Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ CHUYÊN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ ATVSLĐ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ
PHÁP LUẬT NƢỚC NGOÀI VỀ ATVSLĐ 7
1.1. Khái quát về ATVSLĐ 7
1.1.1. TNLĐ và BNN - các tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới 7
1.1.2. Yêu cầu đặt ra về xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ 8
1.2. Pháp luật quốc tế về ATVSLĐ 11
1.2.1. Quan niệm về ATVSLĐ 11
1.2.2. Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ 17
1.2.3. Vai trò của pháp luật quốc tế trong việc đảm bảo ATVSLĐ 25
1.3. Pháp luật một số quốc gia về ATVSLĐ 28
1.3.1. Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Hàn quốc 28
1.3.2. Luật An toàn và sức khoẻ công nghiệp của Nhật Bản 29
1.3.3. Bộ luật Lao động Philipin 31
1.3.4. Luật Sức khoẻ và an toàn nơi làm việc của Singapore 32
1.3.5. Kinh nghiệm xây dựng và triển khai Luật ATVSLĐ của một số quốc
gia trên thế giới 34

Chƣơng 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ATVSLĐ 37
2.1. Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ 37
2.1.1. Những vấn đề lý luận về ATVSLĐ 37
2.1.2. Đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước 43
2.1.3. Thực tiễn về công tác ATVSLĐ ở Việt Nam 48

Nội dung từ
1.
ATLĐ
An toàn lao động
2.
ATVSLĐ
An toàn vệ sinh lao động
3.
BHLĐ
Bảo hộ lao động
4.
BNN
Bệnh nghề nghiệp
5.
ĐKLĐ
Điều kiện lao động
6.
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
7.
NLĐ
Người lao động
8.
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
9.
TCVN
Tiêu chuẩn Quốc gia Việt Nam
10.
TNLĐ


1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc
tế, Việt Nam đã đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề vững chắc đưa đất nước chuyển sang
một thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ sự phát triển đó
và với những đổi mới trong công tác quản lý Nhà nước về lao động, công tác
an toàn vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là ATVSLĐ) được quan tâm đầy đủ
hơn, điều kiện làm việc, sức khỏe NLĐ từng bước được cải thiện. Thực tiễn
đó thể hiện chính sách, chiến lược vì con người của Đảng và Nhà nước, luôn
luôn chăm lo và coi trọng quyền và lợi ích của NLĐ.
Bên cạnh đó, vấn đề về bảo vệ an toàn tính mạng và sức khoẻ con
người cũng được quan tâm hơn. Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo hộ
lao động (sau đây viết tắt là BHLĐ), công tác ATVSLĐ, điều này được thể
hiện trong nội dung Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, Hiến pháp năm 1946,
Hiến pháp 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 1992, Pháp lệnh BHLĐ
năm 1991 và Bộ luật Lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung các năm
2002, 2006, 2007), kế thừa và phát huy các quy định trong Bộ luật Lao động
trước đây, trong Bộ luật Lao động năm 2012, vấn đề ATVSLĐ được quy định
thành một chế định riêng biệt, ngoài ra các quy định chi tiết, hướng dẫn của
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã có tác dụng tích cực trong việc
phòng ngừa tai nạn lao động (sau đây viết tắt là TNLĐ), bệnh nghề nghiệp
(sau đây viết tắt là BNN), bảo vệ sức khỏe NLĐ, góp phần vào sự phát triển
sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác
quốc tế, hòa nhập với các nước trong khu vực và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong những năm gần đây do những nguyên
nhân khách quan và chủ quan khác nhau về việc làm, đời sống, sự xuống cấp

