Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: KHÁI NIỆM TRI THỨC BẢN ĐỊA
6
1.1.
Khái niệm tri thức bản địa
6
1.2
Đặc điểm tri thức bản địa
11
1.3.
Biểu hiện của tri thức bản địa
13
1.3.1.
Bảo hộ nguồn gen

và tri thức truyền thống
36
2.1.2.
Vấn đề thực thi quyền ở nước ngoài - nguyên tắc đối xử
quốc gia
38
2.1.3.
Vấn đề chia sẻ lợi ích trong việc sử dụng và khai thác tri
thức bản địa
39
2.2.
Luật quốc tế về bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền
thống, gen và các hình thức thể hiện văn hóa dân gian
42
2.2.1.
Bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền thống
42
2.2.2.
Bảo hộ các hình thức thể hiện văn hóa dân gian
43
2.2.3.
Bảo hộ tri thức bản địa về tiếp cận nguồn gen, bảo tồn và
chia sẻ lợi ích từ gen
46
2.2.3.1.
Bảo hộ tri thức bản địa về gen thông qua cơ chế cấp patent
48
2.2.3.2.
Bằng chứng về nguồn gốc hoặc về tiếp cận trong quá trình
xử lý đơn yêu cầu cấp Bằng sáng chế- patent

71
3.1.4.
Bảo hộ và chia sẻ lợi ích từ tri thức truyền thống
76
3.1.5.
Bảo tồn nguồn gen và bản quyền tri thức truyền thống về
nguồn gen
79
3.2.
Một số kiến nghị xung quanh việc bảo hộ và chia sẻ lợi ích
tri thức truyền thống bằng pháp luật ở Việt Nam
85

KẾT LUẬN
90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92 1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Tri thức truyền thống được khai thác trên phạm vi toàn cầu hàng ngàn
năm nay và được cộng đồng quốc tế nghiên cứu nhằm tìm kiếm các công cụ
pháp lý để bảo vệ từ những năm bẩy mươi của thế kỷ trước. Cho đến nay, đây
vẫn là chủ đề gây tranh luận không chỉ trên bình diện quốc gia mà còn ở các
diễn đàn quốc tế.
Tri thức bản địa được hiểu là là những kinh nghiệm được duy trì và

sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của
nhân loại.
Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính
trị về bảo vệ môi trường trong thời k đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiệ n đạ i
hóa đất nước vì mục tiêu ph át triể n bề n vữ ng , bảo tồn thiên nhiên và đa dạng
sinh học là mộ t trong ba n hiệ m vụ trọ ng tâm củ a công tá c bả o vệ môi t rườ ng
(bên cạ nh cá c nhiệ m vụ phò ng ngừ a và kiể m soá t ô nhiễ m , cải thiện và nâng
cao chấ t lượ ng môi trườ ng ). Đây là những định hướng rất cần thiết giúp
chúng ta có những quan tâm đặc biệt về việc tận dụng những tri thức truyền
thống, kết hợp với tri thức bên ngoài để phát triển kinh tế. Đồng thời, những
định hướng trên cũng làm cơ sở cho chúng ta xây dựng cơ chế bảo hộ vốn tri
thức truyền thống, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Về mặt luật
pháp, mặc dù chưa có luật chuyên ngành về quản lý và khai thác tri thức
truyền thống, tuy nhiên chúng ta đã bắt đầu quy định việc bảo hộ nguồn tri
thức này thông qua các luật chuyên ngành như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005,
Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đa dạng sinh học năm 2007, Luật Bảo vệ môi
trường năm 2005… Nhận thấy tầm quan trọng và để đóng góp cho những
nghiên cứu về tri thức truyền thống, cách thức bảo hộ pháp lý trong việc sử
dụng và chia sẻ lợi ích từ khai thác tri thức truyền thống, tôi đã lựa chọn đề

