ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN THÔI Cơ chế quốc tế đảm bảo quyền con người LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
Luật quốc tế đối với việc bảo vệ quyền con ngƣời là không thể phủ
nhận song vấn đề đặt ra là việc áp dụng ,thực hiện Pháp luật quốc tế
đối với lĩnh vực nàynhƣ thế nào. Chính vì vậy việc nghiên cứu về bảo
vệ quyền con ngƣời dƣới góc độ Luật quốc tế là một việc làm cần
thiết mang tính nhân đạo sâu sắc.
Luận nhân quyền quốc tế là một lĩnh vực mới đƣợc quan tâm ở
Việt nam trong những năm gần đây. Chính vì vậy đi sâu tìm hiểu Cơ
chế quốc tế bảo đảm quyền con ngƣời là một việc làm có ý nghĩa đối
với lĩnh vực nghiên cứu và việc bảo vệ quyền con ngƣời trong Pháp
luật quốc tế nói chung và việc bảo vệ quyền con ngƣời ở Việt Nam
2
2 - Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Đánh giá dƣới góc độ tổng thể hoạt động của cơ chế bảo đảm
quyền con ngƣời vẫn còn hạn chế nhất định ,ảnh hƣởng đến việc bảo
vệ quyền con ngƣời .Do những vấn đề tồn tại này nên thái độ hời hợt
thiếu thiện chí,đối phó ,chống đỡ với việc bảo vệ quyền con ngƣời vẫn
tồn tại ở nhiều khu vực trên thế giới.Bên cạnh nhữn g hành vi cố tình
vi phạm hoặc làm ngơ không chú ý đến việc bảo vệ quyền con ngƣời
còn thấycó những hành vi lợi dụng lĩnh vực này để thục hiện những ý
đồ riêng .Hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con ngƣời quốc tế sẽ khắc
phục đƣợc tình trạng này,đó sẽ là cơ sở để quyền con ngƣời đƣợc tôn
trọng trên phạm vi toàn cầu. Đề tài có tham khảo nhiều quan điểm
khoa học trong lĩnh vực Luật quốc tế .Đề tài cũng tham khảo các vụ
việc có liên quan đến lĩnh vực này đang đƣợc dƣ luận quan tâm trên
thế giới hiện nay.Phƣơng hƣớng cách giải quyết của các cơ quan
chuyên môn của Liên hợp quốc cũng đƣợc tham khảo một cách kỹ
càng để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài.Những đánh giá ,kết
luật pháp quốc tế. Đề tài này cũng dựa trên những quan điểm của các
cơ quan chuyên trách và nhân quyền của Liên hợp quốc đồng thời kết
hợp với quan điểm của những nƣớc đang phát triển về vấn đề nhân
quyền.
Đề tài sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ: phân tích,
so sánh, tổng hợp
6- Những điểm mới của đề tài.
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về quyền con ngƣời.
-Lần đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về Cơ chế quốc
tế bảo đảm quyền con ngƣời tại Việt Nam
-Phân tích ,đánh giá chi tiết những đóng góp của Việt Nam đối
với Cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con ngƣời
7- Kết cấu.
Ngoài phần mở đầu gồm có 3 chƣơng.
