Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DIỆP THỊ THANH XUÂN VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


HÀ NỘI – 2009 Môc lôc
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Ch-¬ng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ NHÃN
HIỆU NỔI TIẾNG
7
1.1.
Khái quát lịch sử phát triển của nhãn hiệu hàng hóa
7

Khuyến nghị chung liên quan đến các quy định về bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng
28
2.2.
Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng một số nước trên
thế giới
29
2.2.1.
Pháp luật Nhật Bản
29
2.2.1.1.
Luật nhãn hiệu Nhật Bản
30
2.2.1.2.
Phân biệt nhãn hiệu nổi tiếng - nhãn hiệu rất nổi tiếng
36
2.2.1.3.
Các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng ở Nhật Bản
36
2.2.1.4.
Kết quả của cuộc điều tra về danh mục nhãn hiệu nổi tiếng
ở Nhật Bản
39
2.2.2.
Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Liên minh Châu Âu
41
2.2.2.1.
Quy chế 40/94 EC của Hội đồng Châu Âu năm 1993
41
2.2.2.2.

3.4.
Phạm vi bảo hộ
68
3.4.1.
Bảo hộ chống lại việc đăng ký
68
3.4.2.
Bảo hộ chống lại việc sử dụng bất hợp pháp
71
3.5.
Quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng
73
3.6.
Thời hạn bảo hộ
76
3.7.
Vấn đề quyền ưu tiên
78

KẾT LUẬN
79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
83 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

hiệu và sản phẩm của chủ nhãn hiệu.
Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường, xuất hiện những
nhãn hiệu nổi trội hơn vô vàn những nhãn hiệu khác nhờ sự sử dụng lâu dài
trên thị trường, với chất lượng, tính chất đặc trưng, cũng như những uy tín mà
hàng hóa mang lại. Những nhãn hiệu như vậy là sự kết tinh nỗ lực kinh doanh
của một doanh nghiệp về cả vật chất lẫn trí tuệ, thường có giá trị tài sản rất
lớn. Tất nhiên những nhãn hiệu như vậy cũng luôn trở thành mục tiêu cho sự
làm giả, sao chép, lợi dụng uy tín của các đối thủ cạnh tranh cũng như những 2
kẻ làm ăn bất chính. Nhu cầu đòi hỏi phải tạo lập một chế độ đặc biệt hơn cho
loại nhãn hiệu này - các nhãn hiệu nổi tiếng (Well-known marks).
Việc áp dụng quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng (NHNT) tỏ ra
rất hiệu quả trong việc bảo hộ nhãn hiệu được nhiều người ưa chuộng cũng
như bảo hộ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều khó
khăn và sự không đồng nhất của việc bảo hộ NHNT trong phạm vi Việt Nam
và trên bình diện quốc tế. Đó là các thủ tục cụ thể công nhận NHNT, việc
thống nhất các tiêu chí công nhận NHNT và việc hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực này.
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề này là rất quan trọng nhằm góp
phần hỗ trợ các cơ quan chức năng hoàn thiện cơ chế bảo hộ NHNT, đồng
thời đảm bảo một môi trường canh tranh lành mạnh cho phát triển kinh tế và
xuất nhập khẩu, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những người có
quyền. Từ đó, các doanh nghiệp cũng biết được lợi ích và phương cách xây
dựng nhãn hiệu của mình trở nên nổi tiếng cũng như bảo hộ hữu hiệu chúng
và mặt khác tránh được các vi phạm các nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của
người khác trong quá trình kinh doanh trong nội địa cũng như trên thị trường
quốc tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu

Lê Hồng Hạnh chủ nhiệm đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Tư pháp năm 2000): Pháp
luật về sở hữu trí tuệ - Thực trạng và hướng phát triển trong những năm đầu thế
kỷ XXI; PGS.TS. Đinh Văn Thanh, Luật gia Đinh Thị Hằng: Nhãn hiệu hàng
hóa trong pháp luật dân sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, tập II, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1997; PGS.TS Lê Hồng Hạnh: Thương hiệu hay
nhãn hiệu hàng hóa, Tạp chí Luật học, số 6/2003;
Nếu như vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) nói chung đã
được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau thì vấn đề bảo hộ NHHH nổi
tiếng vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ. Một số bài báo, tạp chí chuyên ngành
cũng đã khai thác vấn đề này ở các khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, chưa có 4
công trình nghiên cứu nào đề cập riêng một cách tương đối đồng bộ và có hệ
thống. Đặc biệt, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề này
cũng đòi hỏi cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc
hơn. Vì vậy, luận văn sẽ tiếp cận, nghiên cứu tương đối có hệ thống về mặt lý
luận và thực tiễn của vấn đề bảo hộ NHNT, sự khác biệt giữa bảo hộ NHNT
và NHHH thông thường cũng như vai trò cần thiết của việc bảo hộ NHNT
trong quan hệ thương mại quốc tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, khái niệm NHNT và các tiêu chí để xác định thế nào là
NHNT trong pháp luật quốc tế vẫn chưa rõ ràng và lại được quy định khác
nhau ở các quốc gia. Trong khi đó, chúng ta biết hiện nay nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam ra thế giới là rất lớn.
Vì vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn là thông qua việc tìm hiểu
pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước tiêu biểu trên thế giới về bảo hộ
NHNT, luận văn sẽ góp phần phục vụ cho công tác thực tiễn của các luật sư
tư vấn và những người hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT). Đồng

4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn hướng tới làm rõ các vấn đề về thủ tục xác lập quyền như:
định nghĩa NHNT, các tiêu chí xác định NHNT. Đồng thời làm rõ các quy
định liên quan đến nội dung quyền của các chủ sở hữu NHNT như: các quy
định về việc xác định hành vi xâm phạm quyền, các chứng cứ bảo vệ quyền
của chủ sở hữu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp để làm rõ định nghĩa, khái niệm và
các tiêu chí xác định NHNT
- Phương pháp so sánh đối chiếu từ đó rút ra các điểm tương đồng và
các điểm khác biệt giữa pháp luật các nước 6
- Phương pháp trừu tượng khoa học nhằm mục đích khái quát các hiện
tượng phổ biến.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý
luận trong khoa học chuyên ngành pháp luật quốc tế khái niệm nhãn hiệu
hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn góp phần hoàn thiện cơ chế bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa
nổi tiếng, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Những giải pháp được nêu trong luận văn có tác dụng thiết thực đối
với các doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp của mình. Đối với ngành Tòa án nhân dân, những kiến nghị có
liên quan đến hoạt động của Tòa án nhân dân sẽ góp phần quan trọng vào việc

