Cô đã bồi dƣỡng em thành ngƣời có kiến thức.
Ngƣời ta vẫn bảo: “Công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy” là mãi mãi, là vô tận.
Thêm một lần nữa xin đƣợc gửi đến Ba Mẹ và Thầy Cô trọn vẹn niềm biết
ơn sâu sắc cùng với tâm nguyện sẽ tiếp tục phấn đấu sao cho Ba Mẹ, Thầy Cô luôn
đƣợc an lòng, toại nguyện…
MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT
CÁC VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 5
1.1. KHÁI NIỆM 5
1.1.1. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên 5
1.1.2. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội 6
1.1.3. Khái niệm thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên 10
1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN ĐỐI
VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 12
1.2.1. Vai trò của thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên
trong Tố tụng Hình sự 12

2.2.4. Quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn đối với ngƣời chƣa
thành niên phạm tội 49
2.2.5. Quy định của pháp luật về giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án ngƣời chƣa thành niên phạm tội 54

Chƣơng 3: THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 66
3.1. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA
THÀNH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG 66
3.1.1. Đặc điểm tình hình 66

3.1.2. Số liệu thống kê tình hình giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành
niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn 2008–2012 [40] 66
3.1.3. Một số số liệu thống kê khác 69
3.1.4. Phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa
thành niên trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn 2008 đến 2012 trên
cơ sở số liệu thống kê 70
3.1.5. Minh họa 02 bản án giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên
phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng (chỉ trích lược các nội dung
minh họa cụ thể cho thực tiễn xét xử các vụ án người chưa thành niên
trên địa bàn tỉnh Bình Dương) 75
3.1.6. Một số khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự
để giải quyết các vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên trên địa bàn
tỉnh Bình Dƣơng 85
3.2. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ CÁC GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 90
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật Tố tụng Hình sự về thủ tục giải quyết các vụ án
đối với ngƣời chƣa thành niên 90
3.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục giải quyết vụ án đối


1. Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhƣng tình hình tội phạm vẫn
có chiều hƣớng gia tăng, diễn biến phức tạp, trong đó có tội phạm do ngƣời chƣa
thành niên thực hiện. Trong quá trình giải quyết vụ án do ngƣời chƣa thành niên gây
ra, ngoài quy định chung còn phải tuân theo các quy định khác của pháp luật dành
cho ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã dành
một “Chƣơng” quy định thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên làm
cơ sở cho các hoạt động tố tụng.
Hiện nay, những quy định về thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa
thành niên là một “Chƣơng” quan trọng nhất của Luật Tố tụng Hình sự. Những quy
định này đã cụ thể hóa chính sách Tố tụng Hình sự, các nguyên tắc nhân đạo, dân
chủ, tôn trọng, bảo đảm quyền con ngƣời trong Tố tụng Hình sự.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (BLTTHS
2003) cho thấy một số quy định về thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa
thành niên, ở những mức độ khác nhau đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định
hoặc chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu xét xử công bằng, dân chủ đối với vụ án mà bị
can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên. Mặt khác, công tác giải thích, hƣớng dẫn áp
dụng pháp luật Tố tụng Hình sự, trong đó có các quy định về thủ tục tố tụng đối với
ngƣời chƣa thành niên phạm tội chƣa đầy đủ, chƣa kịp thời dẫn đến việc nhận thức
của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng chƣa thống nhất, gây khó
khăn cho hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn giải quyết vụ án đối với ngƣời
chƣa thành niên.
Mặc dù là vấn đề quan trọng, ảnh hƣởng không những đối với việc tiến hành
tố tụng mà còn tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhƣng việc nghiên
cứu về các vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết các vụ án đối với ngƣời chƣa
thành niên chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Cho đến nay vẫn còn có những nhận
thức khác nhau xung quanh các quy định về thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời
2