3
tài: "Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật quốc tế và
pháp luật Việt Nam"
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
So với các đối tượng được bảo hộ pháp lý của luật sở hữu trí tuệ, bảo
hộ tri thức bản địa mới được đưa ra nghiên cứu trong những năm gần đây.
Các nghiên cứu xuất hiện nước ta hiện nay thể hiện ở những góc độ khác
nhau và được trình bày dưới dạng các bài báo khoa học, chuyên đề, báo cáo
tổng kết… Có thể kể tới các nghiên cứu này như: Mối quan hệ giữa văn hóa
và môi trường, tài liệu dự án "Tri thức bản địa về môi trường" của Bùi Văn

và thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này nhằm đưa ra những
kiến nghị giải pháp cụ thể xây dựng pháp luật về bảo hộ tri thức bản địa ở
nước trong thời k hội nhập.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn là:
- Đưa ra khái niệm, cách hiểu, đặc điểm của tri thức bản địa, những
vấn đề pháp lý liên quan tới tri thức bản địa như nguyên lý pháp lý của bảo hộ
tri thức bản địa, mối quan hệ giữa bảo hộ tri thức bản địa và pháp luật về sở
hữu trí tuệ.
- Tình hình pháp luật quốc tế về bảo hộ tri thức bản địa thông qua quy
định của các định chế quốc tế lớn như WTO, WIPO, UNESCO và thực tế quy
định bảo hộ tri thức bản địa của một số các quốc gia.
- Thực trạng về pháp luật bảo hộ tri thức bản địa Việt Nam, những
kiến nghị của học viên về giải pháp bảo hộ.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài rộng nên trong luận văn học viên không thể đề cập
hết những vấn đề cụ thể mà chỉ tập trung vào những phần chính mà tác giả
cho là quan trọng nhất.

5
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm tri thức bản địa.
Chương 2: Những biện pháp bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa
trong pháp luật quốc tế.
Chương 3: Bảo hộ và chia sẻ lợi ích tri thức bản địa trong pháp luật
Việt Nam.

7
cầu của của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến những thế hệ tiếp theo.
Tri thức bản địa lúc này được nhìn nhận lại và được xem như một trào lưu
mới được tất cả các quốc gia phát triển và đang phát triển hưởng ứng. Nguồn
tri thức này lại càng được chú tâm trong các chương trình nghị sự của các
quốc gia với nhau khi họ nhận ra tầm quan trọng của nó với vai trò là cơ sở
cho những sáng tạo kế tiếp của các ngành khoa học hiện đại mang lại giá trị
cao cho kinh tế quốc gia như ngành y dược học, ngành nông nghiệp, văn học
nghệ thuật…
Vậy tri thức bản địa là gì? Khi nói tới tri thức bản địa chúng ta cần
hiểu rõ khái niệm "bản địa". Đây là khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và
mang tính tương đối. Ví dụ: Trong Công ước số 169 của Tổ chức Lao động
quốc tế, để chỉ: Người dân ở những nước độc lập được coi là những thổ dân
căn cứ theo nguồn gốc của họ có từ cư dân sinh sống tại nước đó, hay tại một
khu vực địa lý nhất định của nước đó, vào thời khi mà đất nước này bị xâm
chiếm hay bị làm thuộc địa hay vào lúc bắt đầu hình thành biên giới hiện nay
của quốc gia này, và là những người không kể địa vị pháp lý của họ thế nào,
vẫn giữ lại một vài hoặc tất cả thể chế chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của
riêng họ.
Tuy nhiên, cũng có những cách hiểu khác, ví dụ, trong một quốc gia,
nhiều khi những tộc người thiểu số được gọi là bản địa. Trên phạm vi toàn
cầu, đôi khi người ta gọi những dân tộc có lịch sử sinh sống lâu đời trên một
vùng đất là dân tộc bản địa. Như vậy, người Việt có thể được coi là dân bản
địa ở phương diện thế giới, những không được coi là dân tộc bản địa trong
phạm vi quốc gia.
Nói tới tri thức bản địa hay người bản địa là nói đến quá trình lịch sử
cộng cư, chia sẻ văn hóa và những kinh nghiệm đời sống sản xuất đi kèm với
nó, mang tính đặc thù địa phương. Tri thức bản địa là một dạng tri thức truyền
thống, gắn liền với kinh nghiệm trong sinh hoạt và ứng xử với môi trường của