2
và lạc hậu của thiết bị công nghệ, hạ tầng, tình hình vi phạm các quy định

đến lao động.
Đề tài nghiên cứu “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp
luật Việt Nam về ATVSLĐ” nhằm nghiên cứu và làm rõ những quy định của
pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ,
qua đó tìm ra những thiếu hụt, những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt
Nam, tìm hiểu sự chuyển hóa pháp luật quốc tế vào pháp luật Việt Nam, kinh
nghiệm quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về ATVSLĐ góp phần hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với xu thế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
ATVSLĐ là vấn đề được quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều
độc giả, những sản phẩm nghiên cứu được biết đến như: “Danh mục trang bị
phương tiện bảo vệ cá nhân”, NXB Lao động - Xã hội, 2004; “Công tác
BHLĐ trong nông nghiệp, nông thôn”, NXB Lao động – Xã hội, 2010; “Hồ
sơ quốc gia về ATVSLĐ”, NXB Lao động – Xã hội; “Chiến lược toàn cầu về
ATVSLĐ”, kết luận của Hội nghị Lao động quốc tế, kỳ họp thứ 91 của năm
2003, Văn phòng ILO, 2003; “Hệ thống quốc gia về ghi chép và thông báo về
BNN”, Văn phòng ILO, 2013.
Một số Báo, Tạp chí có những bài viết sâu sắc đánh giá về vấn đề
ATVSLĐ như “Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy
hiểm” TS. Triệu Quốc Lộc Tạp chí BHLĐ tháng 4/2012.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế xã hội của
các giải pháp cải thiện môi trường và điều kiện làm việc cho NLĐ và xây
dựng mối quan hệ với năng suất lao động nhằm nâng cao tính cạnh tranh và
bảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” Chủ nhiệm đề tài GS.TS. Lê
Vân Trình, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ, năm 2011; “Nghiên

4
cứu xây dựng chiến lược và các biện pháp cơ bản để giám sát, dự phòng và xử
lý các nguy cơ ô nhiễm môi trường lao động ảnh hưởng tới sức khỏe NLĐ”
Chủ nhiệm đề tài PGS. TS Nguyễn An Lương, Viện Nghiên cứu khoa học kỹ

Nội dung về ATVSLĐ là một đề tài quan tâm của nhiều độc giả, nhiều
nhà nghiên cứu, nên những công trình liên quan đến nghiên cứu vấn đề
ATVSLĐ đã được quan tâm nhiều, tuy nhiên nghiên cứu về pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ thì chưa có nhiều. Đề tài nghiên cứu
mang tính xây dựng, trên cơ sở tham khảo bài viết của các nhà nghiên cứu,
nhà khoa học về vấn đề này đưa ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn
thiện pháp luật trong nước về vấn đề này.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài chủ yếu hướng vào các đối tượng là
NLĐ Việt Nam, người học nghề, tập nghề và một số đối tượng là lao động
đặc thù, người sử dụng lao động (sau đây viết tắt là NSDLĐ), người lao động
(sau đây viết tắt là NLĐ) nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của Đề tài tập trung vào hệ thống pháp luật quốc tế
(Công ước quốc tế về nhân quyền và một số Công ước quốc tế của ILO),
trong quá trình nghiên cứu có đề cập đến pháp luật về ATVSLĐ của một số
quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Philipin, Singapore) và nghiên cứu hệ thống
pháp luật của Việt Nam về an toàn vệ sinh lao động.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả đã sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có phương pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp thống kê, thông qua thống kê các số liệu về
TNLĐ và quá trình áp dụng các quy định về ATLĐ trong các doanh nghiệp
nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư nước ngoài,

6
công ty liên doanh, công ty cổ phần.v.v
Thứ hai, phương pháp phân tích, học viên đưa ra những quy định của
pháp luật Việt Nam trên cơ đó phân tích những điểm phù hợp, những điểm
chưa phù hợp với những quy định của Công ước.
Thứ ba, phương pháp so sánh, trên cơ sở những phân tích và bình luận

