Xác định phương hướng, giải pháp đẩy mạnh hoạt động CCTP đảm bảo quyền con người - Pdf 27

Luận văn
Xác định phương hướng, giải pháp
đẩy mạnh hoạt động CCTP đảm bảo
quyền con người ở nước ta hiện nay
tuthienbao.com MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người là vấn đề ưu
tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.
Tư pháp là nhánh quyền lực quan trong trong hệ thống tổ chức quyền
lực nhà nước. Tư pháp là lĩnh vực hoạt động nhằm đảm bảo nền an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền tự do của con người, do đó vấn đề
CCTP luôn là ưu tiên hàng đầu trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước
theo hướng dân chủ, minh bạch và hiệu lực.
CCTP là một yêu cầu hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay. Không phải đến bây giờ chúng ta mới
có chủ trương CCTP, tư pháp luôn được xem như là một bộ phận trọng tâm
cần phải cải cách để hoạt động có hiệu lực, hiệu quả nhằm đảm bảo các quyền
tự do của công dân. Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình xây dựng và
hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước luôn giành sự quan tâm đặc
biệt đến công tác CCTP. Ngay từ khi giành được độc lập, chúng ta đã bắt tay vào
xây dựng bộ máy tư pháp với tiêu biến bộ máy đó thành “một cơ quan trọng yếu

CCTP nhằm đảm bảo các quyền con người ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến
năm 2020 là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu này,
một mặt là sự tổng kết, đánh giá một cách khách quan quá trình thực hiện Nghị
quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW, mặt khác nó cung cấp luận cứ khoa
học cho việc tiếp tục đẩy mạnh CCTP, bổ sung cương lĩnh của Đảng về xây
dựng bộ máy tư pháp trong sạch, vững mạnh, nghiêm minh, dân chủ, bảo vệ các
quyền con người.
1.2. Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo các quyền con người là yêu cầu
quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta
Nhà nước pháp quyền (NNPQ) là một mô hình tổ chức nhà nước chống
lại sự lạm quyền, đề cao, bảo vệ và tôn trọng các quyền con người. Quá trình

1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020", (Nghị quyết số 49-NQ/TW), xem tại: www.cpv.org.vn/tulieu/vankien/adj/%123. xây dựng NNPQ đòi hỏi chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật.
NNPQ yêu cầu chính quyền phải chịu sự ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ
con người, tư pháp là lĩnh vực có chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực
hiện và bảo vệ con người. Do đó, việc xây dựng NNPQ không thể tách rời với
quá trình xây dựng, cải cách nền tư pháp, hướng tới một nền tư pháp công minh,
độc lập, hiệu quả, bảo vệ các quyền con người. Chính vì vậy, để xây dựng thành
công NNPQ ở Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh CCTP nhằm đảm bảo tốt
hơn các quyền con người- một giá trị không thể thiếu của NNPQ.
Công cuộc CCTP trong bối cảnh xây dựng NNPQ đang đặt ra nhiều
vấn đề cần phải giải quyết trên phương diện chính trị - pháp lý. Quá trình này

việc xét xử các vụ án dân sự, hình sự, kinh tế, lao động ở các thành phố lớn.
Qua các số liệu thống kê về thực tiễn xét xử của TAND các cấp cho thấy ở
một số quận thuộc các thành phố lớn hàng năm số lượng các vụ án cần xét xử
bao gồm: hình sự, kinh tế, dân sự, lao động, hành chính nhiều hơn số lượng
các vụ án tương ứng ở một số tỉnh. Ở các quận này, trung bình một Thẩm
phán một năm phải xét xử tới cả trăm vụ án, trong khi ở một số Tòa án thuộc
các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, mỗi năm mỗi Thẩm phán chỉ xét xử
dăm bảy vụ án.
Cũng với cách tổ chức tòa án như hiện nay, các Tòa chuyên trách được
tổ chức ở TAND tối cao và tất cả các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nhằm mục đích là chuyên môn hóa công việc của các Thẩm phán.
Tuy nhiên, điều này lại đang làm nảy sinh một số bất hợp lý: Thứ nhất, vì ở
nước ta, các vụ án hình sự (VAHS) vẫn chiếm một tỷ lệ cao so với các loại án
khác nên các Thẩm phán của Tòa hình sự luôn luôn phải làm việc với cường
độ cao hơn nhiều so với các Thẩm phán khác và để khắc phục tình trạng này,
các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lẫn Toàn phúc thẩm,
TAND tối cao trên thực tế đều phải tăng cường Thẩm phán ở các Tòa khác
sang xét xử các vụ án hình sự, vì vậy, mục đích chuyên môn hóa công tác xét
xử của các Thẩm phán đã không thực hiện được; Thứ hai, việc tổ chức ra các
tòa chuyên trách không được tiến hành đồng bộ với việc phân định thẩm quyền

