Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỀ TÀI

HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG ĐƢỜNG
BIỂN QUỐC TẾ

Học viên: Nguyễn Ngọc Toàn
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Bá Diến
Lớp: Cao học Luật biển Khoá I

Hà nội, 2005
3
MỤC LỤC
10
12
14

15
16
18

21

22
22
24
25
Chƣơng 2 Các quy định của pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng
hoá bằng đƣờng biển quốc tế 28

2.1 Hợp đồng vận chuyển hàng hoá theo chứng từ
2.1.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hoá theo chứng từ

35
57

58

58

63
71
71
73

75

79
79
82
Chƣơng 3 Thực trạng ký kết, thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng
hoá bằng đƣờng biển và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam

3.1 Thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng
đờng biển quốc tế tại Việt Nam.
3.2 Những bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển

88

6
LỜI NÓI ĐẦU

1) Tính cấp thiết của đề tài

Vận tải là yếu tố không thể tách rời trong buôn bán quốc tế. Nói đến buôn
bán quốc tế là nói đến vận tải. Trong vận tải quốc tế, có thể khẳng định rằng,
vận tải hàng hoá bằng đường biển đóng vai trò hết sức quan trọng với hơn
80% khối lợng hàng hoá trên thị trờng thế giới là do vận tải hàng hoá bằng
đường biển đảm nhiệm. Tuy nhiên, vận tải hàng hoá bằng đường biển là một
lĩnh vực rất phức tạp, nó chịu sự tác động và ràng buộc của nhiều yếu tố chủ
quan cũng như khách quan, môi trường hoạt động của nó hàm chứa những rủi
ro cao không những đối với hàng hoá, phương tiện vận tải mà kể cả con
người. Do vậy, để việc vận chuyển hàng hoá có hiệu quả và bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia cũng như ngăn ngừa nguy cơ

chắc cho việc xây dựng các qui phạm có giá trị, có sức sống phù hợp
với pháp luật quốc tế.
- Đối với luật hàng hải: nghiên cứu vấn đề này sẽ làm hoàn thiện,
phong phú thêm, phát triển thêm hệ thống các khái niệm để đa luật
hàng hải của chúng ta phù hợp với pháp luật hàng hải quốc tế.
- Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực vận
tải biển quốc tế: kết quả nghiên cứu sẽ giúp họ có sự hiểu biết sâu
hơn, đúng hơn về các qui định có liên quan đến hợp đồng vận chuyển
hàng hoá bằng đường biển. Từ đó, giúp họ thực hiện các giao dịch của
mình có hiệu quả và đúng pháp luật.

Do vậy, Tôi chọn đề tài “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển
quốc tế” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.

2) Mục đích của luận văn

Luận văn được viết nhằm tìm hiểu những khái niệm cơ bản, phân tích sự
tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế có

8
liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Luận văn
cũng đưa ra các nguyên nhân phát sinh tranh chấp và biện pháp giải quyết.
Từ những phân tích đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các
quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đ-
ường biển.

3) Phƣơng pháp nghiên cứu

Phù hợp với mục đích nghiên cứu của Luận văn tác giả sử dụng phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa duy vật Mác xít để

bằng đường biển
Chƣơng 3 Thực trạng ký kết, thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Việt Nam.

10 CHƢƠNG 1

hàng hoá khác đó là:

- Vận tải đường biển có năng lực vận chuyển lớn: phương tiện vận tải
trong vận tải đường biển là các tàu có sức chở rất lớn, lại có thể chạy
nhiều tàu trong cùng một thời gian trên cùng một tuyến đường.
- Thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hoá thương mại
quốc tế. Đặc biệt là thích hợp và hiệu quả là các loại hàng rời có giá trị
thấp như than, quặng, ngũ cốc…
- Chi phí đầu tư xây dựng cho các tuyến đường hàng hải thấp: các tuyến
đường hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên nên không
đòi hỏi nhiều vốn, nhiều nguyên liệu, sức lao động để xây dựng, duy trì
bảo quản.
- Giá thành thấp: giá thành vận tải đường biển vào loại thấp nhất trong
tất cả các phương thức vận tải do trọng tải tầu biển lớn, cự ly vận
chuyển trung bình lớn, biên chế ít nên lao động trong ngành vận tải
biển là cao.