trung cổ. Chỉ riêng trong lĩnh vực sản xuất đồ gốm, các nhà khảo cổ học đã
xác định được 6000 nhãn hiệu của các loại đồ gốm thời La mã cổ đại (Sisfilla)
đã được sử dụng để nhận biết các loại đồ gốm được sản xuất từ những xưởng
thủ công nhất định.
Tuy nhiên, các nhãn hiệu này thông thường mới chỉ là các vết khắc
của các hình vẽ nhỏ hoặc các dạng hình học. Đây là các dấu hiệu đơn giản.
Mặc dù còn rất đơn giản nhưng các dấu hiệu đó được coi là "tổ tiên" của nhãn
hiệu hàng hóa ngày nay. Các dấu hiệu được sử dụng, nhiều trường hợp là các
chữ ký của các chủ sở hữu trên các sản phẩm, là các dấu hiệu có chức năng
xác định xưởng sản xuất ra loại đồ gốm đó (xác định nguồn gốc sản phẩm) và
phân biệt sản phẩm của xưởng này với sản phẩm của xưởng khác. 8
Trong thời kỳ này chưa có tự do cạnh tranh thương mại, nhưng các
dấu hiệu đó trở thành công cụ nhằm loại bỏ sự lẫn lộn, nhầm lẫn sản phẩm
của các chủ sở hữu khác nhau trong quá trình vận chuyển, xác định sản phẩm
thuộc về chủ sở hữu hợp pháp. Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ trong suốt thời
kỳ cổ đại nhãn hiệu dưới hình thức tồn tại đơn giản thực hiện chức năng chủ
yếu là chỉ rõ nguồn gốc của sản phẩm và cho phép xác định rõ chủ sở hữu hay
người sản xuất ra sản phẩm đó.
Cũng từ hình thức tồn tại đơn giản, sơ khai của nhãn hiệu người ta đã
tìm thấy những đặc tính quan trọng của nhãn hiệu. Theo ý kiến của nhà
nghiên cứu người Pháp ANDREA SEMPRINI, trong tác phẩm: "Que Sais je?
LA MARQUE" (Tôi hiểu gì về nhãn hiệu), có bốn đặc tính quan trọng của
nhãn hiệu, như sau:
Thứ nhất, khi nhãn hiệu được gắn lên sản phẩm thì người ta đã đánh
dấu sự nhận dạng, nhận biết sản phẩm đó thông qua nhãn hiệu. Lý do của
hành động này rất đơn giản, vì trong quá trình vận chuyển có sự lẫn lộn các
sản phẩm có nguồn gốc khác nhau, của nhiều chủ sở hữu khác nhau mà các

trước các hành vi chiếm đoạt của người khác. Ngay từ thế kỷ XIII, luật pháp
của các vương quốc đã xác lập các hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi
chiếm đoạt các nhãn hiệu.
Chức năng chủ yếu của nhãn hiệu vẫn là phương tiện để kiểm tra việc
lưu thông thương mại của các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ các xưởng
sản xuất của các thợ cả, thành viên của các nghiệp đoàn. Chức năng chinh
phục khách hàng chưa được đề cao trong thời kỳ này. Các nhãn hiệu tập thể là
căn cứ để chứng minh các thợ thủ công thành viên của nghiệp đoàn này
không xâm phạm đến lĩnh vực thuộc nghiệp đoàn khác quản lý. Đồng thời nó
bảo đảm cho công chúng biết được chất lượng của sản phẩm, nâng cao sự tin
tưởng của họ vào người sản xuất. Các nhãn hiệu đã chứa đựng trong nó tính
chất của dấu hiệu phân biệt mà một nhãn hiệu hiện đại cần phải có. 10
Ở Pháp trong giai đoạn cách mạng tư sản nhiều luật lệ đã được ban
hành có ảnh hưởng tới sự phát triển của nhãn hiệu. Pháp luật cách mạng đã
tuyên bố tự do thương mại và tự do công nghiệp thông qua luật Le Chapelier
các ngày 2-17 tháng ba năm 1791. Luật này đã xóa bỏ tất cả các nghiệp đoàn
của các phường hội và thợ cả. Cùng bị chi phối bởi Luật đó tất cả các dấu
hiệu phân biệt có liên quan đến các nghiệp đoàn và đặc biệt là các nhãn hiệu
bắt buộc đã biến mất. Tuy nhiên nguyên tắc tự do thương mại và công nghiệp
lại liên quan đến sự thừa nhận tính hợp pháp của các nhãn hiệu cá nhân không
có tính chất bắt buộc.
Việc ra đời của Luật Le Chapelier năm 1791đã dẫn đến hậu quả là có
khoảng trống về luật pháp trừng phạt các hành vi lạm dụng, chiếm đoạt nhãn
hiệu của người khác. Khoảng trống này đã tồn tại trong một thời gian dài và
thực sự ảnh hưởng tới lợi ích của các nhà sản xuất và các thương nhân. Để
bảo vệ lợi ích của mình họ đã đòi hỏi Chính phủ hiện thời tái thiết lập lại trật
tự trong lĩnh vực sử dụng nhãn hiệu thông qua việc ban hành các quy định