1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020", (Nghị quyết số 49-NQ/TW), xem tại: www.cpv.org.vn/tulieu/vankien/adj/%123 thụ lý hồ sơ vụ việc giữa các tòa, nên có tình trạng khi người dân đến nộp hồ sơ


của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu công tác, nhất là ở cấp
huyện nhiều nơi trụ sở còn rất chật chội, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa
lạc hậu, chính sách đối với cán bộ tư pháp chưa tương xứng với nhiệm vụ và
chức trách được giao.
Thực trạng trên cho thấy, mặc dù đã có những nỗ lực rất lớn nhưng mô
hình tổ chức và hoạt động hiện nay vẫn đang hạn chế đáng kể hiệu quả của
hoạt động tư pháp. Trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN đòi hỏi chúng ta
phải tiếp tục đẩy mạnh CCTP nhằm mục tiêu đảm bảo một cách tốt nhất các
quyền con người.
Từ những luận giải trên cho thấy, CCTP nhằm đảm bảo các quyền con
người cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn
hoạt động thực tiễn. Đây là một việc làm hết sức cấp bách và cần thiết, đòi hỏi
chúng ta phải có sự nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này, qua đó cung cấp luận cứ
khoa học cho việc đẩy mạnh cải cách tư pháp, đưa ra những phương hướng và
giải pháp đẩy mạnh hoạt động CCTP nhằm đảm bảo quyền con người trong giai
đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Kể từ khi xuất hiện xã hội giai cấp, ý tưởng và mong muốn về một xã
hội tự do, bình đẳng, được bảo vệ và tôn trọng các quyền con người luôn là
ước mơ cháy bỏng của nhân loại. Những ý tưởng này, thoạt nhiên ban đầu
chưa được thể chế hoá thành luật pháp, nó chỉ tồn tại trong văn học thành văn
và truyền miệng, hay trong các triết lý tôn giáo. Khởi đầu của sự phân chia
giai cấp là sự ra đời của xã hội chiếm hữu nô lệ và Nhà nước chiếm hữu nô lệ,
với bản chất giai cấp là công cụ duy trì sự thống trị, đàn áp của giai cấp chủ
nô đối với nô lệ. Nô lệ, khi ấy hoàn toàn không được coi là con người, chỉ là
“công cụ lao động biết nói”, vì vậy cũng không thể nói có quyền con người.
cấp tư sản kêu gọi đông đảo những người bị áp bức chống lại các giai cấp
tầng lớp đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản.