của thế giới
Theo ước tính của Tổ chức lao động quốc tế (sau đây viết tắt là ILO)
hàng năm có khoảng 337 triệu vụ Tai nạn lao động xảy ra trên thế giới và 2,3
triệu người chết do các bệnh liên quan đến lao động [88]. Thiệt hại do
TNLĐ, BNN ước tính khoảng 4% GDP của toàn thế giới. Ở một số nước có
thu nhập cao, khoảng 40% số người nghỉ hưu trước tuổi là bị thương tật do
lao động. Tính trung bình số thời gian bị rút ngắn này khoảng 5 năm, tương
đương 14% độ dài thời gian có khả năng làm việc của lực lượng lao động.
Tính trung bình 5% lực lượng lao động nghỉ việc do ảnh hưởng sức khoẻ
trong lao động, 1/3 số người thất nghiệp do bị suy giảm khả năng lao động,
làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của xã
hội loài người. Các nghiên cứu tình hình TNLĐ hàng năm trên thế giới cho
thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43
người/100.000 lao động [60].
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115
triệu NLĐ của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc
BNN hàng năm. Số người chết vì TNLĐ là hơn 8000 người/ năm. Thiệt hại
kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm. Ở Đức, điều kiện lao động (sau đây viết tắt là
ĐKLĐ) xấu gây thiệt hại là 52 tỉ đê mác/năm. Ở Anh, chi phí cho người bị
tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công
nghiệp của Anh. Tại Hà Lan, chi phí cho TNLĐ, BNN bằng khoảng 4% GDP.

8
Tại Mỹ, mỗi ngày có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153
người chết do TNLĐ, BNN thiệt hại kinh tế hàng năm do tai nan lao động
xảy ra trong công nghiệp là 190 tỉ đô la Mỹ [13].
Tại Châu Á, nhiều nước với sự năng động việc tập trung mọi nỗ lực
cho phát triển kinh tế bắt đầu từ thập kỉ sáu mươi của thế kỉ 20 đã đem đến
cho khu vực này một sự khởi sắc mới về phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện
chất lượng cuộc sống. Nhiều công nghệ, kĩ thuật mới đã được đưa vào ứng

Xuất phát từ mục đích trên, ILO đã ban hành “Hướng dẫn về hệ thống
quản lý an toàn lao động” năm 2001, nhằm tạo một công cụ hỗ trợ thiết thực
cho các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền cũng như các biện pháp để không
ngừng hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn lao động (sau đây viết tắt là
ATLĐ). Hệ thống quản lý ATLĐ mà tổ chức lao động quốc tế khuyến nghị
chính là kết quả đút rút kinh nghiệm thực tế đa dạng ở nhiều nước, từ đó xây
dựng thành một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác động tích cực
trong việc giảm thiểu nguy cơ cũng như hợp lý hoá quá trình và tăng năng suất
lao động, làm cho các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ngày càng
được phổ biến rộng rãi và hình thành xu thế hội nhập của các nước đang phát
triển. Mục tiêu của hệ thống quản lý ATLĐ là góp phần bảo vệ NLĐ khỏi các
nguy cơ rủi ro và dần tiến đến loại trừ mọi TNLĐ, BNN và giảm tỷ lệ tử vong
liên quan đến quá trình lao động. Đồng thời khuyến nghị của ILO có giá trị
tham khảo và sử dụng trực tiếp trong việc hình thành khung hệ thống quản lý
ATLĐ cấp quốc gia. Bên cạnh đó còn giúp cho các cơ sở sản xuất chủ động tổ
chức thực hiện việc tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về ATLĐ đáp ứng
những nhu cầu thực tế và phù hợp với tính chất hoạt động của đơn vị.
Hướng dẫn của Tổ chức Lao động quốc tế đã nêu rõ quan điểm ATLĐ
bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về ATLĐ theo đúng pháp luật và các quy

10
định của quốc gia là trách nhiệm và nghĩa vụ của NSDLĐ, NLĐ cần được chỉ
đạo và cam kết thực hiện các hoạt động ATLĐ và tạo điều kiện để thiết lập hệ
thống ATLĐ tại cơ sở. Hướng dẫn chỉ rõ khung quốc gia về hệ thống quản lý
ATLĐ mà ILO khuyến nghị bao gồm 3 yếu tố chủ đạo: Chính sách quốc gia,
hướng dẫn quản lý Nhà nước và hướng dẫn triển khai thực hiện.
Trên cơ sở hướng dẫn về “Hệ thống quản lý ATLĐ” năm 2001 của ILO
đã tạo tiền đề cho việc định hướng cũng như hoàn thiện hệ thống quản lý
ATLĐ và là tiêu chí chính thức để đánh giá công tác này trong hoạt động sản
xuất ở các nước. Hầu hết mô hình quản lý Nhà nước về ATLĐ ở các nước đều

