MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG
HÓA BẰNG ĐƢỜNG BIỂN VÀ NGHĨA VỤ GIAO HÀNG CỦA NGƢỜI
VẬN CHUYỂN THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC 9
1.1 Khái quát chung về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển theo pháp
luật Trung Quốc 9
1.1.1 Nguồn luật 9
1.1.2 Định nghĩa hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển 19
1.1.3 Địa vị pháp lý của các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng
đường biển 21
1.1.4 Chứng từ vận chuyển 27
1.2 Khái quát chung về nghĩa vụ giao hàng của người vận chuyển theo pháp luật
Trung Quốc 35
1.2.1 Cơ sở xác định nghĩa vụ giao hàng của người vận chuyển 35
1.2.2 Định nghĩa nghĩa vụ giao hàng của người vận chuyển 40
1.2.3 Ý nghĩa pháp lý của nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển 43
CHƢƠNG 2: NGHĨA VỤ GIAO HÀNG CỦA NGƢỜI VẬN CHUYỂN THEO
PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC 47
2.1 Nội dung nghĩa vụ giao hàng của người vận chuyển 47
2.1.1 Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm 47
2.1.2 Nghĩa vụ giao hàng đúng giờ 58
2.1.3 Giao hàng đúng người nhận 66
2.2 Giao hàng và giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển 81
2 3 So sánh nghĩa vụ giao hàng theo Hợp đồng vận chuyển và Hợp đồng mua bán
hàng hoá 88
2
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ
và phát triển nền thương mại quốc tế. Vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được
thực hiện thông qua hình thức hợp đồng - cơ sở để xác lập và thực hiện quan hệ
dịch vụ vận chuyển giữa người thuê vận chuyển và người vận chuyển. Việt Nam là
một nước giàu tiềm năng về biển và đang mở rộng quan hệ thương mại với quốc tế
nên việc phát triển ngành kinh doanh vận chuyển đường biển quốc tế là một nhiệm
vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện. Cùng với nỗ lực của
toàn Đảng, toàn dân thực hiện “Chiến lược biển đến năm 2020”; cùng với nỗ lực
của các nhà lập pháp mong muốn xây dựng cho Việt Nam một hệ thống pháp luật
hàng hải và thương mại toàn diện, phù hợp với pháp luật quốc tế, thì việc nghiên
cứu về hợp đồng vận chuyển đường biển quốc tế có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trong tổng thể các vấn đề pháp lý của hợp đồng vận chuyển đường biển,
nghĩa vụ giao hàng của người vận chuyển là một nội dung không thể thiếu được của
hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, tôi tập trung sự quan tâm của
mình vào chế định này vì ba lý do sau:
Thứ nhất: giao hàng bản thân nó liên quan đến mối quan hệ pháp lý vượt ra
ngoài một loại hợp đồng. Giao hàng không chỉ là nội dung của hợp đồng vận
chuyển mà còn cả hợp đồng mua bán hàng hoá. Đồng thời vấn đề này cũng liên
quan đến luật dân sự, chế định tài sản, chế định hợp đồng, luật thương mại và những
luật khác nữa. Phân định được mối quan hệ này sẽ cho tôi cơ hội nghiên cứu một
cách toàn diện một vấn đề pháp lý nhưng được đặt trong những chế định pháp luật
khác nhau và có tính logic về tư duy.
4
Thứ hai: quan trọng hơn là sự thiếu vắng một hệ thống pháp luật hiện hành
hoàn chỉnh liên quan đến vấn đề giao hàng. Hầu hết những công ước quốc tế như
Quy tắc Hague, Hague-Visby và luật quốc gia trong lĩnh vực này như các đạo luật
về hàng hải ở nhiều nước cũng tập trung chủ yếu vào việc quy định quyền và nghĩa
vụ của người vận chuyển trong quá trình vận chuyển và đảm bảo an toàn cho hàng
hoá, trong khi chỉ có vài lời giải thích chi tiết về giao hàng. Và hệ quả là, rất khó
khăn để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ việc giao hàng vì pháp luật thực định
nét tương đồng như vậy là một điều không những lý thú mà còn hứa hẹn thu được
những kết quả bổ ích cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước. Với tư
cách là một nước láng giềng với Trung Quốc với kim ngạch trao đổi thương mại
hàng năm rất cao, có lẽ việc tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc sẽ trở nên hợp
lý và cần thiết đối với Việt Nam.
2. PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở xem xét tất cả sự phát triển cũng như những tranh luận xung
quanh vấn đề giao hàng trong vận chuyển đường biển, cuối cùng tôi quyết định lấy
chủ đề gây tranh cãi này để làm luận văn của mình. Phải lưu ý rằng, trách nhiệm
giao hàng được nghiên cứu và phân tích trong phạm vi luận văn này được hiểu theo
nghĩa hẹp, tức là việc chuyển giao quyền chiếm hữu hàng hóa từ người vận chuyển
(tiếng Anh gọi là “carrier”) sang người nhận hàng (tiếng Anh gọi là “consignee”),
tại đó, người vận chuyển hoàn thành nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa theo hợp đồng
vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
Mục đích cuối cùng của tôi sau khi hoàn thành luận văn sẽ là có được một
nghiên cứu toàn diện về pháp luật liên quan đến nghĩa vụ giao hàng của người vận
chuyển. Hi vọng lớn nhất là công trình nghiên cứu này sẽ:
6
- Có giá trị như một nguồn tham khảo đối với những người công tác tại
các hãng tàu; những người tham gia trực tiếp vào quan hệ vận chuyển
hàng hoá bằng đường biển;
- Rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng để góp phần hoàn thiện hệ
thống pháp luật trong lĩnh vực giao hàng ở Việt Nam.
Trong luận văn này, tôi kỳ vọng giải quyết được những vấn đề cơ bản sau
đây:
- Ý nghĩa pháp lý của việc giao hàng của người vận chuyển;
- Thời điểm việc giao hàng được xem là hoàn thành;
- Người vận chuyển phải chịu trách nhiệm gì khi giao hàng không đúng
người, đặc biệt là trường hợp giao hàng mà không xuất trình vận đơn;
nghiên cứu so sánh pháp luật và đối chiếu với thực tiễn.
Việc nghiên cứu lý thuyết tập trung vào hệ thống pháp luật liên quan đến
hợp đồng vận chuyển đường biển ở cả Trung Quốc và các nước khác. Bên cạnh đó,
nghiên cứu những chế định pháp luật khác mang tính bổ trợ như pháp luật hợp
đồng, pháp luật về tài sản.
Phương pháp nghiên cứu so sánh được áp dụng trong trường hợp pháp luật
của Trung Quốc sẽ được so sánh với pháp luật của các nước thuộc hệ thống thông
luật và hệ thống luật Châu Âu lục địa như Anh, Mỹ, Đức và các nước Bắc Âu để rút
ra được những nhận định mang tính khách quan nhất.
Để đảm bảo lý thuyết và thực tiễn luôn được đặt song song với nhau, việc
nghiên cứu các vụ việc cụ thể là một phần không thể thiếu trong luận văn này.
Những vụ việc của Trung Quốc được đưa vào một cách hợp lý để chứng minh một
cách chi tiết và hỗ trợ cho việc phân tích các vấn đề pháp lý được đưa ra.
8
Cuối cùng, trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi sẽ tiến hành một số cuộc
phỏng vấn với những người làm việc trực tiếp trong các công ty tàu biển, đại lý tàu
biển, toà án và các thiết chế nghiên cứu ở Việt Nam để việc rút ra các kinh nghiệm
của Trung Quốc áp dụng vào Việt Nam sẽ có cơ sở thực tiễn hơn.
được chấp nhận rộng rãi trong các đạo luật quốc gia và các công ước quốc tế từ đó
cho đến nay. Tuy nhiên, mặc dù Luật Harter đã thiết lập những nghĩa vụ của người
vận chuyển trong đó có nghĩa vụ giao hàng hợp thức thì đạo luật này và những đạo
10
luật sau này cũng không dành sự quan tâm thích đáng, đầy đủ đối với chế định giao
hàng.
Luật Harter và luật của những quốc gia đó đã phản ánh đươc khát vọng xây
dựng một hệ thống quy định chắc chắn và thống nhất về trách nhiệm của người vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển. Công ước thống nhất các quy tắc pháp lý liên
quan đến vận đơn năm 1924 được gọi là Những quy tắc Hague là một thành quả đối
với mục đích này. Theo quy tắc này, “vận chuyển hàng hoá” là giai đoạn “tính từ
thời điểm bốc hàng cho đến thời điểm dỡ hàng khỏi tàu”. Tuy nhiên, nghĩa vụ giao
hàng vượt ra khỏi phạm vi của công ước này vì quy định của công ước chỉ tập trung
vào quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển đối với việc đảm bảo an toàn hàng
hoá.