4
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI
1. Bản chất quyền con ngƣời
1.1. Nguồn gốc quyền con ngƣời
Là những đặc tính tự nhiên vốn có của con ngƣời, từ khi sinh ra. Tuyên
ngôn nhân quyền thế giới 1948 có viết “Mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng về phẩm
giá và các quyền ”
Trong tuyên ngôn của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có ghi nhận: “Mọi ngƣời
Trải qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau quyền con ngƣời hiện
đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật
quốc gia trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền con ngƣời. Có thể nói rằng pháp
luật là công cụ hữu hiệu nhất bảo vệ quyền con ngƣời. Hệ thống luật quốc tế và
luật quốc gia càng hoàn thiện bao nhiêu thì việc bảo vệ quyền con ngƣời càng hiệu
quả bấy nhiêu. Giả sử ta cứ thừa nhận rằng quyền con ngƣời là một thuộc tính của
mỗi con ngƣời thể hiện giá trị và phẩm giá của mỗi con ngƣời nhƣng những giá trị
và phẩm giá này sẽ ra sao nếu thiếu sự bảo đảm nhằm bảo vệ cho những giá trị và
phẩm giá này. Nhìn lại lịch sử phát triển của loài ngƣời ta thấy rõ ràng đây là một
quá trình những phẩm giá của con ngƣời bị tƣớc đoạt. Con ngƣời sinh ra vốn đã
bình đẳng và có quyền đƣợc sống nhƣng sao con ngƣời lại trở thành những công
cụ biết nói vào thời chiếm hữu nô lệ, họ bị trà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần và có
thể bị tƣớc đoạt mạng sống bất cứ lúc nào. Trong thế kỷ XX những thành tựu khoa
học kỹ thuật đã đƣa nền văn minh loài ngƣời phát triển rực rỡ thì hàng triệu ngƣời
ở những nƣớc nghèo tại Châu Phi, Châu Á vẫn bị coi là nô lệ cho những ông chủ ở
những nƣớc đế quốc. Sự bình đẳng đƣợc coi là giá trị gắn liền với con ngƣời từ
khi sinh ra đã không còn kiên hữu trong xã hội những nƣớc thuộc địa và trên thân
phận ngƣời nô lệ. Sự phân biệt đối xử dựa trên mầu da và giới tính vẫn còn phổ
biến trên thế giới hiện nay. Những yếu tố kinh tế đã khiến sự bình đẳng và giá trị
con ngƣời hiện nay còn lại rất mơ hồ. Hàng loạt những vấn đề về quyền con ngƣời
vẫn xảy ra thƣờng xuyên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngay tại những
quốc gia giầu có và hùng mạnh nhất thế giới vẫn tồn tại những vấn đề về quyền
con ngƣời. Quyền con ngƣời là những thuộc tính, những giá trị cơ bản của con
ngƣời vậy thuộc tính và giá trị này phải đƣợc tồn tại nhƣ nhau ở các Châu Lục và
các quốc gia khác nhau. Có một điều hiển nhiên rằng quyền con ngƣời đã không
đƣợc tôn trọng nhƣ nhau tại những quốc gia khác nhau. Tại một số nƣớc theo đạo
6
7
hiện của việc công nhận giá trị con ngƣời của các thành viên trong xã hội. Con
ngƣời sinh ra trong tự do là bình đẳng không có áp bức chính vì vậy quyền con
ngƣời không đƣợc đƣa ra. Theo tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 thì mọi ngƣời
sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền thì xã hội nguyên thuỷ đã đạt đến
lý tƣởng này, một quan điểm thể hiện giá trị đích thực về quyền con ngƣời. Xã hội
nguyên thuỷ là một xã hội không có luật pháp cũng nhƣ các vấn đề về quyền con
ngƣời. Nhƣng có đầy đủ các yếu tố thể hiện giá trị cũng nhƣ các thuộc tính vốn có
của con ngƣời tồn tại trong xã hội nguyên thuỷ.
Cách nhìn nhận quyền con ngƣời là những giá trị tự nhiên vốn có của con
ngƣời chỉ có thể nói rằng quyền con ngƣời sinh ra không phải do pháp luật vì khi
không có pháp luật quyền con ngƣời vẫn đƣợc thực hiện một cách tự nhiên và con
ngƣời vẫn đƣợc tôn trọng những giá trị vốn có của mình.
Sau các lần phân công lao động xã hội nguyên thuỷ phát triển, giai cấp xuất
hiện. Cùng với sự xuất hiện của giai cấp, Nhà nƣớc và pháp luật đã ra đời. Vào
thời kỳ Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ nhiều bộ luật đã ra đời mà điển hình là luật
Hammurabi và luật la mã. Cùng với thời điểm này xuất hiện một số quan điểm, tƣ
tƣởng về quyền con ngƣời. Các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đề cập đến vai trò
của cá nhân đối với xã hội mà đặc biệt là vai trò của cá nhân trong việc quản lý xã
hội, chính trị đã trở thành vấn đề đầu tiên của cuộc tranh luật triết học trên phƣơng
diện quyền con ngƣời, vấn đề này còn theo mãi lịch sử phƣơng tây.