9
lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống, được phát triển thường xuyên
để thích nghi với môi trường biến đổi [76].
Về tên gọi và đối tượng của nguồn tri thức trên, luật một số nước cũng
có những quan điểm khác nhau. Về tên gọi thường các nước gắn tên của nguồn
tri thức này với đặc điểm nó có thế là "tri thức truyền thống kết hợp", "Tri
thức bản địa" hoặc "tri thức tập thể" Tuy nhiên, về đối tượng và nội dung
của tri thức này thường là những kinh nghiệm của cộng đồng bản địa, có giá
trị thực tiễn, có liên quan tới yếu tố văn hóa, đa dạng sinh học, nguồn gen
hoặc phương pháp, quy trình, sản phẩm hay là danh pháp… Cá biệt có quốc
gia quy định cụ thể phạm vi của nguồn tri thức này như một sản phẩm thuộc
phạm vi của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm sáng chế, mẫu hữu ích, các bản vẽ
và kiểu dáng, các sáng tạo trong các bức đồ họa, số liệu, biểu tượng, tranh ảnh
minh họa, đá cổ được trạm khắc…
Ví dụ: Luật của Brazil, Luật số 2 Điều 7. 186-16/2001 định nghĩa: Tri
thức truyền thống kết hợp (Associated Traditional Knowledge) là những
thông tin hoặc kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân hoặc tập thể thuộc một
cộng đồng bản địa hoặc địa phương, có giá trị thực tiễn hoặc tiềm tàng và
gắn liền với tài sản nguồn Gen.
Luật của Panama, Luật số 20 quy định: Tri thức truyền thống bao gồm
sáng chế, mẫu hữu ích, các bản vẽ và kiểu dáng, các sáng tạo trong các bức
đồ họa, số liệu, biểu tượng, tranh ảnh minh họa, đá cổ được trạm khắc, và
các sản phẩm khác; các yếu tố văn hóa liên quan tới lịch sử, âm nhạc, nghệ
thuật và các hình thức thể hiện truyền thống.
Luật của Peru, Điều 2 Luật số 27811 định nghĩa: Tri thức tập thể
(Collective Knowledge) là các tri thức được tích lũy, được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác, được những nhóm người và cộng đồng bản địa phát triển,
liên quan đến các tính chất, việc sử dụng và đặc tính của đa dạng sinh học.


11
nhưng sẽ không hiệu quả cho việc bảo hộ cụ thể. Chính vì thế mà WIPO đã
đưa khái niệm bảo vệ tri thức truyền thống song song với khái niệm Bảo vệ
và chia sẻ lợi ích từ Gen và Bảo vệ các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian.
1.2. ĐẶC ĐIỂM TRI THỨC BẢN ĐỊA
- Tính cộng đồng
Theo học viên thì đây chính là một trong những đặc trưng cơ bản và
quan trọng nhất của tri thức truyền thống hay tri thức bản địa. Để tồn tại,
những người dân bản địa đã tự tìm cho mình những cách tồn tại. Từ sản xuất
tới sinh hoạt văn hóa cá nhân hay cộng đồng. Đây vừa là nét văn hóa riêng để
phân biệt với những nhóm người khác, đồng thời thể hiện tính phòng vệ cho
bản thân cộng đồng người của mình. Có thể chính vì mong muốn phòng vệ, lo
lắng thất thoát những giá trị của nguồn tri thức nên thông tin về tri thức này
thường được giữ gìn trong cộng đồng và chi một số người có chức sắc quan
trọng trong cộng đồng mới có quyền nắm giữ. Tri thức chỉ được tiết lộ nếu hai
bên, người truyền thông tin và người nhận thông tin đảm bảo những điều kiện
khắt khe mà cộng đồng đặt ra.
- Tính khoa học và trải nghiệm
Rất nhiều người và ngay cả những người bản địa tránh dùng từ "tri
thức truyền thống" bởi vì cụm từ "tri thức truyền thống" thường ám chỉ những
tri thức cũ, tĩnh tại và được truyền từ đời này sang đời khác mà không có sự
đánh giá, phê bình, thay đổi hay phát triển lên. Mặt khác, việc áp dụng thực tế
cho thấy tri thức truyền thống không phải là "khoa học" theo nghĩa thông
thường của bản thân một tri thức là luôn đòi hỏi phải có những sự liên tục
thách thức về kinh nghiệm và kiểm nghiệm. Hơn nữa thuật ngữ "tri thức
truyền thống" cũng thường được hiểu là liên quan tới "văn hóa" hay sự cổ
xưa. Tuy nhiên có thể chứng minh ngược lại chính sự tồn tại được của bản
thân mỗi kiến thức cho thấy tính trải nghiệm thông qua đời sống của mỗi kiến
thức. Đây có thể gọi là loại "khoa học bản địa".