và vệ sinh lao động [67].
Từ năm 1950, Tổ chức Lao động quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới đã
chia sẻ một định nghĩa chung về sức khỏe nghề nghiệp, định nghĩa này được
thông qua bởi Ủy ban về sức khỏe nghề nghiệp tại phiên họp đầu tiên vào
năm 1950 và được sửa đổi tại kỳ họp thứ mười hai trong năm 1995. Trong
định nghĩa khuyến cáo, sức khỏe nghề nghiệp nên nhằm mục đích thúc đẩy
và duy trì mức độ cao nhất về các mặt vật chất, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro
từ việc làm của họ do các yếu tố bất lợi cho sức khỏe, cần đặt và bảo đảm
NLĐ làm việc trong môi trường nghề nghiệp phù hợp với khả năng sinh lý
và tâm lý của NLĐ.
Trọng tâm chính trong sức khỏe nghề nghiệp là trên ba mục tiêu khác
nhau: (i) duy trì và nâng cao sức khỏe NLĐ và khả năng lao động, (ii) cải
thiện môi trường làm việc để việc làm trở thành an toàn và có lợi cho sức
khoẻ và (iii) phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe và an
toàn tại nơi làm việc, khi đạt được các yếu tố trên sẽ thúc đẩy một môi
trường xã hội tích cực và hoạt động trơn tru và có thể nâng cao năng suất lao
động. Khái niệm về văn hóa làm việc được nêu ra trong bối cảnh trên đã
phản ánh các hệ thống giá trị chủ yếu thông qua các nhân tố có liên quan.
Văn hóa việc làm như vậy cần được áp dụng trong thực tế các hệ thống quản

12
lý, chính sách nhân sự, nguyên tắc tham gia, chính sách đào tạo và quản lý
chất lượng công việc [85].
Trong những năm 1980, khái niệm "phát triển bền vững" lần đầu tiên
được nhấn mạnh, trong đó bao gồm "quyền có một cuộc sống lành mạnh và
hài hòa với thiên nhiên" (nguyên tắc đầu tiên của Tuyên bố Rio, Hội nghị
Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển). Mục tiêu của một môi trường an
toàn và lành mạnh sẽ trở thành một phần của khái niệm phát triển bền vững,
trong đó cũng có nghĩa cân bằng giữa bảo vệ sức khoẻ và cơ hội về việc làm,
cải thiện đời sống và sức khỏe cho NLĐ, gồm môi trường làm việc và sức

nhận thực tế là các tổ chức ATLĐ, y tế ở cấp độ doanh nghiệp thường bao
gồm các dịch vụ riêng biệt ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, cũng như các ủy
ban an toàn và sức khỏe.
Ở một mức độ nhất định, ATLĐ và phòng ngừa có quan hệ chặt chẽ
với các công nghệ được sử dụng, đến quá trình sản xuất và quản lý hàng ngày,
trong đó tập trung nhiều vào các mối quan hệ giữa công việc và sức khỏe, đặc
biệt là về công tác giám sát môi trường làm việc và sức khỏe của NLĐ, cũng
như yếu tố con người và các khía cạnh làm việc. Ở cấp độ doanh nghiệp, các
kỹ sư có một sự hiện diện cần thiết và không thể tách rời với quá trình quản lý
(kỹ sư sản xuất, bảo dưỡng, kỹ thuật viên.v.v ), trong khi đó sức khỏe nghề
nghiệp và vệ sinh đòi hỏi sự can thiệp của các chuyên gia trong lĩnh vực y tế,
những người hoạt động thông qua hình thức tư vấn hoặc hoạt động theo tổ
dịch vụ y tế lao động bên ngoài.

