1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HỒNG BÍCH
BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
THEO PHÁP LUẬT LIÊN MINH CHÂU ÂU
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VẤN ĐỀ BẢO HỘ
NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Năng
HÀ NỘI - 2012
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
Phân biệt khái niệm nhãn hiệu với thương hiệu
9
1.2.
Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Liên minh
Châu Âu
12
1.3.
Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Liên minh
châu Âu, tương quan so sánh với pháp luật quốc tế và pháp
luật các nước khác
15
1.3.1.
Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Liên minh
Châu Âu
15
1.3.2.
Khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật quốc tế và
17 4
pháp luật các nước phát triển trên thế giới
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN BẢO HỘ
NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU
25
2.1.
Khái quát về Liên minh Châu Âu và quá trình xây dựng hệ
thống pháp luật của Liên minh Châu Âu
25
42
2.3.3.1.
OHIM- Cơ quan đăng ký nhãn hiệu của Liên minh Châu Âu
42
2.3.3.2.
Tòa án Tư pháp Châu Âu
46
Chương 3: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA LIÊN MINH
CHÂU ÂU VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG ĐỐI
VỚI VIỆT NAM
51
3.1.
Những quy định pháp luật và thực tiễn bảo hộ nhãn tiếng
của Việt Nam
51
3.1.1.
Khái niệm và tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng
51
3.1.2.
Xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
53 5
3.1.3.
Nguyên tắc bảo hộ và thời hạn bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
tại Việt Nam
56
3.1.4.
3.3.
Nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng của Việt
Nam từ kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu và thực tiễn
phát sinh tại Việt Nam
66
3.3.1.
Tăng cường vai trò của Nhà nước trong toàn bộ hệ thống
bảo hộ nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng
66
3.3.2.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng
68
3.3.3.
Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong cơ chế thực thi bảo
hộ Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam
73
3.3.4.
Nâng cao ý thức và trình độ nhận thức của cộng đồng, đặc
biệt là các doanh nghiệp Việt Nam
75
KẾT LUẬN
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
80 6
Trang
2.1
Số liệu các vụ việc về nhãn hiệu của EU
47 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
2.1
Khái quát NHNT theo Quy chế nhãn hiệu Cộng đồng
38
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh nước ta đang tiến đến rất gần mục tiêu hội nhập vào
nền kinh tế thế giới, mà cụ thể của quá trình đó chính là việc gia nhập vào Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam sẽ trở thành một thị trường thực
sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Và một thực tế trước mắt
mà bất cứ ai cũng có thể nhìn thấy là đã và sẽ có rất nhiều các nhãn hiệu hàng
học hỏi kinh nghiệm, ứng dụng có hiệu quả và phù hợp với tình hình phát triển
của Việt Nam. Để công tác bảo hộ NHNT của Việt Nam không chỉ hoàn thiện
về mặt pháp luật, bắt kịp với sự hoàn thiện của pháp luật các nước phát triển trên
thế giới mà về thực tiễn đáp ứng được đòi hỏi của các nhà đầu tư nước ngoài
về môi trường pháp lý an toàn cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Đối với các nước phát triển trên thế giới thì vấn đề bảo hộ nhãn hiệu,
NHNT không có gì là xa lạ, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu được
thực hiện liên quan đến NHNT, rất nổi tiếng và nhãn hiệu có danh tiếng.
Trong đó phải kể đến cuốn sách "Famous and well-known marks - An
international analysis" của Frederick W. Mostert, tác phẩm của Mostert đi
sâu vào nghiên cứu những vấn đề pháp lý cụ thể về NHNT như định nghĩa về
NHNT, tiêu chí đánh giá NHNT và rất nổi tiếng, vấn đề thực thi bảo hộ
NHNT ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế. Một công trình khác cũng rất có giá trị
là cuốn sách của Christopher Heath và Kung - Chung Liu, "The protection of
well-known marks in Asia". Tác phẩm được thực hiện bởi một nhóm các nhà
nghiên cứu đến từ các quốc gia châu Âu và châu Á. Cuốn sách không những
giới thiệu hệ thống pháp luật về bảo hộ NHNT của từng quốc gia châu Á mà
đồng thời cung cấp một sự so sánh rất giá trị về cơ chế pháp lý bảo hộ NHNT
giữa ba hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới là hệ thống pháp luật Hoa
Kỳ, hệ thống pháp luật châu Âu và hệ thống pháp luật châu Á. 10
Hiện nay ở Việt Nam cũng có khá nhiều công trình khoa học liên quan
đến đề tài nhãn hiệu, NHNT. Vấn đề về nhãn hiệu được đề cập trong tác
phẩm “Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hiệp định TRIPS” của PGS.TS
Nguyễn Bá Diến năm 2004. Các công trình khoa học đáng chú ý khác liên
quan đến vấn đề nhãn hiệu, NHNT là đề tài khoa học cấp quốc gia năm 2006
“Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội
luật. Quá trình này bao gồm cả sự phân tích và so sánh những vấn đề pháp lý
cụ thể liên quan đến việc bảo hộ NHNT cũng như thực tiễn áp dụng giữa hệ
thống pháp luật châu Âu, pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới,
trong đó có Việt Nam.