13
Nam Á có các luật tục không săn bắt hay đánh cá trong mùa ăn chay, đó cũng
là mùa mà động vật hoang dã và các loài thủy sản sinh sản. Hoặc vì sao việc
cúng tế mùa lúa mới chỉ sử dụng các loại lúa trồng tại các mảnh đất nhỏ mà
không sử dụng lúa cao sản? Những quy định trên có ảnh hưởng gì tới việc bảo
tồn gen hay Văn hóa dân gian của các cộng đồng người này?
1.3. BIỂU HIỆN CỦA TRI THỨC BẢN ĐỊA
Như trên đã phân tích, việc xác định hay cố gắng đưa ra một khái niệm
cụ thể về tri thức bản địa là rất khó và có thể sẽ làm hạn chế phạm vi của tri thức
bản địa. Chính vì vậy rất cần thiết xác định những biểu hiện của tri thức bản địa.
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới phân loại tri thức bản địa bao gồm:
- Tri thức nông nghiệp;
- Tri thức khoa học;
- Tri thức kỹ thuật;
- Tri thức sinh thái;
- Tri thức về thuốc, bao gồm các bài thuốc và các phương pháp chữa bệnh;
- Tri thức liên quan tới đa dạng sinh học;
- Các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian dưới dạng âm nhạc, điệu
nhảy, các bài hát, hàng thủ công mỹ nghệ, các kiểu dáng, truyện và các tác
phẩm hội họa, các thành tố của ngôn ngữ như các tên, chỉ dẫn địa lý, các biểu
tượng, và các tài sản văn hóa khác.
Dưới góc độ xem xét quyền sở hữu trí tuệ, theo Tổ chức Sở hữu Trí
tuệ Thế giới (WIPO), việc bảo hộ những tri thức trên được chia thành ba
mảng chính [75]:
- Tiếp cận các nguồn Gen và chia sẻ lợi ích;
- Bảo vệ sự sáng tạo trong tri thức truyền thống;
- Bảo hộ biểu hiện của văn hóa dân gian.