Do sự bất bình đẳng trong xã hội, thân phận của những ngƣời nô lệ bị đè
nén đến cùng cực, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm chống lại Nhà
nƣớc chủ nô. Năm 136 – 132 trƣớc công nguyên và cuộc khởi nghĩa 104 –99 trƣớc
công nguyên trên Đảng Xixin đã xảy ra hai cuộc khởi nghĩa lớn. Đáng chú ý hơn
là cuộc khởi nghĩa của Xpactacuxơ 73 – 71 trƣớc công nguyên. Những cuộc khởi
nghĩa trên chính là những cuộc đòi quyền bình đẳng và tự do của những ngƣời nô
năng hành động một cách có ý thức, né tránh từ chơi hoặc yêu cầu dành lấy những
gì để con ngƣời có thể tồn tại và phát triển trong môi trƣờng tự nhiên và xã hội.
Quyền con ngƣời còn tồn tại dƣới khả năng phản kháng, bảo vệ giá trị của con
ngƣời trong đời sống xã hội.
1.2. Quá trình phát triển quyền con ngƣời.
1.2.1. Giai đoạn xuất hiện các tư tưởng về quyền con người.
Quyền con ngƣời xuất hiện, tồn tại vận động gắn liền với quá trình phát
triển của xã hội loài ngƣời. Giai đoạn đầu tiên của quyền con ngƣời là giai đoạn
9
xuất hiện những tƣ tƣởng về quyền con ngƣời. Những khái niệm cơ bản về quyền
con ngƣời đƣợc xuất hiện đầu tiên dƣới hình thức triết học và sau đó đƣợc thể hiện
trong các đạo luật của các quốc gia từ thời cổ đại. Một số quan điểm cho rằng các
tƣ tƣởng về quyền con ngƣời khởi phát từ những nền văn minh rực rỡ thời cổ đại.
Trong giai đoạn này những tƣ tƣởng về quyền con ngƣời đƣợc đan xen dƣới
những hình thức khác nhau nhƣ tƣ tƣởng tôn giáo, tƣ tƣởng triết học và luật pháp.
Chế độ công xã thị tộc tan giã vào giai đoạn từ thế kỷ IX – VII trƣớc công
nguyên phƣơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ đã chứng tỏ đƣợc tính ƣu việt so
với thời kỳ trƣớc đó. Nền kinh tế Ai Cập thời kỳ cổ Vƣơng quốc có sự phát triển
mạnh nghề đóng thuyền và chăn nuôi, đặc biệt là trồng trọt có sự phát triển mạnh.
Do sự áp bức bóc lột của Pharaoxy và của các Chúa châu cuộc sống của nô lệ và
dân nghèo trở nên cơ cực vào thời kỳ Trung vƣơng quốc.
Một tác phẩm văn học đã ghi lại “Thần đói lảng vảng quanh túp lều tranh
của nông dân lao động nhọc nhằn cũng không đảm bảo cho họ đủ sống… Ngƣời ta
đánh đập họ không chút thƣơng tiếc… Và nếu họ có đi thƣa kiện thì họ cũng
không tìm đâu ra công lý…”. Nô lệ và đan nghèo đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh.
Trong một xã hội bất bình đẳng nhiều tƣ tƣởng triết học và tôn giáo về tự do bình
đẳng và công lý đã ra đời. Nhà tƣ tƣởng Aristốt cho rằng con ngƣời là một sinh vật
Hoper thì tất cả nhân dân đều đƣợc hình thành nhƣ nhau về khả năng, thể lực cũng
nhƣ trí tuệ. Liber cho rằng trong xã hội nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc quyền
lực thuộc về nhân dân. Nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân cần đƣợc thể hiện
thông qua các quyền khác mà Nhà nƣớc quy định cho nhân dân nhƣ quyền tự do
cá nhân, quyền sở hữu, quyền tự do tín ngƣỡng tự do xuất bản, buôn bán và tự do
hoạt động công nghiệp.