14
Bất cứ cách thức sắp xếp tổ chức và các thuật ngữ được sử dụng trong
doanh nghiệp, điều quan trọng nhất là người quản lý sản xuất và chuyên gia y
tế làm việc chú trọng về hợp tác và phối hợp trong việc xây dựng và thực hiện
chương trình hành động, cũng như sự phát triển của khái niệm thống nhất,
chẳng hạn như "nền văn hóa làm việc" (văn hóa an toàn, văn hóa BHLĐ, văn
hóa doanh nghiệp) có lợi cho an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc và "nâng
cao chất lượng tiếp tục" điều kiện làm việc và môi trường.
Ủy ban về sức khoẻ nghề nghiệp năm 1992 giữa ILO/WHO cũng nhấn
mạnh rằng phạm vi sức khỏe nghề nghiệp rất rộng (Bảng 1.2), bao gồm các
ngành như y học, điều dưỡng, vệ sinh lao động (sau đây viết tắt là VSLĐ),
ATLĐ, kỹ thuật, chất độc, môi trường vệ sinh, tâm lý học lao động và quản lý
nhân sự. Sự hợp tác và tham gia của NSDLĐ và NLĐ trong các chương trình
sức khỏe nghề nghiệp là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho thực hành sức
khỏe nghề nghiệp thành công.
Bảng 1.2. Năm nguyên tắc và ba cấp độ cho một sức khỏe nghề nghiệp tốt [86]

Năm 1950
Năm 1950
Năm 1910
Nhóm (nhóm tiếp
xúc, nhu cầu đặc
biệt)
Môi trường
làm việc an
toàn và lành
mạnh
Được xây
dựng trong an
toàn
Y học nghề
nghiệp Máy bảo vệ Thái bao gồm
thiết kế Chương trình
nâng cao sức
khỏe của NLĐ Lập kế hoạch

khỏe

Chữa bệnh
chăm sóc sức
khỏe
Phục hồi chức
năng
Năm 1970
Năm 1960
Năm 1970
Năm 1970
Năm 1920

15
Ủy ban về Sức khỏe và Môi trường của WHO một lần nữa tiếp tục
công nhận "các hình thức phát triển cần thiết để bảo vệ sức khỏe sẽ phụ thuộc
vào nhiều điều kiện, trong đó có yếu tố môi trường, trong khi phát triển mà
không quan tâm đến môi trường chắc chắn sẽ dẫn đến suy giảm sức khỏe con
người" (WHO 1992). Trong bối cảnh đó, sức khỏe nghề nghiệp được công
nhận là một "giá trị gia tăng", là một đóng góp tích cực cho sự phát triển quốc
gia và một điều kiện phát triển bền vững.
Tuyên bố và Chương trình hành động được thông qua tại Hội nghị
Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội được tổ chức tại Copenhagen vào
năm 1995. Hội nghị thượng đỉnh chỉ ra rằng mục tiêu không phải để tạo ra bất
kỳ loại công việc nào, mà công việc đảm bảo chất lượng để bảo vệ các quyền
và lợi ích cơ bản của NLĐ, ngoài ra việc tạo ra việc làm chất lượng tốt phải
bao gồm các biện pháp để đạt được một môi trường làm việc lành mạnh và an
toàn, để loại bỏ các mối nguy hiểm tới sức khỏe và đảm bảo ATLĐ. Đây là
một dấu hiệu cho thấy triển vọng của sức khỏe nghề nghiệp cũng có thể hợp
tác tích cực trong việc điều hoà việc làm, y tế và môi trường đối với sự phát

2006 có quy định: “TNLĐ” để chỉ trường hợp NLĐ bị thương, bệnh tật hoặc
thiệt mạng vì các công trình, thiết bị, nguyên vật liệu, khí, hơi, bụi.v.v… trong
lao động hoặc do các hoạt động lao động hoặc do công việc yêu câu sự có mặt
của NLĐ [58]. Mục đích của Luật này cùng với Luật Tiêu Chuẩn Lao Động
năm 1947 của Nhật Bản nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của NLĐ ở nơi
làm việc, cũng như để tạo ra một môi trường làm việc thoải mái, bằng cách
thúc đẩy các biện pháp phòng ngừa TNLĐ một cách toàn diện và hệ thống, ví
dụ như xây dựng các tiêu chuẩn về phòng ngừa nguy hiểm, làm rõ trách
nhiệm thuộc về ai và thúc đẩy các hoạt động tình nguyện để tuyên truyền các
biện pháp phòng ngừa TNLĐ.
Như vậy, quan niệm về ATVSLĐ theo khuyến cáo của Uỷ ban về sức