14
Đây là ba biểu hiện quan trọng và có liên hệ mật thiết với nhau và với

hữu trong môi trường thông tin này như thế nào. Thông tin về việc sử dụng tại
chỗ các nguồn gen tạo cho con người có điều kiện tận dụng, phát triển tạo ra
những giá trị thặng dư ngày to lớn. Ví dụ: Từ một cây, người ta có thể sử
dụng với nhiều mục đích khác nhau, để uống nước từ quả, để làm thực phẩm
từ củ, để chữa bệnh từ dễ, lá, để sử dụng vào công nghiệp mỹ phẩm, công
nghiệp tạo giống hoa, công nghiệp hóa chất Tất cả những công dụng có thể
thấy từ việc sử dụng tại chỗ hay không tại chỗ đều tạo giá trị thương mại lớn
không thể phủ nhận nhất là khi khoa học kỹ thuật phát triển. Xa hơn nữa, hiện
nay gen còn liên quan tới những khái niệm về nhân quyền, nhân đạo, chủng
tộc khi khoa học đã vươn tới việc sử dụng gen người như thế nào, có gọi là
phát minh hay không khi tìm ra nó, sử dụng nó, biến đổi nó
1.3.2. Bảo hộ tri thức truyền thống
Tri thức truyền thống tồn tại ở tất cả các mặt của đời sống rất đa dạng
và phong phú. Tri thức truyền thống được hiểu là các hệ thống tri thức, các
sản phẩm sáng tạo, sáng kiến được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,
thường thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm người cụ thể hoặc một vùng
lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống. Tri thức truyền thống có thể đã
tồn tại trong một thời gian dài, luôn được phát triển thường xuyên để thích
nghi với môi trường thay đổi. Tri thức truyền thống có thể là sự hiểu biết các
yếu tố tự nhiên như các lớp khoáng chất, vị trí của di cư, chức năng chữa bệnh
của các cây trồng trong nước, tập quán quản lý đất đai hoặc kỹ thuật nông
nghiệp, gen và bảo tồn gen, các biểu hiện văn hóa
1.3.3. Bảo hộ các hình thức biểu hiện văn hóa dân gian
Thuật ngữ "các hình thức thể hiện văn hóa dân gian" đề cập đến các
sản phẩm chứa yếu tố đặc trưng của "di sản nghệ thuật truyền thống" được

16
phát triển và duy trì bởi một cộng đồng hoặc bởi các cá nhân phản ảnh sự
biểu thị nghệ thuật truyền thống của cộng đồng đó. Các hình thức thể hiện
văn hóa dân gian này có thể dưới dạng ngôn ngữ (như truyện dân gian); âm

văn hóa trên quy mô thế giới và là một xu thế tất yếu. Toàn cầu hóa là nguyên
nhân của các dòng chảy xuyên biên giới về thương mại, khoa học kỹ thuật,
thông tin, văn hóa… Những dòng chảy tạo nên sự kết nối và phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh tế và cả những cá nhân. Những tiến
bộ khoa học kỹ thuật khiến cho cả thế giới nhỏ lại chỉ còn như một ngôi làng -
"Global village" [58]. Phương tiện thông tin đại chúng là nguyên nhân sụp đổ
tất cả các rào cản về thời gian và không gian trong liên lạc và gắn kết giữa
con người với con người trong một thế giới.
Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật không chỉ nảy sinh sự hợp tác và
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia mà còn làm chúng ta tìm ra những
nguồn lực mạnh mẽ để phát triển. Ngày nay cái gọi là "biên giới" dường như
không còn nữa, người ta dễ dàng tìm kiếm thông tin về một địa danh hay
nguồn gốc của một loài thực vật cách họ hàng ngàn kilomet. Có thể họ chưa
từng tới đó, và cũng chưa từng được biết đến, nhìn thấy nhưng qua các
phương tiện liên lạc họ có thể có được quyền sở hữu và kiếm lợi hợp pháp từ
những sản phẩm này. Các nước đang phát triển vừa chỉ thức tỉnh khi các sản
phẩm trí tuệ bản địa - do người dân của mình tích lũy lâu đời bị các tập đoàn
đa quốc gia nhanh tay tuyên bố các sản phẩm đó thuộc quyền sở hữu của họ
thông qua các thiết chế pháp luật hiện thời. Ví dụ: Tại Texax, một công ty có
tên gọi là Rice Tec có bản quyền với cây lúa Basmati (trồng ở các vùng Ấn độ
và Pakistan) và đã tạo ra một loại lúa Basmati biến đổi Gen và bán nó như
một sản phẩm thông thường, và điều này không hề vi phạm pháp luật. Trước
đó, tháng 6 năm 2000, cũng về việc đăng ký bản quyền cho các sản phẩm địa
phương của mình, bốn trong số các bản quyền của các công ty Ấn Độ đã bị
rút bỏ vào tháng 6 năm 2000. Tiếp đó mười năm trong số hai mươi bản đăng
ký bản quyền đã bị Văn phòng Thương hiệu và bản quyền của Mỹ (US Patent