với ngƣời chƣa thành niên phạm tội theo pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam,
đồng thời cũng đề cập đến một số quy phạm của Bộ luật Hình sự nhằm giải quyết
nhiệm vụ và đối tƣợng nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu của đề tài dựa trên những
quy định về Tố tụng Hình sự kể từ khi nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đƣợc
thành lập từ năm 1945 đến nay. Nhƣng trong giai đoạn trƣớc đây, những vấn đề
liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án đối với tội phạm là ngƣời chƣa thành niên
chƣa đƣợc đề cập cụ thể. Do vậy, trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp
luật liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội,
đề tài tập trung nghiên cứu những quy định về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa
thành niên trong Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam năm 2003. Bên cạnh đó, đề tài
còn kết hợp phân tích, đối chiếu, so sánh với quy định thủ tục tố tụng đối với
ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong pháp luật Tố tụng Hình sự một số nƣớc
khác để tham khảo trong quá trình nghiên cứu.
Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật Tố tụng Hình sự Việt Nam đối với ngƣời chƣa thành niên và thực tiễn xét xử
đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng giai đoạn từ
năm 2008 đến năm 2012.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp thống kê
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp
- Phƣơng pháp so sánh, mô tả.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu có hệ thống những quy định về thủ tục giải quyết vụ
án đối với ngƣời chƣa thành niên trong pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam.
Những kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhƣ sau:
5.1. Về mặt lý luận
Đề tài là kết quả nghiên cứu chuyên khảo, đề cập đến việc phân tích có hệ


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC
VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN

1.1. KHÁI NIỆM
1.1.1. Khái niệm ngƣời chƣa thành niên
Thuật ngữ pháp lý sử dụng phổ biến cách gọi “thành niên” và “chưa thành
niên” để chỉ ngƣời ở những lứa tuổi nhất định. Đó là cách phân loại con ngƣời theo
độ tuổi ngƣời lớn và trẻ em, ngƣời lớn tuổi và ngƣời ít tuổi. “Người thành niên” là
ngƣời thuộc lứa tuổi đã trƣởng thành, cũng đƣợc gọi là ngƣời lớn, thanh niên, trung
niên… “Người chưa thành niên” là ngƣời thuộc tuổi trẻ, chƣa thực sự trƣởng thành
về thể chất và tinh thần.
Tuy nhiên, việc quy định ranh giới độ tuổi thành niên và chƣa thành niên còn
chƣa thống nhất giữa các quốc gia và trong các lĩnh vực xã hội. Điều đó là do điều
kiện phát triển kinh tế – xã hội, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực
có khác nhau. Trong Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989
có quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp
dụng đối với trẻ em đó đã có quy định độ tuổi thành niên sớm”.
Các văn bản khác nhƣ Quy tắc Bắc Kinh (1985), hƣớng dẫn Riat (1990)…
cũng đều thống nhất quan điểm quy định ngƣời chƣa thành niên, trẻ em là những
ngƣời chƣa đến 18 tuổi. Trong khi đó, một số văn kiện của một số tổ chức thuộc
Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì quy định
trẻ em là những ngƣời dƣới 15 tuổi.
Ở Việt Nam, cũng chƣa có sự quy định thống nhất về lứa tuổi trẻ em và
ngƣời chƣa thành niên.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp
luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là
người chưa đủ 18 tuổi”

khi nói tới ngƣời chƣa thành niên phạm tội chỉ đƣa ra một khái niệm gián tiếp thông
qua việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
7

Theo Điều 12 Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên mới
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16
tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Theo Điều 68 Bộ Luật Hình sự năm 1999 cũng quy định: “Người chưa thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy
định của Chương này.”
Ở nƣớc ta, pháp luật hình sự quy định ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu
trách nhiệm hình sự. Trong độ tuổi này, ngƣời chƣa thành niên đã bắt đầu phát triển
nhanh về tâm sinh lý. Họ đã có thể tự ý thức đƣợc hành vi của mình, ý thức đƣợc
phần nào việc gì đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm.
Thuật ngữ “Người chưa thành niên phạm tội” đề cập đến vấn đề vừa mang ý
nghĩa về phƣơng diện đạo đức, pháp lý mà còn có ý nghĩa về phƣơng diện thực tế,
thống kê. Trong thực tế, còn nhiều tồn tại vƣớng mắc gây tranh cãi khi xác định một
cá nhân có phải là ngƣời chƣa thành niên phạm tội hay không. Trƣớc hết, phải kể
đến khó khăn vƣớng mắc trong việc xác định độ tuổi của một ngƣời khi thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những trƣờng hợp không rõ ràng về ngày,
tháng, năm sinh. Thứ hai, là khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà ngƣời chƣa thành niên thực hiện có phải là tội phạm hay không phải là tội
phạm, vì rất khó phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Ví dụ: Tội trộm cắp tài sản, thì Khoản 1 Điều 138 Bộ Luật Hình sự năm
1999 quy định “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết
án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ Luật không
trái với quy định của Chương này”.
Theo Điều Luật trên, về nguyên tắc, khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình
sự của ngƣời chƣa thành niên phạm tội phải căn cứ trƣớc hết vào các quy định của
chƣơng X phần chung, đồng thời cũng phải vận dụng các quy định khác của Phần
9

