I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG ANH TUN
PHáP LUậT Về GIảI QUYếT TRANH CHấP GIữA NHà ĐầU TƯ
NƯớC NGOàI
Và CHíNH PHủ VIệT NAM TRONG BốI CảNH VIệT NAM GIA
NHậP
CáC HIệP ĐịNH Tự DO THƯƠNG MạI THế Hệ MớI
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG ANH TUN
PHáP LUậT Về GIảI QUYếT TRANH CHấP GIữA NHà ĐầU TƯ
NƯớC NGOàI
Và CHíNH PHủ VIệT NAM TRONG BốI CảNH VIệT NAM GIA
NHậP
CáC HIệP ĐịNH Tự DO THƯƠNG MạI THế Hệ MớI
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 8380101.05
LUN VN THC S LUT HC
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
...........................................................................................................................1
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.......................................................................................................1
Tôi xin chân thành cảm ơn!...............................................................................1
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................104
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AANZFTA
Hiệp định đầu tư Asean – Australia – New Zealand
ACIA
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN năm 2009
BIT
Hiệp định đầu tư song phương (Bilateral Investment Treaty)
BTA
Hiệp định thương mại song phương (Bilateral Trade Agreements)
CHND
HĐ
Hiệp định
HĐTT
Hội đồng trọng tài
ICSID
Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư
IGA
Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm 1987
ISDS
Investor State Dispute Settlement – Giải quyết tranh chấp giữa
nhà đầu tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư
LĐT
Luật Đầu tư
LTTTM
Luật Trọng tài thương mại
Ủy ban nhân dân
UNCITRAL Ủy ban của Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1.
Bảng số liệu thống kê các vụ khởi kiện theo quốc tịch
Error:
nhà đầu tư nước ngoài tính đến cuối năm 2014
Referen
ce
source
not
found
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
không thống nhất về quan điểm giữa một bên là nhà đầu tư và một bên là cơ
quan quản lý nhà nước.
Việc ký kết và tham gia các Hiệp định thương mại đa phương như Hiệp
định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP –
Comprehensive and progressive Agreement for Trans-Pacific partnership) hay
Hiệp định Thương mại tự do Châu Âu và Việt Nam (Free Trade Agreement
between the European Union and the Socialist Republic of Vietnam on Trade
Relations - EVFTA)… sẽ giúp các hoạt động hợp tác thương mại và đầu tư
giữa Việt Nam và các nước không ngừng gia tăng. Cùng với đó, các tranh
chấp về thương mại, đầu tư, đặc biệt là tranh chấp giữa NĐTNN và cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam cũng sẽ xuất hiện nhiều hơn.
Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một vấn đề khó, điều này đòi hỏi vừa để
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu tư nước ngoài, vừa để đảm bới lợi ích của
nhà nước. Xuất phát từ tầm quan trọng và tính chất thời sự của vấn đề, tác giả
chọn đề tài: “Pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài
và Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam gia nhập các hiệp định tự do
thương mại thế hệ mới” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi tranh chấp đầu tư xuất hiện trên thế giới, các công trình nghiên
cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) và
nước tiếp nhận đầu tư (NTNĐT) đã được các nhà khoa học, các học giả trong và
ngoài nước nghiên cứu, bình luận. Các bình luận chuyên sâu gây được chú ý
như: Investment Dispute Settlement Navigator do tổ chức UNTAD công bố
2
ngày 9 tháng 10 năm 2015; Investor – State Dispute Settlement: Review of
developments in 2014 UNTAD công bố ngày 2 tháng 5 năm 2014; Investment
công nghiệp Việt Nam (VCCI) về các quy định đầu tư trong hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới.
Do đó, có thể khẳng định chưa có công trình nghiên cứu bình luận
chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư theo quy định của các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về việc vận dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư
giữa NĐTNN và NTNĐT là cả một hệ thống các vấn đề lý luận trên cơ sở
phân tích, so sánh đi tìm các điểm tương đồng và khác biệt, các mặt thuận lợi
và khó khăn khi áp dụng cơ chế ISDS tại Việt Nam so với các quốc gia khác
trên thế giới. Từ đó, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của
đất nước là nội dung quan trọng, cần thiết. Việc hiểu đúng, hiểu đủ có thể vận
dụng để phòng tránh và bảo vệ sự an toàn của môi trường đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam.