1
V.I. Lenin (1905), Toàn tập, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mat-cơ-va, 1978, tr. 85.
2
Jean Jacques Rousseau (1762), Bàn về khế ước xã hội, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 39. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện nhiều tác phẩm cổ vũ quyền tư do cá
nhân, đòi nhà nước phải pháp lý hoá các quyền con người và đảm bảo thực
hiện trên thực tế. Ở giai đoạn này có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu
biểu như: Những thành tố của pháp luật tự nhiên và chính trị (The Elements
of Law Natural and Politic, 1649), Công dân (The Citizent, 1651), của T.
Hobber; Chuyên luận thứ hai về chính quyền dân sự (The Second Treatise of
Civil Government, 1690), Lá thư về sự khoan dung (The Letter on Toleration,
1692)… của J. Locke; Những lá thư Ba Tư (Lettres Persanes, 1721), Tinh
thần pháp luật (The Spirit of the Laws, 1748), của C.L. Mongtesquier; Khế
ước xã hội (The Social Contract, 1762), của J.J. Rousseau…
Theo các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng, con người đã trải nghiệm để
tìm các phương thức và các thiết chế để đảm bảo, quyền lợi của mình. Trong
xã hội phong kiến, khi mọi quyền hành nằm trọn vẹn trong tay một người -
nhà vua, vua nắm quyền lực tối cao trong việc ban hành pháp luật, thi hành
luật pháp và thực hiện việc xét xử, thì mọi biểu hiện của tự do, công lý và
bình đẳng đều trở nên xa lạ. Quyền con người là những quyền tự nhiên, không
thể bị tước đoạt bởi giai cấp thống trị, Locke đã chỉ ra rằng: “trong “trạng thái
tự nhiên” con người có các quyền tự do, bình đẳng và tư hữu. Các quyền này

đó của con người từ chỗ chỉ là yêu sách đến sự ghi nhận, bảo đảm bằng pháp
luật của nhà nước do Nghị viện ban hành, và lúc đó sẽ nảy sinh việc phán xét
các vi phạm quyền con người cũng như các thiết chế quyền lực để bảo vệ
quyền con người, đó là các thiết chế tư pháp. Và chỉ đến lúc này mới xuất hiện
yêu cầu cải cách, cải tổ các thiết chế quyền lực nhà nước để đảm bảo thực hiện
tốt các quyền con người, trong đó có cải cách trên lĩnh vực tư pháp.
Cải cách bộ máy nhà nước để quản lý xã hội một cách hiệu quả, đảm
bảo việc thực hiện các quyền con người là yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển
dân chủ ở mỗi quốc gia. Cùng với đó, vào giữa thế kỷ XX, vấn đề quyền con
người trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút được sự quan tâm của
nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Các công trình nghiên cứu về quyền con
người ở giai đoạn này tập trung vào nhiều vấn đề như quyền dân sự, chính trị,
văn hoá; quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Chúng ta thấy, có sự kết
hợp chặt chẽ, sự giao thoa của hai vấn đề nghiên cứu, đó là cải cải tư pháp và
quyền con người. Trong hoạt động thực tiễn, quyền con người chỉ được đảm
bảo thực hiện nghiêm túc khi có sự đảm bảo bởi một nền tư pháp nghiêm
minh, hiệu lực.
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chỉ liệt kê, mô tả các công
trình nghiên cứu cải cách tư pháp có liên quan đến việc đảm bảo quyền con

1
J.J. Rousseau (1762), Khế ước xã hội (The Social Contract), bản dịch của Hoàng Thanh Đạm,
Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr.34. người. Hoạt động tư pháp là hoạt động có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện
quyền tự do, quyền dân chủ, quyền sống của con người, nó biểu hiện qua các

28cm (Professional traning series; No.8 / rev.1);
9. Liên hiệp quốc (2005) Quyền con người và tù nhân: Những ghi
nhận về thực thi quyền con người của các giám thị nhà tù New York Geneva :
United Nations, 2005-IX, 221p;
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu về CCTP, đảm bảo quyền con người là vấn đề được Đảng,
Nhà nước cùng các nhà khoa học hết sức quan tâm, đặc biệt kể từ khi chúng
ta thực hiện công cuộc đổi mới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề
này, các công trình tiếp cận vấn đề dưới nhiều góc độ, mục tiêu, phương pháp
nghiên cứu khác nhau; thể hiện công trình dưới nhiều dạng khác nhau như:
luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ; đề tài nghiên cứu khoa học; sách chuyên
khảo, các bài đăng tạp chí chuyên ngành… Để khảo sát tình hình nghiên cứu
của vấn đề, chúng tôi đã phân loại các cách tiếp cận như sau:
- Tiếp cận trên góc độ nghiên cứu lý luận chung về quyền con người,
gồm có các công trình nghiên cứu: (1) Chương trình KX-07 (do GS.TS Phạm
Minh Hạc làm chủ nhiệm) : Con người, mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội; mã số 07-16; chủ nhiệm GS, TS Hoàng Văn Hảo; công
trình nghiên cứu đã được Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người biên tập
hai tập chuyên khảo Quyền con người, quyền công dân, xuất bản năm 1995;
(2) Quyền con người trong thế giới hiện đại do PGS. Phạm Khiêm Ích và
GS.TS Hoàng Văn Hảo đồng chủ biên, Viện Thông tin khoa học xã hội xuất
bản năm 1995…
- Tiếp cận trên góc độ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, gồm có: Luận án
tiến sỹ luật học của tác giả Nguyễn Văn Mạnh; luận văn thạc sỹ của tác giả
Hoàng Hùng Hải; Mai Thị Chung,Vũ thị Thu Quyên…
- Tiếp cận trên góc độ tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước (trong