nguyên tắc tương xứng giữa tội phạm và hình phạt.
Luật ngày 23-6-1857 của Pháp quy định chi tiết bảo hộ nhãn hiệu
hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ theo nguyên tắc sử dụng đầu tiên.
Luật này được áp dụng ở Pháp cho đến năm 1964 thì bị hủy bỏ.
Không chỉ riêng các quốc gia có nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa
mà trên phạm vi quốc tế nhu cầu chung bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của các
quốc gia đã trở thành cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự có cùng các mục tiêu đã
tăng cường sự hợp tác của các quốc gia trên phạm vi thế giới về bảo hộ nhãn
hiệu hàng hóa. Nhiều nước cùng hợp tác để thiết lập ra các cơ chế quốc tế
trong lĩnh vực này bằng việc ký Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công
nghiệp ngày 20-3-1883 tại Paris, Thủ đô nước Cộng hòa Pháp và Thỏa ước
Mađrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu năm 1891 tại Mađrit, Thủ đô nước Tây 12
Ban Nha. Cơ chế này ngày càng phát triển và đóng vai trò to lớn trong việc
khuyến khích hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới.
Từ những nội dung phân tích trên đây cần rút ra một số nhận xét như
sau:
Các điều kiện kinh tế và sản xuất vật chất tạo tiền đề quan trọng cho
sự xuất hiện và phát triển của nhãn hiệu hàng hóa. Các nhà khoa học đã xác
định được hai giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu hàng
hóa.
Giai đoạn đầu được đánh dấu bằng cuộc cách mạng công nghiệp và bị
chi phối bởi quan niệm hàng hóa. Giai đoạn này chấm dứt vào thời điểm kết thúc
chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Giai đoạn hai bắt đầu từ những năm hai mươi
của thế kỷ XX và đánh dấu sự xuất hiện của nhãn hiệu hiện đại. Giai đoạn này
vẫn đang tiếp tục. Những thay đổi to lớn báo hiệu thời kỳ quá độ mới.
Những tiền đề quan trọng đó là:
Thứ nhất, sự sản xuất hàng loạt theo quy mô công nghiệp, cơ khí hóa

nguồn gốc hàng hoá không có nghĩa là nhãn hiệu phải cho người tiêu dùng
biết người thực sự đã sản xuất ra hàng hoá hay thậm chí là người đang kinh
doanh hàng hoá. Trên thực tế, người tiêu dùng thường không biết tên của nhà
sản xuất, và lại càng không biết chút gì về địa điểm của nhà máy sản xuất sản
phẩm. Nhãn hiệu không cần thiết phải chỉ rõ xuất xứ, chỉ cần người tiêu dùng
tin vào nhà sản xuất là đủ. Bởi vậy, chức năng cá thể hoá của nhãn hiệu thực
chất là đề cập đến một nhà sản xuất cụ thể. Khía cạnh thứ hai của định nghĩa
đề cập đến chức năng phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp này với hàng hoá
của doanh nghiệp khác. Chỉ khi nhãn hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt
được một hàng hoá mang nhãn hiệu của doanh nghiệp này với các hàng hoá 14
của doanh nghiệp khác đưa ra thị trường, thì nhãn hiệu đó mới đạt được chức
năng ban đầu của nó tức là chức năng xác định được nhà sản xuất. Điều này
cho thấy chức năng phân biệt và chức năng chỉ nguồn gốc thực tế là không
tách rời.
Trên cơ sở chức năng của nhãn hiệu, Luật mẫu của WIPO về nhãn
hiệu, tên thương mại và cạnh tranh không lành mạnh năm 1967 đã đưa ra một
định nghĩa như sau: "Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt
hàng hoá của một doanh nghiệp này với đối thủ cạnh tranh". Trong thực tế
kinh doanh, không chỉ có các nhà sản xuất đưa hàng hoá ra thị trường mà còn
có cả các nhà cung cấp dịch vụ cũng cung cấp dịch vụ ra thị trường. Vì vậy,
tất yếu đòi hỏi cũng phải có dấu hiệu để người tiêu dùng có thể phân biệt
được dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ với nhau. Những dấu hiệu được sử
dụng trong trường hợp này được gọi là nhãn hiệu dịch vụ. Nhãn hiệu dịch vụ,
về bản chất cũng giống như nhãn hiệu hàng hoá. Do đó, khái niệm nhãn hiệu
hiện nay theo các điều ước quốc tế về nhãn hiệu và pháp luật của nhiều nước
được quy định với hàm nghĩa bao gồm cả nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu
dịch vụ. Điều này được khẳng định trong điều 15 Hiệp định TRIPS: "Bất kì