John Locke cho rằng trƣớc khi có Nhà nƣớc con ngƣời sống ở trạng thái tự nhiên,
ở trạng thái này mọi ngƣời có quyền tự do bình đẳng, tƣ hữu. Những quyền này
của con ngƣời là những quyền tự nhiên vĩnh cửu và bất di, bất dịch, không ai có
quyền huỷ bỏ nó. Trong số các quyền này thì quan trọng nhất là quyền tƣ hữu mà
nguồn gốc của nó là do lao động cuả các cá nhân. để ngăn ngừa sự lạm quyền của
Nhà nƣớc Moutesquieu cho rằng cần phân chia quyền lực Nhà nƣớc ra thành ba
loại chí ƣớc lẫn nhau đó là quyền luật pháp, hành pháp, hành pháp và tƣ pháp.
Quyền tự do bình đẳng của con ngƣời đã đƣợc thể hiện trong các văn bản pháp lý
quan trọng của giai cấp tƣ sản nhƣ giao luật của Anh về các quyền 1689, tuyên
11
ngôn độc lập của hợp chủng Quốc Hoa Kỳ. 1776, hiến pháp của hợp chủng quốc
Hoa Kỳ 1789, tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền.
Những tƣ tƣởng của thời kỳ này là thành quả của quá trình đấu tranh cho
nhân quyền từ khi xuất hiện Nhà nƣớc đồng thời đây cũng là kết quả của sự phát
triển về kinh tế xã hội. Giai cấp tƣ sản là những ngƣời phát động cuộc đấu tranh
cho nhân quyền.
Một điều hiển nhiên rằng giai cấp tƣ sản đã làm cuộc đấu tranh Cách mạng
và lợi ích của giai cấp mình nhƣng cũng phải khẳng định rằng những tƣ tƣởng và
thành công của Cách mạng tƣ sản đã đƣa quyền con ngƣời tiến thêm một bƣớc
quan trọng.
1.2.3. Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến trƣớc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, quyền con ngƣời đã có bƣớc
phát triển mới. ngày 24 – 10 – 1945 Liên hợp quốc ra đời và thông qua hiến
chƣơng Liên hợp quốc. Lời nói đầu của hiến chƣơng đã xác định “Phòng ngừa cho
những thế hệ tƣơng lai khỏi thảm hoạ chiến tranh đã hai lần xảy ra trong đời …”
Đồng thời hiến chƣơng cũng xác định và công nhận những giá trị của con ngƣời
… Tin tƣởng vào những quyền cơ bản nhân phẩm và giá trị con ngƣời ở quyền
bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các nƣớc lớn và nhỏ”
Tuyên ngôn nhân quyền đƣợc đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày
10 – 12 – 1948. Tuyên ngôn nhân quyền gồm 30 điều nhằm khẳng định quyền con
ngƣời trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Tiếp theo tuyên ngôn hàng loạt công ƣớc
đã ra đời trong đó hai công ƣớc về quyền dân sự chính trị và văn hoá xã hội là
những văn bản pháp lý quốc tế quan trọng bảo vệ quyền con ngƣời toàn diện nhất.
Sự phát triển quyền con ngƣời diễn ra rộng khắp trên các lĩnh vực, từ công
ƣớc loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc đến các công ƣớc xoá bỏ mọi hình
thức phân biệt đối với phụ nữ, công ƣớc về quyền trẻ em đã lần lƣợt ra đời. Bên
cạnh các công ƣớc còn có tuyên ngôn TeHeran 1968, Tuyên bố Viên và chƣơng
trình hành động 1993.
Có thể nói rằng từ sau chiến tranh thế giới 1945 đến nay quyền con ngƣời
có bƣớc phát triển mạnh mẽ. Từ những tƣ tƣởng đầu tiên về quyền con ngƣời xuất
hiện trong lịch sử nhân loại đến thời điểm này quyền con ngƣời đã đƣợc thống
nhất thành những quyền trong các văn bản pháp lý quốc tế và đã có một hệ thống
pháp luật quốc tế bảo vệ.