Tuy nhiên, vận tải biển cũng có một số nhược điểm sau:

- Vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thiên nhiên, điều kiện
hàng hải: tàu biển thường gặp rất nhiều rủi ro hàng hải như mắc cạn,
đắm cháy, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm Theo thống kê của các
công ty bảo hiểm, hàng tháng trên thế giới có khoảng 300 tàu biển bị
các tai nạn trên, trong đó nhiều trường hợp bị tổn thất toàn bộ [2,
tr.15].

12
- Tốc độ của tàu biển tương đối thấp. Tốc độ của các tàu biển hiện nay
chỉ khoảng 14-20 hải lý/giờ (1 hải lý bằng 1,85 km) trong khi đó tốc độ
của phương tiện vận tải hàng không là 900-1000 km/giờ. Do vậy vận

mua bán ngoại thương, việc thuê tàu để chuyên chở hàng được tiến hành dựa
vào ba căn cứ sau: a) những điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương;
b) đặc điểm của hàng; c) điều kiện vận tải.

Một số điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương đồng thời là những
điều khoản quy định sự phù hợp trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá chẳng
hạn như một số điều khoản về tên hàng, số lượng, chất lượng hàng hoá, cảng
đi, cảng đến, thanh toán cước phí vận tải… Việc quyết định hình thành hợp
đồng thuê tàu vận chuyển hàng hoá được ghi nhận trong hợp đồng mua bán
ngoại thương chính là việc xác định trách nhiệm về vận tải giữa người mua
hàng và người bán hàng tại điều khoản điều kiện cơ sở giao hàng như điều
kiện Giao hàng Tại xưởng (EXW), giao hàng chưa thông quan tại nhập khẩu
(DDU), tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí (CIF)…

Như vậy, việc quy định trách nhiệm tổ chức vận chuyển hàng hoá trong hợp
đồng mua bán ngoại thương là điều kiện để người bán hàng hoặc người mua
hàng phải đi thuê tàu để chở hàng. Việc đi thuê tàu để chở hàng chính là
người thuê vận chuyển (người bán hoặc người mua hàng) ký kết hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển với người vận chuyển.

Theo các nhà chuyên môn về hàng hải thì “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển là sự thoả thuận về vận chuyển hàng hoá, hoặc lai dắt các
phương tiện nổi từ địa điểm này sang địa điểm khác. Chủ tàu hoặc người vận
chuyển thực hiện việc vận chuyển còn người thuê vận chuyển trả tiền cước
vận chuyển theo đơn giá qui định” [4].

Theo khoản 1 Điều 61 Bộ Luật hàng hải Việt Nam 1990, hợp đồng vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển được định nghĩa như sau: “Hợp đồng vận
chuyển hàng hoá là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và người


chủ tàu hoặc người thuê tàu. Dựa vào sự khác nhau của các phương thức kinh

15
doanh tàu thuyền vận chuyển đường biển có thể phân hợp đồng vận chuyển
hàng hoá đường biển thành:
- Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ hay còn được gọi là vận chuyển
tàu chợ, vận chuyển tàu tuyến (liner transport).
- Hợp đồng vận chuyển tàu thuê (shipping by chartering) trong đó bao
gồm: tàu thuê chuyến (voyage charter), tàu thuê định kỳ (time charter)
và thuê tàu trần (demise charter).

1.3.1 Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ/tàu chợ

Tàu chợ là tàu kinh doanh thường xuyên trên một tuyến hàng hải nhất định,
ghé qua những cảng nhất định và theo một lịch trình đã định trước. Vận
chuyển tàu chợ được phát triển dần trên cơ sở vận chuyển tàu không định kỳ
xuất hiện từ thế kỷ 19, được phát triển nhanh chóng trong thế kỷ 20 và hiện
nay là một trong những phương thức vận chuyển chủ yếu trong vận tải đường
biển quốc tế.