doanh nghiệp nhất định, là bên có trách nhiệm về sản phẩm được bán ra mang
NHHH, chịu trách nhiệm về hàng hóa mà không nhất thiết phải có biết cụ thể
doanh nghiệp đó.
Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc như đã nêu trên cho thấy NHHH phân
biệt hàng hóa của một doanh nghiệp này với hàng hóa của những doanh nghiệp
khác, chỉ khi NHHH cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán
dưới nhãn hiệu đó với những hoàng hóa của doanh nghiệp khác bán trên thị
trường thì lúc đó nhãn hiệu đã hoàn thành chức năng này. Điều này cho thấy
không thể tách biệt giữa chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc.
Tóm lại, chúng ta có thể nêu ra các chức năng chính của nhãn hiệu
như sau: 16
a) Chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa, dịch vụ rất đa dạng và phong
phú. Người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ để mua chủ yếu dựa vào các
dấu hiệu hay nhãn hiệu hàng hóa mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh gắn trên
sản phẩm hay bao bì sản phẩm khi đưa ra thị trường. Như vậy, nhãn hiệu hàng
hóa có chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhau. Nhờ có nhãn hiệu hàng hóa mà người tiêu dùng
có thể xác định được hàng hóa, dịch vụ mà mình yêu thích.
b) Chức năng thông tin nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ
Người tiêu dùng quyết định chọn mua một sản phẩm nào đó mà không
hề do dự vì trước đây họ đã mua hàng hóa đó rồi, đã biết hàng hóa của nhà
sản xuất nào và hoàn toàn tin tưởng vào hàng hóa của nhà sản xuất đó. Như
vậy, chỉ cần nhìn vào nhãn hiệu hàng hóa, người tiêu dùng có thể có quyền nghĩ
rằng các sản phẩm mang nhãn hiệu hàng hóa đều có cùng nguồn gốc hoặc có
mối liên hệ giữa các nhà sản xuất khác nhau sử dụng nhãn hiệu hàng hóa
giống nhau. Đối với các hàng hóa nhập khẩu hoặc sản xuất theo hợp đồng li-