13
Nhân quyền hiện nay đƣợc xem là một trong năm vấn đề lớn mang tính
toàn cầu. Tuy đã có nhiều công ƣớc nhằm bảo vệ quyền con ngƣời song việc vi
phạm quyền con ngƣời vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Nếu so với nội
dung của các công ƣớc thực trạng vấn đề quyền con ngƣời vẫn quá xa so với nội
nặng tính hình thức.
Tuy đã có nhiều quy định trong hiến pháp và pháp luật nhƣng ngƣời dân
vẫn cảm thấy thiếu dân chủ. Việc đồng nhất quyền con ngƣời, quyền công dân đã
đơn giản vấn đề hoá quyền con ngƣời. Điều này đã tạo ra một khoảng trống trong
lĩnh vực quyền con ngƣời dẫn đến quyền con ngƣời không đƣợc quan niệm một
cách thoả đáng.
Từ nhiều thập kỷ qua tại các nƣớc Xã hội chủ nghĩa nhìn nhận quyền con
ngƣời nhƣ một luận điểm cuả chủ nghĩa tƣ bản nhằm chống lại các nƣớc XHCN.
Khái niệm nhân quyền đƣợc xem nhƣ thời kỳ giai cấp tƣ sản sử dụng ngọn cờ dân,
quyền chống lại Nhà nƣớc phong kiến. Trong nhận thức phổ biến của giới khoa
học pháp lý ở các nƣớc XHCN trƣớc đây cho rằng quan niệm về quyền con ngƣời
của thuyết pháp luật tự nhiên trƣớc đây là không có đặc tính pháp lý vì chỉ với tƣ
cách công dân của một quốc gia nhất định ghi nhận thì cá nhân con ngƣời mới có
quyền. Với cách hiểu này một thời gian dài con ngƣời không tồn tại trong khoa
học pháp lý và ngay cả trong nhận thức nói chung.
Do quan niệm về nền kinh tế XHCN, các quyền về kinh tế vẫn luôn đƣợc
coi trọng. Một quan điểm tồn tại trong khối các nƣớc XHCN là chỉ khi có các
quyền về kinh tế xã hội thì nhƣngx quyền dân sự chính trị mới đƣợc đảm bảo:
Việc đặt quyền kinh tế xã hội lên trên đã thể hiện quan điểm phiến diện khi xem
xét về nhân quyền và ngay cả quyền về kinh tế cũng không đƣợc đảm bảo nhƣ
quyền có nhà ở, quyền có việc làm. Trên thực tế những quyền về dân sự, chính trị
có trƣớc quyền về kinh tế xã hội. Nhóm quyền này có ảnh hƣởng trực tiếp đến đời
sống chính trị xã hội. Nhân quyền này đảm bảo cho sự phát triển tự do của con
ngƣời và đảm bảo nhu cầu tham gia vào các hoạt động chính trị xã hội do vậy
trong quan hệ với nhau việc ƣu tiên các quyền dân sự chính trị là cơ sở để cho các
quyền kinh tế xã hội đƣợc thực hiện.
2.1.2. Nội dung quyền con ngƣời, quyền công.
không bị giới hạn nhƣ quyền công dân có những ngƣời tuy không đƣợc hƣởng
16
những quyền của công dân nhƣ quyền bầu cử, ứng cử… Nhƣng vẫn đƣợc hƣởng
những quyền trên phƣơng diện là một thực thể tự nhiên xã hội.
Những nội dung của quyền công dân chịu ảnh hƣởng của quyền con ngƣời
một cách sâu sắc. Quyền công dân cần phải thể hiện đầy đủ những tƣ tƣởng giá trị
của quyền con ngƣời vi trƣớc khi nói đến quyền công dân, quyền con ngƣời cần
phải đƣợc xem là cơ sở trong cách đối xử với con ngƣời. Nếu quyền con ngƣời
không đƣợc bảo đảm sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến nội dung của quyền công dân.
Nhiều quyền sẽ không đƣợc bảo đảm cho các thành viên trong xã hội với tƣ cách
là công dân. Cũng có thể pháp luật có quy định nhƣng những quyền này không
đƣợc thực hiện do tình trạng chung của vấn đề quyền con ngƣời.