Vận chuyển bằng tàu chợ có một số đặc điểm sau:

- Tàu thuyền vận chuyển qua lại dựa vào một lịch trình cố định, theo một
tuyến đường hàng hải cố định, ghé qua những cảng nhất định đồng thời
phí vận chuyển theo tỷ lệ phí vận chuyển tương đối cố định
- Hàng hoá do các bên có tàu phụ trách bốc dỡ, phí bốc dỡ được tính
trong phí vận chuyển và được quy định trong biểu cước phí đã định sẵn
(liner tariff)
- Mối quan hệ về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa chủ hàng và
người vận chuyển được điều chỉnh bằng vận đơn đường biển (bill of

- Chủ tàu có thể đóng vai người chuyên chở hoặc không.
- Tàu chuyến thường được dùng cho việc chở dầu và hàng có khối lượng
lớn như than, quặng, ngũ cốc, phốt phát, xi măng, phân bón… 17
Phương thức vận chuyển thuê tàu chuyến bao gồm: thuê tàu chuyến, thuê tàu
định hạn và thuê tàu trần.

Thuê tàu chuyến là loại vận chuyển tàu thuê mà bên sở hữu cung cấp tàu tiến
hành một hay nhiều chuyến đi ở cảng dự định, vận chuyển hàng hoá chỉ định.
Căn cứ vào phương thức thuê, tàu chuyến có thể được chia thành: tàu thuê
một chiều, tàu thuê khứ hồi, tàu thuê chuyến liên tục, thuê bao hay hợp đồng
thuê bao tàu vận chuyển.

Tàu thuê định hạn (time charter): là kiểu vận chuyển mà bên sở hữu tàu cho
thuê tàu của mình để người thuê tàu sử dụng trong một thời hạn nhất định,
người thuê tàu cũng có thể sử dụng tàu thuê đó làm tàu chợ hay tàu thuê
chuyến trong thời gian này.

Thêu tàu trần (demise charter): là việc bên sở hữu tàu cho thuê tàu để người
thuê tàu sử dụng trong một thời hạn nhất định nhưng tàu mà người sở hữu tàu
cung cấp là một chiếc tàu trống không có thuyền trưởng, không có thuyền
viên. Người thuê tàu phải đảm nhiệm chức năng thuyền trưởng, phải bố trí
thuyền viên, chịu mọi chi phí ăn ở cho thuyền viên và quản lý vận hành. Kiểu
thuê tàu này xét về nội dung thuê tàu là kiểu thuê tài sản chứ không phải là
một dạng hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.

Trường hợp thuê tàu chuyến (voyage charter) và thuê tàu định hạn (time
charter) có nhiều điểm không giống nhau. Chính từ các điểm không giống

thức vận chuyển theo chứng từ và tàu chuyến) hoặc việc ký kết hợp đồng
thuê tàu là cơ sở cho việc hình thành một hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển (đối với thuê tàu định hạn và thuê tàu trần).

Trên thực tế, các chủ thể tham gia vào hợp đồng thuê tàu có nhiều mục đích
khác nhau, căn cứ vào vào pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam
(Điều 62 BLHHVN) với mục đích thuê tàu để vận chuyển hàng hoá theo
chứng từ (carriage under bill of lading) và hợp đồng vận chuyển hàng hoá

19
bằng tàu chuyến (voyage charter). Ở đây, không xem xét hợp đồng thuê tàu
trần do nội dung của hợp đồng thuê này là một kiểu thuê tài sản chứ không
phải là một dạng của hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hoá. Còn đối với
hợp đồng thuê tàu định hạn thì cũng không nên xếp nó vào hợp đồng vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển vì nội dung của hợp đồng thuê tàu này
không qui định về trách nhiệm giữa người vận chuyển và người thuê vận
chuyển trong việc vận chuyển hàng.