Bản sửa đổi quy tắc Hague là quy tắc Hague Visby cũng không giải quyết
được những hạn chế trước đây về phạm vi điều chỉnh của công ước, bởi vậy giao
hàng vẫn là vấn đề công ước không đề cập đến.
Công ước quốc tế về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển năm 1978 gọi
là Quy tắc Hamburg không điều chỉnh chế định vận đơn mà điều chỉnh trực tiếp hợp
đồng vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, ở phương diện của người được giao
hàng thì vấn đề người vận chuyển sẽ phải chịu trách nhiệm gì khi giao hàng sai và
những vấn đề tương tự không được điều chỉnh ở quy tắc này.
Với nỗ lực khắc phục các nhược điểm nêu trên của các công ước trước đó,
dưới sự chủ trì của Uỷ ban Liên hiệp quốc vế Luật thương mại quốc tế -
UNCITRAL cùng với sự phối hợp của Uỷ ban Hàng hải quốc tế - CMI, một công
ước mới đã ra đời nhằm thay thế 3 công ước nói trên mang tên Công ước của Liên
hiệp quốc về hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng
đường biển (Công ước Rotterdam). Sự tiến bộ đáng kể của công ước được đánh giá
Nhìn chung Công ước này đã có sự cân bằng đáng kể giữa quyền lợi người
vận chuyển và chủ hàng so với Quy tắc Hague - Visby. Ngày 23 tháng 9 năm 2009
vừa qua đại diện 20 nước thành viên Liên hiệp quốc chiếm 25% khối lượng thương
12
mại quốc tế đã tụ họp tại thành phố Rotterdam Hà Lan để ký kết “Công ước Liên
hiệp quốc về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế một phần hoặc toàn bộ bằng
đường biển” - Công ước Rotterdam. Theo Điều 94, Công ước này sẽ có hiệu lực sau
một năm kể từ khi đủ 20 nước phê chuẩn, chấp nhận, thông qua hoặc gia nhập. Một
khi có hiệu lực, Công ước Rotterdam chắc chắn sẽ góp phần từng bước loại bỏ chủ
nghĩa cục bộ bản vị trong thương mại và hàng hải quốc tế, từ đó đẩy nhanh tốc độ
toàn cầu hóa nói chung và tốc độ chu chuyển thương mại quốc tế nói riêng.
Bên cạnh những công ước quốc tế nêu trên, một vài công cụ mang tính
quốc tế cũng có liên quan đến vấn đề giao hàng như Bộ quy tắc thống nhất về vận
đơn đường biển CMI. Tuy nhiên, sự tìm hiểu về những quy định này vẫn còn giới
hạn.
Nói chung, hệ thống pháp luật quốc tế về hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển đã có tương đối lâu đời, tuy nhiên, cho đến nay, một bộ quy tắc
đầy đủ và thống nhất điều chỉnh được tất cả các quan hệ pháp lý và thương mại
trong quá trình thực hiện một hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đồng
thời cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan trong hợp đồng vẫn còn là điều đang
phải nghiên cứu thêm.
1.1.1.2 Pháp luật Trung Quốc
Theo truyền thống, Trung Quốc và một trong các nước theo hệ thống luật
Châu Âu lục địa (Civil Law), nói cách khác là hệ thống luật thành văn. Nhìn chung,
nguồn luật bao gồm các văn bản luật. Do Trung Quốc không trở thành thành viên
của bất kỳ công ước nào trong bốn công ước quốc tế về hàng hải nêu trên, hệ thống
pháp luật về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển chỉ bao gồm pháp luật trong
nước.
Mặc dù các nguyên tắc được thiết lập bởi Luật Dân sự sẽ được áp dụng
chung cho hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển nhưng đạo luật này
không quy định bất kỳ một điều khoản nào về hợp đồng vận chuyển cũng như chế
định giao hàng trong hợp đồng vận chuyển.
b. Bộ luật Hàng hải Trung Quốc
Vào những năm 50 của thế kỷ 20, vào thời kỳ đầu xây dựng nước Cộng
hoà Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, nước này đã đề xuất soạn thảo Bộ luật Hàng hải.