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ
nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp
đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và và quốc gia tiếp nhận đầu tư;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh
chấp đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà
đầu tư nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo
pháp luật Việt Nam;
- Các quy định các phương thức giải quyết tranh chấp đầu tư của một
số quốc gia trên thế giới.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu khoa học sẽ làm rõ cơ chế giải quyết tranh chấp giữa
NĐTNN và nhà nước Việt Nam bằng trọng tài theo quy định của pháp luật
Việt Nam. Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị đối với các doanh nghiệp cũng
như cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi hàng loạt Hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới có hiệu lực thi hành.
Nghiên cứu về việc vận dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa
NĐTNN và NTNĐT là cả một hệ thống các vấn đề lý luận trên cơ sở phân tích,
so sánh đi tìm các điểm tương đồng và khác biệt, các mặt thuận lợi và khó khăn
khi áp dụng cơ chế ISDS tại Việt Nam so với các quốc gia khác trên thế giới. Từ
đó, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của đất nước là nội
dung quan trọng, cần thiết. Việc hiểu đúng, hiểu đủ có thể vận dụng để phòng
tránh và bảo vệ sự an toàn của môi trường đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các sinh viên, các nhà
nghiên cứu và những nhà hoạt động thực tiễn trong việc nghiên cứu và áp
dụng các quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam nhằm giải quyết tranh
chấp có thể phát sinh trong thời gian tới.
7. Kết cấu luận văn
Dựa trên mục đích và yêu cầu của đề tài, ngoài phần Mở đầu, Kết luận
và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu
tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư.
Chương 2: Cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa nhà đầu
tư nước ngoài và nước tiếp nhận đầu tư tại Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước
Việt Nam – Phương hướng, kiến nghị vận dụng hiệu quả cơ chế giải quyết tranh
chấp đầu tư của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vào Việt Nam.
6
vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan” [14, Điều 3, Khoản 1]. Tuy nhiên, tại Luật Đầu tư
Việt Nam năm 2014 thuật ngữ “đầu tư" đã được thay thế bằng thuật ngữ “đầu
tư kinh doanh”. Theo đó, tại Luật đầu tư 2014 quy định đầu tư kinh doanh
được hiểu là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh
doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc
thực hiện dự án đầu tư” [17, Điều 3, Khoản 5].
Theo khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư 2014, vốn đầu tư được hiểu là tiền
và các tài sản khác để thực hiện đầu tư kinh doanh. Trong khi đó, theo Điều
163 BLDS 2005 và Điều 105 BLDS 2015, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản. Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam,
một tài sản sẽ được coi là vốn đầu tư nếu tài sản đó được sử dụng để thực hiện
hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau.
Trong các Hiệp định về thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các
nước, hầu như không giải thích khái niệm “đầu tư” mà chủ yếu giải thích
thuật ngữ “khoản đầu tư” investment [5]. Khoản 2, Điều 1 Hiệp định về Tự
do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản (2004), thuật ngữ “khoản
đầu tư” được định nghĩa là “tất cả các loại tài sản được sở hữu hoặc quản lý
trực tiếp hay gián tiếp bởi một nhà đầu tư, bao gồm: a) Doanh nghiệp…; b)
cổ phiếu, cổ phần…; c) trái phiếu….”.
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2000) quy
định “Khoản đầu tư” là:
Mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một Bên do các công
dân hoặc công ty của Bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay
8
9
rằng việc một tài sản có được coi là đầu tư hay không sẽ phải dựa trên đặc
điểm của tài sản đó. Do trong định nghĩa, CPTPP chỉ dùng liên từ “hoặc…
hoặc… hoặc…” (or…or…or…), tức là một tài sản chỉ cần đáp ứng một trong
ba đặc tính nêu trên sẽ được tự động coi là khoản đầu tư và ngược lại. Như
vậy, phạm vi của định nghĩa “khoản đầu tư” được mở rộng hơn rất nhiều.