sản phẩm của họ. Tuy nhiên chính sự nổi tiếng của NHHH cũng mang lại
không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vì nó sẽ rất dễ bị xâm phạm bởi các
chủ thể khác. Ngày càng có nhiều các hàng hóa và dịch vụ tương tự với
những hàng hóa dịch vụ mang NHNT được sản xuất và điều này đã gây ra sự
nhầm lẫn đối với người tiêu dùng trong việc lựa chọn và sử dụng những hàng
hóa, dịch vụ thật sự mà họ mong muốn. Vì vậy, một trong những vấn đề quan
trọng đặt ra là phải làm thế nào ngăn chặn các hiện tượng xâm phạm đối với
NHHH nổi tiếng như thế. Mặc dù đã được biết đến từ rất lâu, song cho đến
nay cách hiểu về NHNT vẫn còn đang rất khác nhau trong các điều ước quốc
tế cũng như trong pháp luật các nước. Pháp luật của không ít quốc gia đã
không đưa ra được một hệ thống các tiêu chí cụ thể để xác định "nhãn hiệu 18
hàng hóa nổi tiếng". Do vậy, trên thực tế khái niệm này sẽ được xác định bởi
các Tòa Án hay các cơ quan có thẩm quyền trong từng vụ việc cụ thể.
Theo luật NHHH của Nga năm 1992, NHHH nổi tiếng cũng như những
vụ việc, tình huống liên quan đến việc chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu công
nhận đối với NHNT ở Nga sẽ được xem xét bởi Phòng Patent tối cao. Ở
Trung Quốc, thông qua các quy định hiện hành của Luật NHHH và các quy
định hướng dẫn thi hành Luật NHHH, lần đầu tiên Trung Quốc thừa nhận một
cách chính thức NHHH nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của họ dù rằng
Trung Quốc đã chính thức trở thành thành viên của công ước Paris từ rất sớm.
Luật NHHH của Trung Quốc đã đưa ra một định nghĩa về NHHH nổi tiếng
hơi khác so với các nước khác. Cụ thể, NHNT là NHHH được đăng ký mà nó
có một bộ phận khách hàng thực tế và được coi là nổi tiếng trong bộ phận
công chúng liên quan. Như vậy, một NHHH có thể là NHNT ở các nước khác
nhưng chưa được đăng ký ở Trung Quốc thì sẽ không được xem là NHNT để
được hưởng chế độ pháp lý về bảo hộ theo Luật NHHH của nước này.
Mặc dù có sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, chúng ta vẫn có

phận công chúng có liên quan; mức độ được biết đến của nhãn hiệu trong
công chúng; quy mô và khoảng thời gian sử dụng nhãn hiệu; thời gian, mức
độ và phạm vi địa lý của bất kỳ sự quảng cáo hay thông tin cho nhãn hiệu;
mức độ của tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của NHNT; lịch sử của
quá trình thực thi quyền trong việc bảo hộ nhãn hiệu; những quốc gia nơi
nhãn hiệu đã được đăng ký. Những yếu tố trên chỉ là những căn cứ chung
được thừa nhận một cách rộng rãi trong pháp luật của hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Ngoài ra, phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể cũng như quan
điểm lập pháp riêng của mỗi quốc gia mà họ có thể đưa ra các quy định cụ thể
liên quan đến việc thừa nhận các NHNT.
1.3. VAI TRÕ CỦA NHÃN HIỆU, NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG 20
Nhãn hiệu có chức năng chủ yếu là một phương tiện phân biệt hàng
hóa dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Từ chức
năng chủ yếu trên, nhãn hiệu có những vai trò rất to lớn đối với thương mại,
kinh tế - xã hội như sau:
- Giúp người tiêu dùng lựa chọn một cách thuận lợi các hàng hóa, dich
vụ theo các nhu cầu riêng của mình như chất lượng, giá cả, sở thích, thói
quen…của mình.
- Thúc đẩy các cơ sở kinh doanh không ngừng nâng cao năng suất,
chất lượng, tính năng, sự hấp dẫn…của hàng hóa, dịch vụ để uy tín nhãn của
mình ngày càng được nâng cao, dẫn đến kích thích sự phát triển sản xuất,
kinh doanh.
- Nhãn hiệu là công cụ tiếp thị hữu hiệu, một phương tiện quảng cáo,
xúc tiến thương mại hiệu quả nhất. Mọi hoạt động tiếp thị, quảng cáo hay xúc
tiến thương mại đều thực hiện chủ yếu dựa trên nhãn hiệu và nhằm khuyếch
trương việc kinh doanh hàng hóa mang chính nhãn hiệu đó.
- Nhãn hiệu là một trong những cơ sở để các cơ quan pháp luật phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status