1.4 Các bên tham gia hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển quốc
tế

Từ khái niệm về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển như được
trình bày ở trên (1.2), có thể thấy trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng
đường biển quốc tế có sự tham gia của hai bên, đó là người vận chuyển và
người thuê vận chuyển. Tuy nhiên, trong vận tải đường biển còn xuất hiện
người vận chuyển thực tế và người nhận hàng.

“Người thuê vận chuyển là người nhân danh mình hoặc nhân danh người
khác ký hợp đồng thuê người vận chuyển hàng hoá” [6]. Vì vậy, người thuê
vận chuyển có thể là người bán hoặc người mua trong hợp đồng mua bán

thể ký vận đơn thay mặt cho chủ tàu thì điều này cũng không hề ảnh hưởng
đến trách nhiệm của chủ tàu. Do vậy, người vận chuyển danh nghĩa phải chịu
trách nhiệm về mọi hậu quả do người vận chuyển thực tế gây ra và chính điều
này là một đặc thù của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển so
với các loại hợp đồng khác.

Ngoài ra, trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển còn xuất
hiện người nhận hàng. Nếu người nhận hàng đồng thời là người gửi hàng thì
sẽ là chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Nếu người
nhận hàng không đồng thời là người gửi hàng thì đương nhiên họ không phải
là chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, nhưng trong

21
trường hợp này họ vẫn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện hợp
đồng.

1.5 Đặc trƣng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển

Để đáp ứng các nhu cầu của giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại hiện tại ở
Việt Nam đang tồn tại nhiều dạng hợp đồng như hợp đồng kinh tế (theo quy
định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989), hợp đồng dân sự (theo quy
định của Bộ luật dân sự 1996), hợp đồng thương mại (theo quy định của Luật
Thương mại năm 1997). Mỗi loại hợp đồng đều có các quy định về điều kiện
chủ thể, mục đích, hình thức và nội dung khác nhau. Do vậy, xem xét đặc
trưng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển chính là xem nó
thuộc dạng hợp đồng nào, chịu sự điều chỉnh của luật nào (kinh tế, dân sự
hay thương mại).

Hiện nay, ngoài Chương 5 của BLHHVN năm 1990 quy định về hợp đồng
vận chuyển hàng hoá bằng đường biển còn có Nghị định Số 57/2001/NĐ-CP

người vận chuyển. Khoản cước phí này người vận chuyển ngoài một phần chi
phí cho việc tái sản xuất kinh doanh phần còn lại (gọi là sinh lợi) người vận
chuyển có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Chính vì thế, mục đích
của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là kinh doanh và sinh
lợi phù hợp với quy định của pháp luật về mục đích của hợp đồng.
Ngoài ra, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng bằng đường biển quốc còn là
đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế, hay nói cách khác, là loại hợp đồng
chứa đựng yếu tố nước ngoài. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển quốc tế có thể được ký kết bởi các bên chủ thể không cùng quốc tịch;
hoặc hợp đồng được các bên chủ thể giao kết (ký kết) ở nước ngoài (nước các
bên không mang quốc tịch); hoặc đối tượng của hợp đồng (hàng hoá) đang
tồn tại ở nước ngoài. Mặc dù các bên chủ thể có cùng quốc tịch.

23
Tóm lại: đặc trưng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc
tế mang dấu hiệu của hợp đồng kinh tế-thương mại, và chứa đựng yếu tố
nước ngoài. Vì thế, khi ký kết và thực hiện hợp đồng phải tuân theo các quy
định về hợp đồng kinh tế về điều kiện chủ thể, mục đích, hình thức của hợp
đồng. Khi xẩy ra tranh chấp được giải quyết tại trung tâm trọng tài hoặc toà
án kinh tế.
1.6 Cơ sở pháp lý của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển
Cơ sở pháp lý của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế
chính là các văn bản do các tổ chức quốc tế hoặc mỗi quốc gia ban hành để
điều chỉnh các quan hện phát sinh trong khi thực hiện hợp đồng. Hiện nay,
hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế được điều chỉnh
bẳng các nguồn luật sau: 1) điều ước quốc tế; 2) luật quốc gia; 3) tập quán
hàng hải quốc tế.