Chính vì vậy để đảm bảo quyền công dân trƣớc tiên cần phải nhìn nhận
quyền con ngƣời thật đúng đắn.
Quyền con ngƣời là những giá trị chung đƣợc cộng đồng quốc tế thừa nhận và cố
gắng bảo vệ. Năm 1948 đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua ban tuyên ngôn
nhân quyền toàn thế giới. Công ƣớc đã nêu ra các nguyên tắc có tầm khái quát nhƣ
sau:
Tất cả mọi ngƣời đều có quyền bình đẳng và không thể chuyển nhƣợng đó
là nền tảng của công lý và hoà bình trên thế giới.
Sự phủ nhận và coi thƣờng các quyền con ngƣời dẫn đến các hành vi man
dợ xúc phạm tới lƣơng tâm nhân loại.
Quyền con ngƣời phải đƣợc đảm bảo bằng pháp luật nếu không con ngƣời
phải nội dậy chống lại độc tài và áp bức.
Các công ƣớc quốc tế bảo vệ quyền con ngƣời nói chung, còn quyền công
dân do pháp luật của từng quốc gia bảo vệ. Bằng việc ban hành các văn bản pháp
luật quốc tế, cộng đồng quốc tế đã tác động tích cực vào lĩnh vực bảo vệ quyền
ngƣời, quyền công dân đƣợc quy vào hai dạng chủ yếu:
Quyền đƣợc đảm bảo những điều kiện xã hội để con ngƣời tồn tại xứng
đáng với con ngƣời bao gồm các quyền nhƣ quyền có việc làm, quyền đi lại, cƣ
trú, quyền an ninh, chính trị, quyền đƣợc tự do kết hôn, quyền bất khả xâm phạm
về thân thể, quyền sở hữu và thừa kế tài sản.
Quyền tự do các hoạt động sáng tạo bao gồm các quyền:
Quyền đƣợc học tập, nâng cao học vấn, quyền tự do chọn nghề nghiệp, quyền phát
minh sáng chí, quyền tự do ngôn luận, quyền phê bình chất vấn, quyền tự do bầu
của, ứng cử, tập hợp tín ngƣỡng và tôn giáo.
18
Theo khía cạnh pháp lý quyền con ngƣời đƣợc chia thành:
Các quyền tự do dân chủ chính trị: Quyền tham gia quản lý Nhà nƣớc, quyền bầu
cử, quyền ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do ngôn luận, báo chí,
quyền đƣợc thông tin, quyền đƣợc hội họp, lập hội, biểu tình , bãi công…
Các quyền dân sự bao gồm: Quyền tự do đi lại và cƣ trú trong nƣớc, quyền ra
nƣớc ngoài và từ nƣớc ngoài trở về, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền
đƣợc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, dân sự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về
chỗ ở, quyền đƣợc an toàn bí mật về thƣ tín, điện thoại, quyền khiếu nại tố cáo.
Các quyền về kinh tế xã hội bao gồm:
Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu hợp pháp và thừa kế
quyền đƣợc học tập, nghiên cứu phát minh, sáng chế, quyền đƣợc bảo vệ sức
khoẻ, quyền đƣợc bảo vệ hôn nhân và gia đình, những quyền mang tính chất ƣu
tiên là quyền trẻ em và quyền ngƣời già.
Ngoài ra quyền đƣợc phân biệt thành quyền phổ biến tuyệt đối và quyền
phổ biến tƣơng đối.
Quyền phổ biến tuyệt đối là quyền phải thực hiện ngay không điều kiện,
không có hạn chế đó là những quyền nhƣ:
chính trị còn bao gồm những quyền nhƣ: không bị bắt giữ làm nô lệ, quyền không
bị áp dụng các hình thức lao động cƣỡng bức. Tự do là một quyền đƣợc công ƣớc
bảo vệ, mỗi ngƣời đều có quyền đƣợc hƣởng tự do và an ninh cá nhân. Việc tƣớc
quyền tự do phải tuân theo những thủ tục luật pháp quy định. Không ai bị tƣớc
quyền tự do, nếu bị bắt giữ họ phải đƣợc thông báo những lý do bắt giữ. Mọi
trƣờng hợp bắt giam ngƣời đều phải đƣa ra xét xử tại một phiên toà. Trong trƣờng
hợp bị giam giữ bất hợp pháp các cá nhân có quyền yêu cầu bồi thƣờng. Những
ngƣời bị tƣớc quyền tự do phải đƣợc đối xử nhân đạo. Quyền tự do bao gồm các
quyền khác nhƣ: Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi cƣ trú. Mọi ngƣời đều có
quyền rời khỏi một quốc gia và họ có quyền trở về đất nƣớc mình.