Rất nhiều dự thảo đã được soạn nhưng quá trình đó đã bị ngắt quãng bởi “Cách
mạng văn hoá” và những bạo động thường xuyên xảy ra.
Kể từ khi Trung Quốc ban hành chính sách đổi mới và mở cửa cho đến
cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, khát vọng ban hành một bộ luật hàng hải trở nên
mạnh mẽ hơn bao giờ hết với sự phát triển nhanh chóng của hoạt động ngoại
thương và hàng hải. Dự thảo lại tiếp tục con đường của nó. Bộ luật Hàng hải của
nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa cuối cùng được thông qua tại Phiên
họp thứ 28, Ủy ban thường trực Quốc Hội khóa VII ngày 7/11/1992, được ban hành
bằng Lệnh số 64 của Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 7/11/1992
và có hiệu lực ngày 01/7/1993 sau hai chục bản dự thảo trong vài thập kỷ.
Với một trong những mục đích chính là “điều chỉnh mối quan hệ phát sinh
từ vận chuyển hàng hải và mối quan hệ liên quan đến tàu biển,” Bộ luật Hàng hải
Trung Quốc thiết lập một hệ thống hoàn chỉnh về hoạt động hàng hải ở Trung Quốc
và những nội dung trong phạm vi điều chỉnh của bộ luật từ “tàu biển” cho đến “hợp
đồng vận chuyển hàng hoá/hành khách bằng đường biển”, “charter parties - hợp
đồng cho thuê tàu biển (một phần hoặc toàn bộ tàu) trong một khoảng thời gian
(ngắn hoặc dài) hoặc cả một chuyến đi cụ thể. Người ta nói rằng, nguồn gốc của từ
này xuất phát từ chữ Latin cổ “carta partita” hoặc “charta partita” hoặc “charta
divisa”, theo đó, một thoả thuận được xé ra làm hai mảnh, mỗi bên giữ một mảnh.
Chứng cứ về toàn bộ hợp đồng sẽ không khó để bị nghi ngờ nếu một bên không hợp
15
tác - phương pháp hiện đại là sao chụp hợp đồng cho mỗi bên 1 bản được đánh giá
Bên cạnh những quy định về trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển và
người thuê vận chuyển, chương này còn quy định chức năng và nội dung của các
chứng từ vận chuyển, chứng từ giao hàng cũng như hợp đồng thuê tàu chuyến, hợp
đồng vận chuyển đa phương tiện … Những quy định trong chương này sẽ không thể
áp dụng đối với vận chuyển hàng hải giữa các cảng nội địa ở Trung Quốc, do đó bộ
luật này chỉ áp dụng đối với hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế.
Ngoại trừ một số quy định về hợp đồng thuê tàu chuyến, những điều khoản
còn lại trong chương này mang tính bắt buộc. Điều 44 Bộ luật Hàng hải Trung
Quốc chỉ rõ “bất cứ quy định nào trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
biển hoặc vận đơn hoặc những chứng từ tương tự hợp đồng khác vi phạm những
quy định tại chương này đều vô hiệu…” và đạo luật không cho phép thoả thuận làm
giảm trách nhiệm của người vận chuyển trong khi việc thoả thuận tăng trách nhiệm
thì được phép.
Quy định liên quan trực tiếp đến giao hàng nằm ở Phần 5 Chương IV
“Giao hàng”. Những quy định ở phần này liên quan đến hiệu lực pháp lý của việc
thông báo tổn thất đối với hàng hoá, việc kiểm tra hàng, tạm chuyển hàng vào kho
khi không có ai nhận và quyền cho phép chủ nợ nhận thế chấp hàng hoá.
Bộ luật Hàng hải Trung Quốc là một công cụ hiệu quả và giữ một vị trí
quan trọng trong lĩnh vực hàng hải và là một đạo luật quan trọng nhất dùng để áp
dụng cho hợp đồng vận chuyển bằng đường biển ở Trung Quốc, công trình nghiên
cứu của tôi tập trung chủ yếu vào đạo luật này.