- Phương pháp phân tích, so sánh;
- Phương pháp tổng hợp;
- Phương pháp lô-gic và lịch sử;
- Phương pháp khảo cứu tài liệu;
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề tài là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có
hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề CCTP với việc đảm bảo quyền con
người ở nước ta;
- Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm phong phú hơn lý luận về
quyền con người, về CCTP nói chung và cải cách tư pháp nhằm đảm bảo
quyền con người nói riêng;
- Đề tài đề xuất phương hướng và những giải pháp cải cách tư pháp
nhằm đảm bảo các quyền con người trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN
của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu Báo cáo tổng hợp nghiên cứu
Báo cáo kết quả tổng hợp nghiên cứu gồm 3 chương, 9 tiết với các nội
dung sau: Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TƯ PHÁP

1.1. CƠ QUAN TƯ PHÁP- MỘT TRONG NHỮNG THIẾT CHẾ

mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì, vì các quyền này tồn tại
không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ
cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó.
Trong các tác phẩm như: An Easy Concerning Human Understanding
(1690), Second Tract Government (1662), Questions Concerning the Law of
Nature (1664)… J. Locke cho rằng chính phủ được lập ra nhằm để bảo vệ các
“quyền tự nhiên” của cá nhân con người trước sự xâm phạm của cộng đồng;
nhà nước không phải thế lực ban phát các quyền con người và J. Locke đi đến
kết luận: nhà nước chỉ tồn tại hợp pháp (và cũng là lý do mà nhân dân cần đến
nhà nước) khi nó thừa nhận, tôn trọng, thúc đẩy các quyền con người - những
quyền vốn có do “tự nhiên” ban tặng. Trong tác phẩm Right of Man (1791) T.
Pain cho rằng, các quyền không phải do chính phủ ban phát, bởi lẽ điều đó
đồng thời cho phép các chính phủ được rút lại các quyền ấy theo ấy theo ý chí
của họ
1
.
Ngược lại với các quan điểm cho rằng quyền con người là quyền tự
nhiên là học thuyết cho rằng quyền con người là quyền pháp lý (legal right).
Các học giả tiêu biểu cho quan điểm này là: Edmund Burke (1727-1797) và
Jeremy Bentham (1748-1832). Theo đó, các quyền con người không phải tự
nhiên mà có mà nó phải được thừa nhận và luật hoá. Các quyền này phụ thuộc
vào ý chí của nhà nước (tức giai cấp thống trị) và truyền thống văn hóa, các
phong tục tập quán.