18
Trademark Office - USPTO) không chấp nhận do thiếu tính mới và độc đáo.
Vậy mà tháng 8 năm 2001, bằng sáng chế đã được trao cho công ty Rice Tec

nghiệm quý báu về thổ nhưỡng, thời tiết, những loại hình văn hóa nghệ thuật
cổ truyền đều có nguy cơ bị đánh cắp và thương mại hóa. Cho dù không
muốn thì toàn cầu hóa vẫn diễn ra và không thể ngăn cản. Chỉ có một cách
duy nhất là làm sao để có một cơ chế phù hợp bằng pháp luật duy trì và đảm
bảo lợi ích của các bên.
1.5. BẢO HỘ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TRI THỨC BẢN ĐỊA
Bảo hộ pháp lý đối với tri thức bản địa được hiểu trong luận văn này
là sự bảo hộ chống lại việc sử dụng trái phép của bên thứ ba (như sao chép,
phóng tác và sử dụng nhằm mục đích thương mại). Đây là một hình thức bảo
vệ hơn là bảo tồn (bảo tồn là bảo vệ tránh bị mất và mai một; bảo vệ là việc
tánh sử dụng trái phép hoặc sử dụng không được người khác cho phép), hình
thức này thể hiện chức năng chung của các hệ thống sở hữu trí tuệ, kể cả
trong lĩnh vực mà chúng ta đang nghiên cứu là tri thức truyền thống. Hiện tại
có hai hình thức bảo hộ pháp lý đối với tri thức truyền thống đó là bảo hộ
"tích cực" và bảo hộ "phòng vệ" [77].
Bảo hộ "tích cực": Là việc tri thức bản địa có được các quyền bảo vệ
của quyền sở hữu trí tuệ. Các quyền sở hữu trí tuệ đã được sử dụng nhằm tạo
ra sự bảo hộ tích cực chống lại:
- Việc khai thác nhằm mục đích thương mại trái phép đối với tri thức
truyền thống;
- Làm sai lệch, làm giảm giá trị hoặc sử dụng gây tổn hại về mặt văn
hóa của đối tượng này;
- Các chỉ dẫn có tính sai lệch hoặc lừa dối liên quan đến quan hệ giữa
người sử dụng tri thức truyền thống và các cộng đồng xuất xứ của tri thức
truyền thống;

20
- Không công bố nguồn gốc của vật liệu theo cách thức hợp lý;
- Bộc lộ trái phép các bí mật tri thức truyền thống.
Bằng cách ngăn cản việc sử dụng trái phép và trao quyền hợp pháp

Bảo hộ phòng vệ: Đây là việc sử dụng dữ liệu thống kê chính thức về
các loại tri thức bản địa nhằm loại trừ hoặc phản đối các quyền đối với các
sáng chế được yêu cầu bảo hộ mà có sử dụng trực tiếp từ tri thức bản địa này.
Ví dụ, bằng độc quyền với sáng chế được yêu cầu bảo hộ mà sử dụng hiển
nhiên tri thức truyền thống đã được biết đến một cách rộng rãi đã được một cơ
quan quản lý dữ liệu liệt kê, công nhận. Do vậy, việc thống kê, tư liệu hóa,
xây dựng dữ liệu về tri thức truyền thống là một biện pháp hữu hiệu để
thực hiện việc bảo hộ phòng vệ. Ví dụ: Hoa K, Niu Dilân và các nước thuộc
cộng đồng Andean đã làm rất hiệu quả biện pháp này.
1.6. NGUYÊN LÝ PHÁP LÝ BẢO HỘ TRI THỨC BẢN ĐỊA
Thứ nhất, có thể thấy rằng tri thức bản địa là một phần quan trọng
trong đời sống sinh hoạt và tiếp tục giữ một vai trò quan trọng trong cuộc
sống các cộng đồng người mặc dù có sự xuất hiện của khoa học kỹ thuật,
những khái niệm và chuẩn mực mới trong đời sống sinh hoạt người dân. Tuy
nhiên vai trò của tri thức truyền thống là không thể phủ nhận. Bản thân các
quốc gia phát triển không thể xây dựng hình ảnh của mình mà không gắn với
những giá trị tinh thần và vật chất từ tri thức truyền thống.
Thứ hai, chúng ta nên xem xét đó là những giá trị mà tri thức truyền
thống mang lại thực sự là kết quả của một quá trình sáng tạo. Tri thức truyền
thống không hoàn toàn là những gì cổ xưa và tĩnh tại mà thực sự là một quá
trình có kiểm nghiệm, sàng lọc và đúc rút kinh nghiệm qua nhiều thời gian,
nhiều thế hệ để có ích và phù hợp với cuộc sống. Những giá trị sáng tạo sẽ
phải được ghi nhận và bảo vệ như những thành quả sáng tạo khác của loài người.
Thực tế vấn đề là hàng trăm ngàn những bài thuốc cổ, các loại hình
nghệ thuật dân gian cổ được sử dụng, phát tán tuân thủ theo những tập quán