Thứ hai, luận văn liên hệ đến tình hình phát triển của Việt Nam, đánh
giá hiệu quả của hệ thống pháp luật hiện hành về NHNT cũng như những hạn
chế còn tồn tại trong công tác bảo hộ. Từ đó tìm ra những kinh nghiệm nên
học hỏi áp dụng hoặc sẽ học hỏi áp dụng vào một thời điểm trong tương lai
cũng như nhìn nhận những kinh nghiệm không phù hợp với tình hình thực tế
của đất nước để có hướng phát triển riêng. Để từ những kinh nghiêm này có
thể xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật bảo hộ NHNT ở Việt Nam, tiếp
thu được tinh hoa của pháp luật tiến bộ thế giới, bắt nhịp với dòng chảy hội
nhập quốc tế nhưng vẫn phù hợp với tình hình phát triển đất nước.
4. Phạm vi nghiên cứu
Cần khẳng định rằng, luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở
pháp luật, những vấn đề thực tiễn liên quan đến NHNT và cơ chế pháp lý bảo
hộ NHNT của pháp luật EU, tương quan so sánh với pháp luật quốc tế và một
số nước trên thế giới. Nhìn chung luận văn đề cập chủ yếu đến NHNT và
nhãn hiệu có danh tiếng (trademarks with a reputation) theo pháp luật của EU,
pháp luật quốc tế, pháp luật một số nước phát triển trên thế giới và Việt
Nam… Tuy nhiên, những khía cạnh khác của quyền SHTT nói chung, nhất là 12
vấn đề về nhãn hiệu cũng được tham chiếu đến nhằm mục đích so sánh hoặc
làm rõ thêm những vấn đề lý luận liên quan đến nội dung của luận văn.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn thống nhất và phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu đã được xác định.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp pháp lý lịch sử được sử dụng để nghiên cứu khái quát
1.1. TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
1.1.1. Xuất xứ thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa
Thuật ngữ nhãn hiệu (Trademark) xuất phát từ người Iceland cổ đại
với nghĩa là đốt cháy, nó đã được sử dụng từ thời xa xưa khi các nhà sản xuất
muốn phân biệt hàng hóa của mình. Sự tự hào về hàng hóa do chính mình sản
xuất không phải là lý do chính để sử dụng nhãn hiệu. Thật ra, các nhà sản
xuất muốn khách hàng nhận biết được hàng hóa của họ với hi vọng rằng
khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác. Ban
đầu thì người ta đóng dấu nhãn hiệu cho các loại gia súc, về sau thì các nhà
sản xuất gốm, gia thú và tơ lụa cũng sử dụng phương pháp này để phân biệt
các sản phẩm của họ với nhà sản xuất khác.
Ngày nay, nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường
thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Các nhà sản xuất cũng như các
thương nhân sử dụng nhãn hiệu để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa
hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa,
dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt
nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu hàng hóa luôn được xem
là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu hàng hóa. Vì vậy nó luôn đóng vai trò
trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa
của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Thuật ngữ "nhãn hiệu hàng hóa" cũng đã trải qua một lịch sử phát
triển khá dài trong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới. Từ
thời La Mã cổ đại, việc các nhà sản xuất chạm nổi hay đóng dấu lên các sản
phẩm của mình là khá phổ biến. Người Ấn Độ với chữ ký được chạm khảm 15
trên đồ kim hoàn mỹ nghệ, người Trung Quốc với những nét bút tinh tế trên
đồ gồm, sứ để xuất khẩu, người Nhật Bản với những con dấu trên giấy viết để
khác. Nhãn hiệu hàng hóa có thể được áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ và
những nhãn hiệu xác nhận nguồn gốc, chất lượng, độ nguyên chất nếu chúng
thỏa mãn các yêu cầu của một nhãn hiệu.
Ngày nay, nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng một cách phổ biến hơn,
với nhiều thể loại hơn. Nó là một hình thức rất có giá trị của quyền SHTT bởi
nó gắn liền với chất lượng cũng như sự mong đợi của người tiêu dùng đối với
hàng hóa và dịch vụ.