1
Xem: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng - đồng chủ biên (2009), Giáo trình lý
luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 45. chương Magna Carta năm 1215; nó cũng bao gồm due process of law (luật
tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp của công dân)
1
.
Hai luồng tư tưởng bàn về nguồn gốc của quyền con người hiện vẫn
còn gây nên nhiều tranh cãi, và nhận thức của nhân loại hiện vẫn đang bị chia
rẽ bởi vấn đề này. Việc phân định tính đúng sai của hai quan điểm này là vấn
đề hết sức khó khăn, bỏi vì quyền con người là phạm trù phức tạp, nó liên
quan đến nhiều ngành khoa học như luật học, triết học, xã hội học, chính trị
học, đạo đức học… Mặc dù thừa nhận quyền con người có nguồn gốc tự
nhiên hay nguồn gốc pháp lý thì có một thực tế rằng các quyền này vẫn phải
được ghi nhận và đảm bảo thực hiện dưới những hình thức pháp lý cụ thể. Và
chỉ thông qua sự thể chế này các quyền con người mới có cơ chế đảm bảo
thực hiện. Theo nghĩa đó, pháp luật là công cụ quan trọng để pháp lý hóa,
pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người, đồng thời nó cũng là
phương tiện quan trọng để đảm bảo thực hiện các quyền đó.
Khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ châu Âu,
tuy nhiên cần khẳng định rằng, khái niệm tự do và công bằng xã hội - những
khái niệm cơ bản của quyền con người, nằm trong tất cả mọi nền văn hóa.
Các nội dung đầu tiên của quyền con người quốc tế thực sự có thể được tìm
thấy trong các Hiệp định về Quyền tự do tôn giáo, Công ước Westphalia năm
1648 và việc cấm chế độ chiếm hữu nô lệ như tuyên ngôn về việc buôn bán
nô lệ của Quốc hội Vienna vào năm 1815, việc sáng lập Xã hội chống chế độ
chiếm hữu nô lệ Mỹ vào năm 1833 và Công ước quốc tế về chống chế độ
chiếm hữu nô lệ năm 1926.
Khái niệm quyền con người phổ biến cho tất cả loài người mới được

quốc đã lên tới 191 thành viên nhưng không một quốc gia nào thực sự nghi
ngờ tuyên ngôn này, nhờ đó đến nay phần lớn nội dung của tuyên ngôn đã trở
thành tập quán luật quốc tế về quyền con người, dựa trên sự chia sẻ các giá trị
chung đã được nhất trí theo khuôn khổ của Liên hiệp quốc, trong đó bao gồm
các yếu tố hình thành nên đạo đức toàn cầu.
Theo quan điểm được đông đảo cộng đồng quốc tế thừa nhận thì quyền
con người mang các thuộc tính cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể

1
Xem: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng - đồng chủ biên (2009), Giáo trình lý
luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 41-42. chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau.
Ở Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những định
nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về vấn đề quyền con người. Mặc dù còn có
những điểm khác nhau, song phần lớn họ đều thống nhất quyền con người là
những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi
nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế
1
.
Quyền con người là những chuẩn mực mang tính toàn cầu, đây là vấn
đề chính trị - pháp lý vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù. Tính
phổ biến thể hiện ở chỗ quyền con người bao hàm những nguyên tắc, những
quyền được thừa nhận và áp dụng ở mọi nơi, nó là sự kết tinh những giá trị
nhân văn của nhân loại mà loài người phải bảo vệ. Tính đặc thù thể hiện ở
chỗ, tùy theo điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội mà sẽ có những mức độ

. Như vậy, theo Montesquieu, cơ quan tư pháp là toà án, là
cơ quan xét xử, cơ quan thực hiện nhánh quyền lực tư pháp.
Nối tiếp những tư tưởng của Mongtesquie, mười bốn năm sau, trong tác
phẩm Bàn về khế ước xã hội (1762), J.J. Rousseau đã viết: “Khi người ta
không thể định rõ một tỷ lệ chính xác giữa các bộ phận cấu thành của nhà
nước, hoặc khi mà những nguyên nhân khách quan làm suy yếu không ngừng
mối quan hệ giữa các bộ phận ấy, thì người ta phải đặt một cơ quan đặc biệt,
không tham dự vào bất cứ một bộ phận nào. Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào
đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa Chính phủ
với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa
cả ba vế ấy khi cần. Cơ quan này tôi gọi là cơ quan tư pháp (tribunal)”
2
. Với
quan niệm như thế này của Rousseau về cơ quan tư pháp thì không có gì khác
biệt với Montesquieu, theo đó nói đến cơ quan tư pháp phải hiểu đó là toà án,
là hoạt động xét xử.
Chịu ảnh hưởng tư tưởng của các luật gia thời Khai sáng, khi làm bản
Hiến pháp năm 1787, các nhà lập hiến Hoa Kỳ đã quy định ở Điều III, khoản
1 như sau: “Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ sẽ được trao cho Toà án tối cao và
những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”.
Và hầu hết các hiến pháp của các nước tư bản như Nhật, Pháp, Đức, Thuỵ
Điển… sau này khi quy định về cơ quan tư pháp đều coi đó là các toà án. Như
vậy, quan niệm có tính chung nhất theo nghĩa hẹp về về cơ quan tư pháp từ
học thuyết đến xây dựng hiến pháp thành văn của các nước có lịch sử lập hiến
lâu năm được hiểu là các toà án.