Quyền bình đẳng cũng là một quyền cơ bản . Điều 14 công ƣớc có quy định
“Tất cả mọi ngƣời đều có quyền bình đẳng trƣớc toà án và các cơ quan tài phán”
“Ngƣời bị buộc là tội phạm hình sự có quyền đƣợc coi là vô tội cho tới khi tội của
ngƣời đó đƣợc chứng minh theo pháp luật. Một ngƣời bị coi là phạm tội luật sƣ có
quyền đƣợc thông báo bằng ngôn ngữ họ hiểu về lý do buộc tội đƣợc xét xử tại
phiên toà, đƣợc tự bào chữa hoặc nhờ ngƣời khác bào chữa hoặc không bị ép buộc
phải làm nhân chứng chống laị mình”.
20
Đời sống riêng nhà ở thƣ từ, danh dự uy tín đƣợc công ƣớc bảo vệ. Pháp
luật có nghĩa vụ bảo vệ đời sống riêng tƣ của mỗi ngƣời, những hành động sáng
tạo đến đời sống riêng tƣ phải bị luật pháp trừng trị.
Tự do tƣ tƣởng tín ngƣỡng và tôn giáo là một nhân quyền trong nội dung
quyền dân sự chính trị. Con ngƣời sinh ra vẫn tự do. Tự do của con ngƣời bao gồm
hai hình thức cơ bản đó là tự do về thân thể và tự do về tƣ tƣởng. Chính vì vậy con
ngƣời có quyền theo hay không theo một tôn giáo hoặc tín ngƣỡng. Con ngƣời
cũng có quyền tự do bày tỏ tín ngƣỡng, tôn giáo công khai hoặc thầm kín. Quyền
tự do tín ngƣỡng tôn giáo có nghĩa là có quyền theo hoặc không theo một tín
pháp luật có nghĩa là mọi ngƣời đều có quyền cũng nhƣ nghĩa vụ theo luật định
mà không có bất cứ sự phân biệt nào dựa trên tôn giáo, tín ngƣỡng, tài sản, địa vị
xã hội. Quyền bình đẳng trƣớc pháp luật hiện đang đứng trƣớc nhiều thách thức tại
nhiều quốc gia trên thế giới. Con ngƣời vẫn có thể bị phân biệt bởi những căn cứ
nhƣ tài sản, mầu da tôn giáo… Việc áp dụng pháp luật dựa trên các yếu tố trên
hiện vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia.
Con ngƣời có quyền theo những quy định áp dụng cho mỗi ngƣời song
quyền dân sự chính trị không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của nhóm.
ở những nƣớc có nhiều nhân dân, dân tộc thiểu số, tôn giáo thì cá nhân thuộc dân
tộc thiểu số tôn giáo cùng với các thành viên khác của cộng đồng có quyền có đời
sống văn hoá riêng, quyền đƣợc theo và thực hành tôn giáo riêng.
Nhƣ vậy quyền dân sự chính trị bao gồm nhiều quyền riêng lẻ tạo thành một
nhóm quyền nhằm đảm bảo cho giá trị con ngƣời. Những giá trị đó là quyền tự do,
bình đẳng và có đời sống riêng tƣ không bị xâm phạm đồng thời họ có thể tham
gia vào đời sống xã hội. Bên cạnh quyền dân sự chính trị con ngƣời còn có quyền
về văn hoá kinh tế xã hội và những nhóm quyền khác.