chung Bộ Luật Hình sự nhƣ: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử
lý, các quy định về tội phạm, về hình phạt… nhƣng khi vận dụng các quy định đó
thì không đƣợc trái với những quy định của chƣơng X Bộ Luật Hình sự này.
Nhƣ vậy, theo điều luật này, thì pháp luật hình sự Việt Nam không buộc
ngƣời dƣới 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà họ thực hiện có
những dấu hiệu của tội phạm cụ thể đƣợc quy định trong Bộ Luật Hình sự. Những
ngƣời trong lứa tuổi này nói chung không có năng lực trách nhiệm hình sự, họ
chƣa có ý thức về hành vi phạm pháp. Cá biệt có em tuy dƣới 14 tuổi nhƣng đã
sớm có ý thức tƣơng đối đầy đủ về các hành động sai trái, nhất là về các hành
động có tính chất nguy hiểm lớn cho xã hội. Tuy nhiên, đối với các em đó việc áp
dụng các biện pháp cƣỡng chế hành chính có tính chất giáo dục nhƣ biện pháp
giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn hoặc biện pháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng, thì
vừa đạt yêu cầu cải tạo các em đó, đồng thời lại thỏa mãn đƣợc yêu cầu phòng
ngừa chung. Nếu đƣa các em dƣới 14 tuổi ra xử lý về hình sự sẽ không có lợi cho
bản thân các em đó và cho xã hội. Mặt khác, thực tế cho thấy các em dƣới 14 tuổi
thực hiện các hành vi có dấu hiệu của tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc
biệt nghiêm trọng cũng không nhiều.
Mặc dù ngƣời từ đủ 14 tuổi đến chƣa đủ 16 tuổi là ngƣời đã có năng lực
trách nhiệm hình sự, nhƣng thực tiễn xét xử cho thấy năng lực trách nhiệm hình sự
của họ còn rất hạn chế. Do vậy, ngƣời chƣa thành niên trong độ tuổi này chỉ đƣợc
coi là có năng lực trách nhiệm hình sự trong những trƣờng hợp nhất định. Thông
thƣờng, ngƣời chƣa thành niên có thể nhận thức đƣợc tính chất của một số hành vi
gây nguy hiểm cao cho xã hội nhƣ: giết ngƣời, cố ý gây thƣơng tích, hiếp dâm,

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, để xác định chính xác tuổi của ngƣời
chƣa thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải căn cứ vào giấy khai sinh
và những tài liệu cần thiết khác. Trƣờng hợp ngƣời bị bắt, ngƣời bị tạm giữ, bị can,
bị cáo lúc phạm tội chƣa đủ 18 tuổi, nhƣng khi phát hiện đƣợc tội phạm họ đã đủ 18
tuổi thì không áp dụng thủ tục này.
Điều 301 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định về phạm vi áp dụng
của thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên: “Thủ tục tố tụng đối với người bị
11

bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo
quy định của Chương này đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này
không trái với những quy định của Chương này”
So với quy định trƣớc đây (Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 1988), quy định về
thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm
2003 đã mở rộng đối tƣợng áp dụng không chỉ đối với bị can, bị cáo mà còn áp
dụng cả đối với ngƣời bị bắt và ngƣời bị tạm giữ. Về phạm vi áp dụng cũng đƣợc
xác định rõ, đối với ngƣời chƣa thành niên ngoài việc áp dụng những quy định của
chƣơng XXXII Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2003, khi tiến hành tố tụng cơ quan
có thẩm quyền còn phải chú ý áp dụng những quy định khác của Bộ Luật Tố tụng
Hình sự không trái với những quy định của Chƣơng này.
Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành
niên nhƣ trên là nhằm mục đích sau đây:
– Khắc phục những thiếu sót trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
– Đƣa ra những biện pháp xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội phù hợp với
những quy định của pháp luật.
– Kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cƣỡng chế và giáo dục, thuyết phục,
tạo ra những điều kiện cần thiết để ngƣời chƣa thành niên biết sửa chữa những sai
lầm, sớm cải tạo trở thành ngƣời lƣơng thiện, có ích cho xã hội.
– Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngƣời chƣa thành niên.
Nhƣ vậy, “Thủ tục giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên theo pháp

nghĩa chính trị, xã hội cao và đồng thời có hiệu quả giáo dục. Chỉ khi có những hiểu
biết nhất định về tâm lý ngƣời chƣa thành niên cùng với kinh nghiệm đấu tranh
phòng, chống tội phạm của ngƣời chƣa thành niên, ngƣời tiến hành tố tụng mới có
thể xác định đƣợc hƣớng tiếp cận và tác động tâm lý, tạo đƣợc lòng tin và thái độ
hợp tác, cầu thị từ phía ngƣời chƣa thành niên trong hoạt động tố tụng. Điều này
không chỉ đƣợc quy định trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự của nƣớc ta mà còn đƣợc
quy định ở Luật Tố tụng Hình sự của hầu hết các nƣớc trên thế giới. Bên cạnh đó,
13

quy chế Bắc Kinh cũng chỉ rõ: “Ở thành phố lớn cần thành lập những đơn vị cơ sở
đặc biệt chuyên giải quyết những trường hợp liên quan tới người chưa thành niên”.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 302 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2003, thì
khi tiến hành tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên, yêu cầu đặt ra là Điều tra viên,
Kiểm sát viên, Thẩm phán phải là những ngƣời có hiểu biết cần thiết về tâm lý học,
khoa học giáo dục, cũng nhƣ về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của
ngƣời chƣa thành niên chứ không nhất thiết phải là những ngƣời đƣợc đào tạo về
lĩnh vực đó. Thực tế ở nƣớc ta hiện nay cũng chƣa có cơ quan tiến hành tố tụng
chuyên trách để điều tra, truy tố và xét xử đối với ngƣời chƣa thành niên.
Đối với Hội thẩm khi tham gia xét xử những vụ án mà bị cáo là ngƣời chƣa
thành niên, Luật không quy định phải có những điều kiện trên, nhƣng trong Hội
đồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn Thanh
Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.
Thật vậy, nghiên cứu để tìm hiểu những đặc điểm về tâm lý lứa tuổi ngƣời
chƣa thành niên là một hoạt động không thể thiếu đối với ngƣời tiến hành tố tụng.
Nhìn một cách tổng quát ngƣời chƣa thành niên thuộc lứa tuổi đang ở giai đoạn
hoàn thiện cả về thể chất và nhân cách. Đây là thời kỳ phát triển nhanh của các yếu
tố thể chất và tâm lý. Các nhà tâm lý học gọi đây là “giai đoạn quá độ” từ nhân
cách của trẻ em đến nhân cách của ngƣời lớn.
● Về đặc điểm sinh lý
Ở độ tuổi chƣa thành niên, các em bắt đầu phát triển nhanh về chiều cao,

- Đang ở giai đoạn sắp bƣớc vào tuổi ngƣời lớn.
- Nhận thức xã hội khá hơn nhóm trƣớc nhƣng vẫn chƣa tách khỏi gia đình.
- Kinh tế còn phụ thuộc vào gia đình
Theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999, tuổi bắt đầu phải chịu trách
nhiệm hình sự là 14 tuổi tròn tùy theo những loại tội khác nhau. Khi đủ 16 tuổi tròn
thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Do đặc điểm lứa tuổi ngƣời
chƣa thành niên khác với ngƣời thành niên nên Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình
sự có những quy định riêng biệt đối với trƣờng hợp ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
15