1
Montesquieu (1748), Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, Trường đại học Khoa học xã hội và
nhân văn-Khoa Luật, Hà Nội, 1996, tr. 100
2

không tự hoà giải được, không tự bảo vệ được quyền lợi, tính mạng của mình,
họ cần phải nhờ đến những định chế khác, mà họ cho là vô tư, công tâm để
giải quyết. Định chế đóng vai trò có thể phán xử tính đúng đắn trong hành vi
xử sự của một cá nhân, tổ chức nào đó là toà án. Vì vậy, thông thường khi nói

1
Hoàng Phê- chủ biên (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, tr. 1034.
2
Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa và Nxb.
Tư pháp; Hà Nội, tr. 828. đến tư pháp là nói tới công tác xét xử và những hoạt động phục vụ hoặc liên
quan trực tiếp tới hoạt động xét xử được thực hiện trên cơ sở các qui định của
Hiến pháp và pháp luật.
Một trong những nguyên tắc quan trọng không thể thiếu của hoạt động
tư pháp đó là tính khách quan, vô tư giữa các chủ thể tham gia tố tụng; vi
phạm nguyên tắc này thì phán quyết của cơ quan tư pháp sẽ không đảm bảo
được tính công bằng, khi đó các bên tranh chấp sẽ không cần đến các cơ quan
tư pháp nữa. Chính vì vậy, những người tham gia vào các hoạt động tư pháp
phải được coi là những người đại diện cho nhà nước, nhân danh và bảo vệ
công lý, ở họ nguyên tắc công bằng, bình đẳng, khách quan là những phẩm
chất quan trọng cần phải có.
Trong nhà NNPQ, tư pháp giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc
đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật và thực hiện quyền làm chủ, quyền
giám sát tối cao của nhân dân đối với bộ máy nhà nước. Quá trình xây dựng
NNPQ đòi hỏi tư pháp phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

quan niệm của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu thì (OECD):
“Cải cách tư pháp được sử dụng trong công trình của OECD đề
cập tới những sự thay đổi nhằm cải thiện chất lượng của các qui định,
đó là, thúc đẩy sự thực hiện, giảm chi phí, hoặc chất lượng pháp lý của
các qui định và các thủ tục liên quan của chính quyền. Cải cách có thể
có nghĩa sửa đổi một qui định đơn lẻ, loại bỏ và xây dựng lại toàn bộ
một chế độ pháp luật và các chế định của nó, hoặc cải thiện qui trình
làm luật và quản lý cải cách”
1
.
Quan niệm CCTP theo cách hiểu này có nghĩa rất rộng, nó không chỉ
bao hàm việc “sửa đổi các qui định đơn lẻ, loại bỏ và xây dựng lại toàn bộ
một chế độ pháp luật” mà nó còn bao hàm nhiều vấn đề như “giảm chi phí” và

1
Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư
pháp, Hà Nội, trang 6. “các thủ tục liên quan đến chính quyền”. Vì vậy, CCTP xét đến cùng được hiểu
là sự sửa đổi, xây dựng pháp luật theo một chế độ mới, đối tượng của CCTP có
thể là các qui định pháp luật, mà chưa nói tới các định chế thực hiện.
Trong nghiên cứu này nhóm tác giả tiếp cận CCTP với ý nghĩa là quá
trình đổi mới toàn diện hệ thống tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử với
mục tiêu làm cho tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp đảm bảo tính công
bằng, dân chủ, minh bạch đáp ứng yêu cầu bảo vệ công lý, bảo đảm các quyền
của con người trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status