c. Luật hợp đồng Trung Quốc
Tiến trình phát triển của luật hợp đồng Trung Quốc liên quan đến sự thay
đổi của nền kinh tế Trung Quốc. Vào ngày 13 tháng 12 năm 1981, Luật hợp đồng
17
kinh tế Trung Quốc (sau đây gọi là Luật hợp đồng kinh tế) có hiệu lực. Là sản phẩm
của nền kinh tế kế hoạch, đạo luật đã thể hiện rõ mục đích “hỗ trợ phát triển nền
kinh tế kế hoạch”, và chỉ có những tổ chức xã hội chủ nghĩa mới được giao kết “hợp
đồng kinh tế”. Với sự khôi phục lại “nền kinh tế thị trường” và hệ thống sở hữu cá
Luật Hợp đồng áp dụng cho hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường
thuỷ nội địa. Ở vấn đề vận chuyển hàng hoá quốc tế thì luật ưu tiên áp dụng tuân
theo quy tắc xung đột pháp luật, mối quan hệ giữa Bộ luật Hàng hải và Luật Hợp
đồng là luật chung và luật riêng. Một mặt, theo nguyên tắc lex specialis derogat
generali, những quy định của Bộ luật Hàng hải sẽ được ưu tiên áp dụng khi khác với
những quy định của Luật Hợp đồng. Mặt khác, mặc dù không có quy định cụ thể ở
một vấn đề nhất định thì những quy định ở luật chung trong lĩnh vực đó vẫn có thể
được áp dụng. Khi Bộ luật Hàng hải không quy định cụ thể tất cả các vấn đề của
hợp đồng vận chuyển bằng đường biển (một vài khía cạnh đã được nêu ở trên) thì
Luật Hợp đồng sẽ được áp dụng cho những vấn đề đó bao gồm cả vấn đề giao hàng.
Quả thực là, Luật Hợp đồng đã điều chỉnh một loạt các vấn đề liên quan đến hợp
đồng vận chuyển bằng đường biển ví dụ như hình thức hợp đồng, sự thay đổi,
chuyển nhượng và chấm dứt hợp đồng, quyền kiểm soát hàng hoá bởi người thuê
tàu, trách nhiệm bồi thường thiệt hại….
Chương 17 “Hợp đồng vận chuyển” theo Luật Hợp đồng liên quan đến hợp
đồng vận chuyển hành khách và hàng hoá cũng như hợp đồng vận chuyển đa
phương thức.
Điều 308 của luật này quy định người thuê tàu có quyền thay đổi điểm đến
hoặc người nhận hàng cũng như quyền tạm hoãn việc vận chuyển, yêu cầu trả lại
hàng trước khi giao [19]. Điều này đã cho người thuê tàu quyền rất rộng trong việc
kiểm soát việc vận chuyển và giao hàng. Những nghiên cứu cụ thể hơn về quyền
của người thuê tàu trong hợp đồng vận chuyển ở các trường hợp khác nhau sẽ được
trình bày tại chương sau.
19
Điều 309 quy định nghĩa vụ nhận hàng của người nhận hàng. Thêm vào đó,
Điều 316 cho phép người vận chuyển gửi hàng khi không xác định được người nhận
hoặc người nhận từ chối nhận hàng mà không có lý do chính đáng, đây là giải pháp
cho người vận chuyển khi hàng hoá không được nhận. Luật Hợp đồng quy định việc
kiểm tra hàng là quyền và nghĩa vụ của người nhận hàng khi nhận hàng, và giải
vận chuyển hàng hóa bằng đường biển - Quy tắc Hamburg năm 1978, theo đó, hợp
đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được hiểu là “bất kì hợp đồng nào mà
theo đó người vận chuyển đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển từ
một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước” (Điều 1.6 Quy tắc
Hamburg).[24]
Định nghĩa về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển như vậy
cũng tương đồng với quy định tương tự trong pháp luật Việt Nam. Cụ thể, Điều
70.1 Bộ luật Hàng hải Việt nam 2005 quy định “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đường biển là hợp đồng được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê
vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận
chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng nhận hàng đến cảng
trả hàng”.
Nhìn chung, quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
của Trung Quốc cũng như Việt Nam khá thống nhất với luật pháp và tập quán phổ
biến trên thế giới. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia vào môi
trường thương mại cũng như pháp lý quốc tế của các quốc gia như Trung Quốc và
Việt Nam.