22
cũ và không ai nghi ngờ gì về ai là thủy tổ của các sản phẩm trên. Chắc chắn
lúc đầu là một người, một số người nắm giữ những bí quyết, nội dung hay
quy tắc của những sản phẩm tri thức trên và sau đó các sản phẩm trên được

Amazon về những phát hiện năm 1820 và 1944 như sau: Chúng tôi đã tìm ra
được lý do vì sao vỏ cây canh-ki-na lại rất tốt cho việc chữa trị chứng sốt vì
nó chứa thành phần một chất hóa học với một cấu trúc hóa học phức tạp phản
ứng với sắc đỏ của hồng cầu trong máu. Đó là chất ký-ninh. Người da đỏ chắc
sẽ đáp lại: Quả là thú vị đấy, bộ tộc của chúng tôi thì gọi là linh hồn thần k

23
của vỏ cây. Vậy người dân da đỏ kia có hiểu gì về ký-ninh không? Để họ miêu
tả chất lượng của vỏ cây dùng để chữa trị chứng sốt thì họ làm được dù có gọi
cái vỏ cây là gì đi chăng nữa. Dù gì thì nó cũng là một dạng vỏ cây dùng để
chữa trị chứng sốt. Tuy nhiên nếu hỏi về ký-ninh là gì, đưa cho anh ta xem
viên thuốc ký-ninh thì anh ta sẽ không thể biết thuốc kia được tổng hợp như
thế nào và cũng chẳng thể tưởng tượng được rằng viên thuốc kia chính là kết
quả của việc tổng hợp hóa học các hoạt chất từ vỏ cây canh-ky-na.
Kết quả của việc tìm ra thuốc ký-ninh đã làm cho các nhà kinh doanh
và sản xuất thuốc tân dược có được những khoản lợi nhuận khổng lồ - Khách
hàng tìm mua loại thuốc này là quân đội, dân chúng và có thể lại là những
người dân da đỏ vùng Amazon kia.
Bản chất vấn đề là sự đánh cắp hai lần thông qua việc chiếm dụng và
đăng ký bản quyền. Lần thứ nhất bởi vì nó để cho những sáng tạo và sáng kiến
bị đánh cắp. Bản thân cây lúa Basmati đã không còn là Basmati mà nó đã bị
biến đổi gen. Bản thân cây canh-ky-na có thể sẽ không còn là cây canh-ky-na
mà có thể đã bị đem đi phân tích và nuôi trồng đại trà để chế biến thuốc. Lần
thứ hai bị đánh cắp là quyền loại trừ tuyệt đối ghi nhận cho những bản quyền
đó đã khiến cho người bảo tồn, nắm giữ những tri thức bản địa mất đi mọi
quyền với tri thức đó, tri thức mà từ rất lâu họ dựa vào để sinh sống. Qua thời
gian, những bản quyền có thể sẽ tạo ra những nhà độc quyền có thể tăng giảm
giá sản phẩm có nguồn gốc từ tri thức bản địa. Có nghĩa rằng những người đã
từng phát hiện, tìm ra những công dụng, áp dụng, sử dụng và bảo tồn có hiệu
quả những vật chất trước đây lại là những người không được biết đến cả về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status