3.1.3. Quyền kinh tế văn hoá xã hội.
Quyền kinh tế xã hội xuất hiện sau nhóm quyền dân sự chính trị. Nội dung quyền
kinh tế văn hoá xã hội đƣợc thể hiện trong tuyên ngôn nhân quyền thế giới và sau
đó đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua công ƣớc về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hoá. Nếu nhƣ quyền dân sự chính trị nhằm đảm bảo sự tự do, sự bình
đẳng cơ bản của con ngƣời thì quyền kinh tế xã hội lại hƣớng vào mức độ và chất
lƣợng cuộc sống của con ngƣời, trong đó yếu tố vị trí giữ vai trò quan trọng.
Quyền chính trị dân sự phụ thuộc nhiều vào chế độ chính trị và mức độ dân chủ ở
một quốc gia còn quyền kinh tế văn hoá xã hội lại phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố
22
kinh tế. Rõ ràng việc đảm bảo về mức sống của ngƣời lao động và gia đình họ
23
ngƣời. Công ƣớc còn quy định về sự nghỉ ngơi hợp lý cho những ngƣời làm việc
nhằm hạn chế những ảnh hƣởng do phải làm việc quá dài đối với ngƣời làm việc.
Bên cạnh ngƣời làm việc mọi ngƣời cần có quyền gia nhập công đoàn để
bảo vệ lợi ích kinh tế và xã hội của mình. Các tổ chức công đoàn đƣợc thành lập
các liên hiệp công đoàn quốc gia và tham gia tổ chức công đoàn quốc tế. Công
đoàn có quyền hoạt động tự do không bị hạn chế trừ những trƣờng hợp vì lợi ích
an ninh và trật tự công cộng hay bảo vệ quyền tự do của những ngƣời khác.
Mọi ngƣời còn có quyền đƣợc hƣởng an toàn xã hội trong đó có bảo hiểm
xã hội. Vấn đề bảo hiểm xã hội cũng đƣợc thực hiện tốt hơn ở những nƣớc có nền
kinh tế phát triển ở những nƣớc nghèo, việc đảm bảo quyền này không phải là việc
dễ thực hiện.
Quyền của phụ nữ trƣớc và sau khi sinh con đƣợc bảo vệ thanh thiếu niên
đƣợc bảo vệ khỏi những công việc có hại cho sức khoẻ tinh thần hoặc tính mạng.
Vai trò của quốc gia với quyền kinh tế xã hội là vô cùng quan trọng. Không giống
nhƣ quyền dân sự chính trị việc thực hiện quyền kinh tế xã hội đòi hỏi phải có
những điều kiện về vật chất. Để đảm bảo quyền có một mức sống no đủ cho bản
thân và gia đình, quyền đƣợc ăn đủ, mặc đủ và có nhà ở, quyền đƣợc cải thiện
không ngừng về cuộc sống của mình các quốc gia phải có tiềm năng về kinh tế
mới thực hiện đƣợc những quyền này. Việc gắn trách nhiệm của quốc gia với việc
bảo vệ nhân quyền này sẽ tạo ra điều kiện cho quyền này đƣợc thực hiện tốt hơn.
Tuy nhiên có thể xảy ra là các quốc gia không thể đảm bảo cho mọi ngƣời
trong quốc gia mình có đủ ăn mặc, và có nhà ở. để thực hiện các quyền này các
quốc gia, thành viễn có thể tiến hành những biện pháp một cách đơn phƣơng hoặc
thông qua hợp tác quốc tế.
Những biện pháp đó là cải thiện phƣơng thức sản xuất bảo quản và phân
phối lƣơng thực, bảo đảm phân phối công bằng các nguồn lƣơng thực thực phẩm
trên của thế giới dựa theo nhu cầu có tính đến các vấn đề của nƣớc xuất khẩu và
nhập khẩu lƣơng thực.
đối xử với phụ nữ đƣợc đại hội đồng thông qua ngày 18/12/1997 nhằm thúc đẩy
sự bình đẳng giữa nam và nữ. Công ƣớc nhấn mạnh vai trò của quốc gia trong việc
bảo vệ sự bình đẳng giữa nam và nữ. Bảo vệ sự bình đẳng của phụ nữ cần phải
đƣa vào trong luật pháp mà trƣớc tiên là hiến pháp. Các quốc gia cần áp dụng