1.6.1 Pháp luật quốc tế


chuyển Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế các hãng tàu Việt Nam thường chọn
Công ước Hague Rules 1924 để làm nguồn luật điều chỉnh vận đơn do mình
cấp cho người thuê vận chuyển.

Đối với phương thức vận chuyển hàng hoá đường biển theo chứng từ thì mối
quan hệ giữa chủ hàng và người vận chuyển chủ yếu được điều chỉnh bằng
vận đơn đường biển. Do vậy, người ta còn gọi phương thức vận chuyển này
là vận chuyển hàng hoá theo vận đơn và luật áp dụng cho nó là điều ước quốc
tế, luật quốc gia và tập quán quốc tế.

Công ước quốc tế liên quan đến vận đơn và vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển cho đến nay, bao gồm: 1) Công ước quốc tế thống nhất một số quy tắc
về vận đơn đường biển, ký tại Brussels ngày 25-08-1924 được gọi tắt là Công
ước Brussels 1924. Công ước này còn được gọi là Quy tắc Hague (Hague
Rules) đã có hiệu lực từ 1931; 2) Nghị định thư Visby 1968, sửa đổi Công

25
ước Brussels (Hague Visby Rules), có hiệu lực từ 23-06-1977, cùng với Quy
tắc Hague tạo thành Quy tăc Hague-Visby (Hague-Visby Rules); 3) Công ước
của Liên Hợp quốc về Vận chuyển Hàng hoá bằng Đường biển, năm 1978
gọi là Công ước Hamburg hay quy tắc Hamburg (Hamburg Rules). Các Điều
ước quốc tế này chỉ điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc thực hiện hợp
đồng vận chuyển hàng hoá bằng tàu chuyến.

Ba Công ước nói trên Hague, Hague-Visby, Hamburg đang song song tồn tại
và có hiệu lực điều chỉnh các vấn đề vận chuyển hàng hoá đường biển theo
vận đơn, các quốc gia chỉ có thể lựa chọn tham gia vào Công ước Hague-
Visby hoặc Hamburg 1978. Tuy nhiên, hiện nay số lượng các quốc gia tham
gia vào Công ước Brussels nhiều hơn (90 nước) so với Công ước Hamburg
1978 (30 nước) [9, tr.17] do trách nhiệm của người vận chuyển theo Công

- Đối với các điều ước quốc tế mà chúng ta chưa tham gia và chưa công
nhận, thì chúng sẽ được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng đó
không trái với các qui định của pháp luật Việt Nam.

Ngoài ra, còn có những khác biệt nhất định trong hệ thống pháp luật của từng
quốc gia, nên khi áp dụng pháp luật của quốc gia nào các bên trong hợp đồng
vận chuyển cần tìm hiểu kỹ để quyền lợi của mình được đảm bảo.

1.6.3 Tập quán hàng hải quốc tế

Tập quán hàng hải là những phong tục, thói quen phổ biến về hàng hải được
nhiều nước công nhận và áp dụng thường xuyên và nó trở thành một qui tắc
được các bên tuân thủ. Để được coi là một tập quán hàng hải các phong tục
và thói quen phổ biến hàng hải phải thoả mãn được các yêu cầu sau:

- Là thói quen phổ biến được nhiều nước áp dụng và áp dụng thường
xuyên,
- Là thói quen có nội dung rõ ràng mà các bên qua đó có thể xác định
được quyền và nghĩa vụ đối với nhau,

Trích đoạn Quá trình vận chuyển: Sau khi xếp hàng lên tàu, thuyền trưởng đã cấp vận đơn thì tàu bắt đầu hành trình vận chuyển hàng hoá Trong quá trình tiến Dỡ hàng và giao hàng cho ngƣời nhận hàng: Khi tàu đến cảng đích, người vận chuyển giao hàng đã vận chuyển cho người cầm vận đơn hợp pháp. Cơ sở phát sinh trách nhiệm Căn cứ miễn trách cho ngƣời vận chuyển Phạm vi trách nhiệm của ngƣời vận chuyển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status