CPTPP quy định “khoản đầu tư” bao gồm: doanh nghiệp; cổ phiếu, cổ phần
và các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp; trái phiếu, trái khoán, các công
cụ nợ khác và các khoản cho vay; hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn… [39]. Trong định nghĩa cũng nêu rõ “đầu tư không có nghĩa là lệnh
hoặc phán quyết theo thủ tục hành chính hoặc tư pháp”. Điều đó có nghĩa là
tính chất của hoạt động đầu tư, chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư hay các
khoản đầu tư đều phải mang đầy đủ các đặc điểm của một giao dịch dân sự.
Hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua hợp đồng đầu tư hoặc các hình
thức đầu tư được quy định, miễn không phải là do sự áp đặt ý chí của bất kỳ
chính phủ quốc gia nào lên nhà đầu tư, hay là một thủ tục tư pháp của quốc
gia có khoản đầu tư).
Ta có thể so sánh với cách định nghĩa về “khoản đầu tư” trong Hiệp
định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) [70]. Theo
đó, “khoản đầu tư” là mọi loại tài sản được sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp
hay gián tiếp bởi nhà đầu tư của một Bên trong lãnh thổ Bên kia, có đặc điểm
của khoản đầu tư như cam kết về vốn hoặc các nguồn lực khác, kì vọng về lợi
nhuận hoặc gánh chịu rủi ro và trong một thời hạn nhất định [40]. Về cơ bản,
cách định nghĩa này tương đồng với cách định nghĩa của CPTPP về các đặc
tính cần có của một khoản đầu tư.
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) [3] khẳng định, tài sản
không có một trong các đặc điểm: cam kết về vốn hoặc các nguồn lực khác, kì
vọng về lợi nhuận hoặc gánh chịu rủi ro sẽ không được cho là khoản đầu tư.
Tranh chấp là một khái niệm pháp lý có rất nhiều cách hiểu và định
nghĩa khác nhau. Theo từ điển pháp lý Black’s Law Dictionary, “tranh chấp”
11
được hiểu là những bất đòng hay mâu thuẫn về quyền lợi hay các yêu cầu, đòi
hỏi giữa hai chủ thể” [38, tr.1021]. Tòa án thường trực về công lý quốc tế
(PCIJ) đã đưa định nghĩa rộng về tranh chấp, đó là sự bất đồng trên cơ sở
pháp luật hay thực tế, sự mâu thuẫn về quan điểm pháp lý hoặc về quyền lợi
giữa hai chủ thể [56, tr.11].
Trong BTA Việt Nam – Hoa Kỳ (2000), hai quốc gia đã nhất trí xác
định: “Tranh chấp đầu tư là tranh chấp giữa một bên và công dân hoặc công
ty của bên kia phát sinh từ hoặc có liên quan đến một chấp thuận đầu tư, một
thỏa thuận đầu tư hoặc sự vi phạm bất kỳ quyền nào được quy định, thiết lập
hoặc thừa nhận…” [30]. Ta có thể thấy, ngôn ngữ và cách thể hiện của Hoa
Kỳ và Việt Nam trong BTA có nhiều điểm tương đồng với các quy định của
các BTA, FTA, BIT khác.
Đối với văn bản pháp luật của Việt Nam, tại Khoản 1, Điều 2 Quy chế
phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (Ban hành hành kèm theo
Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng
Chính phủ), giải thích:
Tranh chấp đầu tư quốc tế là tranh chấp phát sinh từ việc
NĐTNN kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là
Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan
nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan
nhà nước) dựa trên cơ sở:
a) Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định
thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích
và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (sau đây gọi chung là
thể hóa. Căn cứ để quyết định một nhà đầu tư nước ngoài theo các hiệp định
về đầu tư thường là quốc tịch của nhà đầu tư đó. Quốc tịch của nhà đầu tư sẽ
ảnh hưởng đến phạm vi bảo hộ của các FTA, BTA do các hiệp định này được
ký kết với mục đích bảo hộ các hoạt động đầu tư nước ngoài.
13
Nhà nước tiếp nhận đầu tư (hay quốc gia tiếp nhận đầu tư) cũng là thuật
ngữ không được đề cập trong các hiệp định đầu tư. Tuy nhiên, xét ở góc độ
“Nhà đầu tư nước ngoài”, nhà nước tiếp nhận đầu tư được hiểu là quốc gia cho
phép nhà đầu tư nước ngoài có các hoạt động đầu tư diễn ra trên phạm vi lãnh
thổ quốc gia đó. Trong các hiệp định thương mại tự do, nhà nước tiếp nhận đầu
tư là một bên ký kết trong mối quan hệ với nhà đầu tư của bên ký kết khác.
Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư có
một số đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, về chủ thể. Tranh chấp phát sinh giữa hai chủ thể có địa vị
pháp lý khác nhau: nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư.
Nếu như trong quan hệ đầu tư quốc tế, địa vị pháp lý của nhà đầu tư
nước ngoài do quốc tịch của nhà đầu tư quyết định, thì địa vị pháp lý của nhà
nước lại do tập quán ngoại giao quyết định. Nhà nước là chủ thể đặc biệt
trong các quan hệ tư pháp quốc tế và có quyền miễn trừ tư pháp và quyền
miễn trừ đối với tài sản của quốc gia. Chính bởi vậy, nhà nước ở vị thế có lợi
hơn so với nhà đầu tư nước ngoài, nhà nước tiếp nhận đầu tư hoàn toàn có
quyền không thực hiện phán quyết hay bất kỳ biện pháp cưỡng chế nào khi vi
phạm thỏa thuận đầu tư.
Tuy nhiên, với sự phát triển thương mại toàn cầu, rất nhiều quốc gia
trên thế giới đã áp dụng quyền miễn trừ tương đối cho nhà nước, theo đó, việc
miễn trừ tư pháp này được áp dụng cho các giao dịch không mang tính
thương mại. Điều này được thể hiện ở việc các quốc gia chấp nhận việc nhà
và nước tiếp nhận đầu tư
Từ định nghĩa về tranh chấp đầu tư và đặc điểm của tranh chấp này, ta
có thể xác định “giải quyết tranh chấp đầu tư” là các cách thức, biện pháp,
phương tiện được áp dụng để loại bỏ những bất đồng giữa các bên hoặc đưa
ra một phán quyết cuối cùng buộc các bên phải thực hiện để chấm dứt tranh
chấp đầu tư đó.
15
Giải quyết tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN và NTNĐT là một quyền
pháp lý đặc biệt mà chỉ có những người đầu tư vào một quốc gia nước ngoài
mới có thể sử dụng như là một dạng “thách thức luật”, quy định, quyết định tư
pháp hoặc hành chính hoặc các quyết định khác của chính phủ. ISDS cho
phép chủ sở hữu tài sản nước ngoài được bỏ qua tòa án trong nước, các thủ
tục hành chính, điều trần trước hội đồng thành phố… (tất cả những biện pháp
mà nước tiếp nhận đầu tư có thể áp dụng) và kiện nước tiếp nhận đầu tư trước
một “Hội đồng trọng tài” tư nhân (Giống như Thẩm phán, các Trọng tài viên
có quyền đưa ra các quyết định trong các trường hợp. Tuy nhiên, họ không
được bầu cử hay đề cử, bổ nhiệm, và họ không phải chịu áp lực từ bất cứ các
thế lực chính trị nào) [71].
Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư giữa NĐTNN và NTNĐT có
những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Chủ thế giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp thường chia thành nhóm là giải quyết tranh
chấp thông qua các biện pháp ngoại giao và giải quyết tranh chấp thông qua
các cơ quan tài phán. Ứng với mỗi nhóm giải quyết tranh chấp sẽ có những
chủ thể thực hiện khác nhau.
Đối với việc giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoại giao như
thương lượng, trung gian, hòa giải thì chủ thể đầu tiên và chủ yếu nhất chính
bất kỳ người nào không có tư cách pháp nhân nhưng được coi như một công
ty theo pháp luật của Hungaria”
Trong Hiệp định ACIA khẳng định “nhà đầu tư” nghĩa là “thể nhân,
hoặc pháp nhân của một Quốc gia thành viên đang, hoặc đã tiến hành hoạt
động đầu tư trong lãnh thổ của bất kì Quốc gia Thành viên khác ”. Theo
CPTPP, “nhà đầu tư” là “công dân hoặc doanh nghiệp của một Bên” “chuẩn
bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đầu tư trong lãnh thổ của bên
khác” [2]. Tại phần footnote số 12, thuật ngữ “chuẩn bị thực hiện” (attempts
17