17
khỏe nghề nghiệp ILO/WHO và quy định trong Luật an toàn và sức khoẻ
công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ (Chúng ta sẽ nghiên cứu ở mục
1.3) được hiểu thông qua cách diễn đạt khác nhau, tuy nhiên đều hướng đến
mục đích về bảo vệ sức khoẻ của con người, bảo đảm NLĐ có môi trường
làm việc an toàn và thuận lợi để phát huy tối đa khả năng cống hiến của NLĐ,
nhằm đảm bảo sức khoẻ cao nhất của NLĐ bao gồm cả mặt vật chất lẫn tinh
thần, tránh cho NLĐ khỏi những rủi ro về TNLĐ, BNN, những yếu tố bất lợi
cho sức khỏe của NLĐ tại nơi làm việc, đảm bảo NLĐ có một công việc an
toàn và khoẻ mạnh.
Hiện nay, ATVSLĐ được xem xét không chỉ “gói gọn” trong vấn đề về
tính mạng, sức khoẻ của NLĐ mà thông điệp này còn được các chuyên gia
quốc tế xem xét dưới góc độ nhân quyền, nó gắn bó mật thiết với bảo vệ môi
trường và biến đổi khí hậu của toàn cầu.
1.2.2. Một số quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ATVSLĐ
Quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nằm trong nội hàm của
quyền có mức sống thích đáng được nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền năm 1948, theo đó, mọi người có quyền được hưởng một mức sống

22 năm 2002 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng liên quan đến
sức khoẻ và mối quan hệ với ATVSLĐ trong Điều 7 như sau:
Thứ nhất, chăm sóc sức khoẻ là một quyền con người cơ bản, không
thể thiếu để thực hiện các quyền khác. Mọi người có quyền được hưởng tiêu
chuẩn chăm sóc sức khoẻ cao nhất có thể đạt được để sống một cuộc sống có
nhân phẩm. Hiện thực hóa quyền được chăm sức khoẻ có thể được thực hiện
thông qua nhiều cách tiếp cận bổ trợ nhau, chẳng hạn như xây dựng chính
sách y tế, hoặc thực hiện các chương trình y tế do WHO triển khai, hoặc ban
hành những văn bản pháp luật cụ thể.

19
Thứ hai, quyền được chăm sóc sức khoẻ liên quan mật thiết và phụ
thuộc vào việc hiện thực hoá các quyền con người khác, bao gồm các quyền
sống, quyền về lương thực, nhà ở, việc làm, giáo dục, nhân phẩm, bình đẳng,
không phân biệt đối xử, cấm tra tấn, bảo vệ đời tư, tiếp cận thông tin, và các
quyền tự do lập hội, hội họp, đi lại. Đặc biệt quyền được chăm sóc sức khoẻ
có mối quan hệ mật thiết với chính sách của Nhà nước ban hành về đảm bảo
điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, làm việc trong môi trường an
toàn và vệ sinh.
Thứ ba, Điều 12 của Công ước không bao gồm định nghĩa về sức khoẻ,
tuy nhiên có thể liên hệ đến định nghĩa được nêu trong lời nói đầu của Điều lệ
của WHO, theo đó sức khoẻ được xác định là “trạng thái thỏa mái về điều
kiện thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ thuần tuý là không có bệnh tật
hay không ổn định”. Vì vậy, quyền được chăm sóc sức khoẻ được hiểu là
quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hoá, dịch vụ và điều kiện
cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khoẻ cao nhất có thể.
Thứ tư, quyền được chăm sóc sức khoẻ phụ thuộc vào những yếu tố cơ
bản là (i) Khả năng sẵn có về cơ sở chăm sóc sức khoẻ và y tế công, các loại
hàng hoá và dịch vụ, cũng như các chương trình chăm sức khỏe của quốc gia
thành viên và (ii) Khả năng có thể tiếp cận của mọi người với các cơ sở chăm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status