1.2.1.2. Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
* Trẻ em chƣa đủ 14 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự (không bị
truy tố, đƣa ra xét xử) về bất kỳ hành vi nào, kể cả trƣờng hợp hành vi đó có dấu
hiệu phạm tội và gây ra hậu quả chết ngƣời.
* Ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi phạm tội phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với những điều kiện đặc biệt hơn
so với ngƣời đã trƣởng thành (từ đủ 18 tuổi trở lên).
* Ngƣời chƣa thành niên phạm tội có thể đƣợc miễn trách nhiệm hình sự nếu
phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình
tiết giảm nhẹ và đƣợc gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.
* Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với ngƣời
chƣa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tƣ pháp đƣợc
quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999 nhƣ sau:
– Giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Tòa có thể áp dụng từ 01 đến 02 năm
đối với trƣờng hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Ngƣời đƣợc giáo
dục phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, dƣới sự giám sát,
giáo dục của chính quyền cấp xã và tổ chức xã hội đƣợc Tòa án giao trách nhiệm.
– Đưa vào trường giáo dưỡng: Tòa có thể áp dụng biện pháp từ 01 đến
02 năm nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân
và môi trƣờng sống của ngƣời đó mà cần đƣa ngƣời đó vào một tổ chức giáo dục

có sự tham gia của ngƣời giám hộ (cha mẹ). Ngƣời đƣợc giao nhiệm vụ giám sát có
nghĩa vụ giám sát chặt chẽ ngƣời chƣa thành niên, theo dõi tƣ cách, đạo đức và giáo
dục ngƣời đó.
* Quyền bào chữa
Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ngƣời chƣa
thành niên có thể lựa chọn ngƣời bào chữa hoặc tự mình bào chữa.
Trong trƣờng hợp bị can, bị cáo hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ không
lựa chọn đƣợc ngƣời bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu
cầu Đoàn Luật sƣ phân công, cử ngƣời bào chữa cho họ.
* Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức
Đại diện của gia đình ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, thầy cô giáo, đại diện
17

của nhà trƣờng, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh… có quyền và nghĩa vụ
tham gia tố tụng theo quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Trƣờng hợp ngƣời bị tạm giữ, bị can là ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi hoặc là
ngƣời chƣa thành niên có nhƣợc điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì việc lấy lời
khai, hỏi cung phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trƣờng hợp cố ý vắng mặt
không có lý do chính đáng; tại phiên tòa xét xử phải có mặt đại diện của gia đình bị
cáo, trừ trƣờng hợp cố ý vắng mặt không có lí do chính đáng.
* Quy định về xét xử
Thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm nhân dân là giáo viên
hoặc là cán bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh. Trong trƣờng hợp cần
thiết, Tòa án có thể quyết định xử kín.
Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải quyết định hình phạt đối với bị
cáo, thì Tòa áp dụng một trong những biện pháp tƣ pháp.
* Chấp hành hình phạt tù
Không đƣợc giam giữ chung ngƣời chƣa thành niên với ngƣời thành niên.
Ngƣời chƣa thành niên bị kết án phải đƣợc học nghề hoặc học văn hóa trong
thời gian chấp hành hình phạt tù. Nếu ngƣời chƣa thành niên đang chấp hành hình

Quyền trẻ em” và “Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em”
Xuất phát từ cơ sở lý luận của chính sách hình sự đƣợc ghi nhận trong Công
ƣớc về quyền trẻ em “Trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ cần được bảo vệ”
là: chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trƣớc cũng nhƣ sau
khi ra đời. Đồng thời, Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định tại điều 71: “Công
dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng,
sức khỏe, danh dự và nhân phẩm….” Pháp luật Hình sự Việt Nam đã đặt ra những
nguyên tắc riêng khi xử lý hành vi phạm tội của ngƣời chƣa thành niên. Các quy định
về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên có những điểm khác biệt so với thủ
tục tố tụng hình sự áp dụng đối với ngƣời thành niên phạm tội. Chính sách hình sự
của Nhà nƣớc Việt Nam đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự là nhằm giúp đỡ,
cải tạo, giáo dục để ngƣời chƣa thành niên nhận ra sai lầm, từ đó sửa chữa những sai
lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hòa nhập cuộc sống.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status