Nhiều sản phẩm hàng hóa đã trở nên đồng nhất với tên nhãn
hiệu của chúng, chẳng hạn như nước giải khát Coca Cola, cà phê
Nestcafé, quần Jean Levi’s Những sản phẩm này thực sự đã trở
nên nổi tiếng và được biết đến một cách rộng rãi ở nhiều nước trên
thế giới. Đây cũng là một thành công quan trọng của các nhà sản
xuất và các thương nhân trong việc quảng bá sản phẩm của họ. Tuy
nhiên, chính sự nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hóa cũng mang lại
không ít khó khăn cho các doanh nghiệp vì nó rất dễ bị xâm phạm
bởi các chủ thể khác. Ngày càng có nhiều các hàng hóa và dịch vụ
tương tự với những hàng hóa, dịch vụ mang NHNT được sản xuất
và điều này đã gây ra sự nhầm lẫn của người tiêu dùng trong việc
lựa chọn và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ thật sự mà họ mong
muốn. Vì vậy, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là phải
làm thế nào ngăn chặn các hiện tượng xâm phạm đối với nhãn hiệu
hàng hóa nổi tiếng như thế [27, tr. 5].
1.1.3. Đặc điểm của nhãn hiệu hàng hóa
Một nhãn hiệu sản phẩm không chỉ đơn thuần là dấu hiệu để phân biệt
sản phẩm của người này với người khác mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọng 17
trong việc khắc họa ấn tượng sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng. Do đó
nó cần thoả mãn các đặc điểm sau:
Nhiều người cho rằng hai khái niệm này là đồng nhất. Quan niệm này là hoàn
toàn sai lầm bởi vì một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương
hiệu nhưng họ cũng có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hoá khác nhau. Như
trường hợp "Toyota" là một thương hiệu nhưng đi kèm theo nó có rất nhiều
nhãn hiệu hàng hoá: Innova, Camry…
Vì vậy ta cần phải phân biệt để tìm ra mối liên hệ giữa hai khái
niệm này.
- Nhãn hiệu là cái có trước, thương hiệu là cái có sau nhưng từ khi ra
đời thương hiệu hoàn toàn độc lập với nhãn hiệu, không phụ thuộc vào nhãn
hiệu, nó có tuổi thọ riêng, sức sống riêng:
Như ta đã biết qua lịch sử hầu hết các sản phẩm ban đầu đều không có
thương hiệu. Người sản xuất và các trung gian nếu đều bán hàng cho khách
hàng của mình qua các thùng, kiện…rồi trải qua quá trình phát triển của lịch
sử, qua các cuộc đấu tranh, sự cạnh tranh của các thương nhân người ta mới
nghĩ ra việc phải đóng dấu, khắc tên hay tạo ra ký hiệu riêng cho sản phẩm
của mình. Đó là thủa sơ khai, đánh dấu sự ra đời cho nhãn hiệu. Rồi từ rất
nhiều nhãn hiệu có sự khác biệt họ cần thấy phải có một cái gì đó để khẳng
định tên tuổi cho mình. Và quá trình thiết lập thương hiệu đã dần hình thành
từ đó.
Tuy ra đời sau nhãn hiệu nhưng thương hiệu lại không phụ thuộc vào
nhãn hiệu, nó có vị thế, có chỗ đứng riêng của nó, nó hoàn toàn độc lập với
nhãn hiệu.
- Nhãn hiệu có tuổi thọ ngắn còn thương hiệu có tuổi thọ lâu dài và
tồn tại mãi mãi.
Nhãn hiệu thường gắn với sản phẩm còn thương hiệu lại thường gắn
với các nhà sản xuất. Vì vậy mà tuổi thọ sản phẩm cũng ảnh hưởng ít nhiều 19
đến nhãn hiệu. Khi một sản phẩm được tung ra thị trường có gắn nhãn hiệu
thể đòi giá bán cao hơn so với đối thủ cạnh tranh. Có thể dễ dàng hơn trong
việc mở rộng thương hiệu. Hơn tất cả thương hiệu sẽ giúp cho Công ty điều
kiện phòng thủ thuận lợi chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá.
Cả thương hiệu và nhãn hiệu từ khi ra đời đã khẳng định sự khác biệt
hay phân biệt giữa công ty với công ty khác, sản phẩm dịch vụ này với các
sản phẩm dịch vụ khác. Nhưng nó đều có điểm chung là muốn định vị thị
trường, tạo chỗ đứng vị thế trong tâm trí người tiêu dùng. Với một nhãn hiệu
tốt và thương hiệu mạnh sẽ thu hút được rất nhiều khách hàng tạo niềm tin
giữa họ và từ đó có những khách hàng trung thành. Việc quản trị tài sản
thương hiệu, nhãn hiệu là rất cần thiết. Các công ty các nhà sản xuất cần phải
tự bảo vệ lấy thương hiệu và nhãn hiệu cho mình.
Có thể nói khái niệm nhãn hiệu theo pháp luật quốc tế, cũng như pháp
luật các nước bên cạnh những điểm tương đồng cũng có nhiều điểm khác biệt.