21
1.1.3 Địa vị pháp lý của các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hoá
bằng đƣờng biển
1.1.3.1 Ngƣời thuê vận chuyển
Người thuê vận chuyển, theo định nghĩa tại Điều 42.3 Bộ Luật Hàng hải
Trung Quốc, là:
“a) Người tự mình hoặc nhân danh người đó hoặc theo ủy quyền của
người đó giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người vận
chuyển;
b) Người tự mình hoặc nhân danh người đó hoặc theo ủy quyền của người
đó giao hàng hóa cho người vận chuyển có liên quan trong hợp đồng vận chuyển
hàng hóa bằng đường biển.”
của người thuê vận chuyển. Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, người thuê
vận chuyển có các nghĩa vụ cơ bản sau đây:
(i) Đóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hóa và chịu trách nhiệm về
tính chính xác của các thông tin trên bao bì hàng hóa (Điều
66 Bộ Luật Hàng hải Trung Quốc);
(ii) Thực hiện các thủ tục cần thiết tại cảng liên quan đến hải
quan, kiểm tra hàng hóa…, cung cấp cho người vận chuyển
các chứng từ cần thiết liên quan đến các thủ tục mà người
thuê vận chuyển đã tiến hành và chịu trách nhiệm về tính
chính xác cũng như về các thiệt hại do việc cung cấp không
đầy đủ các tài liệu, chứng từ đó (Điều 67 Bộ Luật Hàng hải
Trung Quốc);
23
(iii) Thông báo đầy đủ cho người vận chuyển biết các thông tin về
hàng hóa trong trường hợp hàng hóa vận chuyển là hàng
nguy hiểm (Điều 68 Bộ Luật Hàng hải Trung Quốc);
(iv) Thanh toán phí vận chuyển (Điều 69 Bộ Luật Hàng hải Trung
Quốc) [18].
Quy định về nghĩa vụ của người thuê vận chuyển theo pháp luật Trung Quốc
tương đối đầy đủ hơn sơ với Bộ Luật Hàng hải Việt Nam 2005. Bộ luật Hàng hải
Việt Nam, tiếp thu quan điểm của Các quy tắc Hamburg, chỉ quy định các nghĩa vụ
cơ bản nhất của người thuê vận chuyển như thanh toán phí và thông báo về hàng
nguy hiểm. Các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặc tập
quán thương mại.
1.1.3.2 Ngƣời vận chuyển
Điều 42 Chương IV Bộ luật Hàng hải Trung Quốc quy định “người vận
chuyển là người tự mình hoặc nhân danh người đó ký hợp đồng vận chuển hàng
hoá bằng đường biển với người thuê vận chuyển”. Định nghĩa này giống với định
nghĩa về người vận chuyển quy định tại Điều 1 của Quy tắc Hamburg.
bằng đường biển người vận chuyển chủ yếu là có nghĩa vụ, bao gồm :
- Nghĩa vụ bốc hàng lên tàu tại cảng bốc hàng.
25
- Nghĩa vụ thông báo thời gian tàu sẵn sàng cho việc bốc hàng.
- Nghĩa vụ đưa tàu vào cảng bốc hàng đúng thời gian đã thông báo.
- Nghĩa vụ chuẩn bị tàu đảm bảo tình trạng kỹ thuật, các hầm hàng đủ tỉêu
chuẩn để bảo quản hàng hoá.
- Nghĩa vụ chăm sóc, bảo quản hàng hoá.
- Nghĩa vụ vận chuyển hàng hoá đến cảng đích.
- Nghĩa vụ đi đúng tuyến đường theo thoả thuận hoặc theo tập quán.
- Nghĩa vụ dỡ hàng và chăm sóc hàng hoá trong thời gian dỡ hàng.
- Nghĩa vụ giao hàng đúng người.
- Nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.
- Nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian đã thoả thuận.
Các nghĩa vụ nêu trên có thể được chỉ ra trong Bộ luật Hàng hải Trung Quốc
một cách rõ ràng hoặc ngầm định; hoặc có thể không đầy đủ đối với hàng hoá đóng
container và hàng hoá không đóng container nhưng tựu trung lại, những nghĩa vụ
nêu trên là những nghĩa vụ khái quát và cơ bản nhất của người vận chuyển mà Bộ
luật hàng hải Trung Quốc điều chỉnh. Sự phân tích sâu sắc hơn sẽ được bàn luận ở
chương 2.
1.1.3.3 Ngƣời nhận hàng
Điều 41 Bộ luật Hàng hải Trung Quốc quy định “Người nhận hàng là người
có quyền nhận hàng”.
Khoản 5 Điều 72 Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Khoản 4 Điều 1 Quy tắc
Hamburg đều có quy định tương tự như vậy.