Như pháp luật của EU, pháp luật của cộng đồng gồm nhiều quốc gia khác
nhau đã thể hiện nhiều điểm khác biệt so với quy định pháp luật nhiều nước
trên thế giới.
1.2. KHÁI NIỆM NHÃN HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN
MINH CHÂU ÂU
Trước khi "Chỉ thị 104/89/EEC" của Hội đồng Châu Âu ra đời, quy
định về nhãn hiệu ở cấp cộng đồng, khái niệm nhãn hiệu tại các nước EU
được xác định theo pháp luật về nhãn hiệu của từng quốc gia thành viên.
Theo Luật Nhãn hiệu của Anh, nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu
dùng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh
khác nhau.
.
Nhãn hiệu hàng hóa có thể là tên, cụm từ, logo, biểu trưng, thiết
kế, hình ảnh, âm thanh, hình dáng, chữ ký hoặc bất kỳ sự kết hợp các yếu tố đó.
Pháp luật Đức khẳng định: Bất kỳ dấu hiệu nào đặc biệt là từ ngữ bao
gồm tên cá nhân, thiết kế, chữ cái, chữ số…bao gồm cả hình dáng của hàng
22
Khái niệm về nhãn hiệu được quy định giống nhau ở Điều 2 Chỉ thị
104/89 và Điều 4 Quy định 40/94 như sau:
Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào
được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao
gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng
của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu
hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ
thể kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh
doanh khác [6].
Theo khái niệm này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện: thứ nhất:
"là dấu hiệu"; thứ hai: "được trình bày rõ ràng và chi tiết" và thứ ba: "có khả
năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của
chủ thể khác".
Trong ba điều kiện này, điều kiện thứ nhất, "bất kỳ dấu hiệu nào"
được hiểu rất rộng. Việc sử dụng từ "bất kỳ dấu hiệu" làm cho định nghĩa
nhãn hiệu "mềm dẻo và không giới hạn". Mặc dù định nghĩa trên đưa ra một
loạt các dấu hiệu như các từ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số hoặc hình
dáng của hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm nhưng chúng không phải là giới
hạn. Đây chỉ là những dấu hiệu thường được sử dụng để các chủ thể chỉ ra
hàng hoá, dịch vụ của mình. Trên thực tế, có rất nhiều các dấu hiệu khác biệt
không nằm trong các dấu hiệu được liệt kê và vẫn được đăng ký. Tuy không
được quy định cụ thể trong luật, nhưng trên thực tế những dấu hiệu có thể bao
gồm cả khẩu hiệu, âm thanh, mùi vị… Tuy nhiên, để được đăng ký là nhãn
hiệu, dấu hiệu phải "được trình bày rõ ràng và chi tiết".
Mục đích của điều kiện thứ nhất là nhằm chỉ ra nhãn hiệu là gì. Hay
nói cách khác, nhãn hiệu được nhận thức như thế nào. Một nhãn hiệu có thể
được nhận thức bởi một hay vài, thậm chí cả năm giác quan. Chẳng hạn như
nhãn hiệu mùi cỏ tươi mới cắt cho bóng tennis, tiếng nhạc chuông của hãng
24
Theo Điều 6bis thì "Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu của các doanh
nghiệp thuộc các nước thành viên Công ước Paris; có thể đã đăng ký hoặc
chưa đăng ký bảo hộ; được cơ quan có thẩm quyền ở nước đăng ký hoặc sử
dụng công nhận". Việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm các hoạt động: Từ
chối việc đăng ký một nhãn hiệu tương tự cho người khác để sử dụng cho cùng
sản phẩm hoặc sản phẩm tương tự; huỷ bỏ đăng ký một nhãn hiệu tương tự đã
cấp cho người khác cho cùng sản phẩm hoặc sản phẩm tương tự; yêu cầu
chấm dứt việc sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng.
Như vậy, Công ước Paris cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể.
Nhưng "nổi tiếng" theo nghĩa của Điều 6 bis của Công ước có thể hiểu là bao
gồm loại quyền được bảo hộ và xác định đặc điểm nổi tiếng. Đặc điểm nổi
tiếng ở đây là nổi tiếng tại nước thành viên Công ước trên cơ sở được cơ quan
có thẩm quyền nước công nhận và nổi tiếng ngay cả khi chưa đăng ký.
Bên cạnh khái niệm NHNT, pháp luật EU còn có khái niệm nhãn hiệu
danh tiếng và có cơ chế bảo hộ riêng đối với loại nhãn hiệu này. Khái niệm
nhãn hiệu có danh tiếng được sử dụng phổ biến trong pháp luật EU, thậm chí
có thể thay thế khái niệm NHNT. "Danh tiếng" không được định nghĩa trong
các văn bản luật về nhãn hiểu nhưng có thể hiểu danh tiếng là một yêu cầu về
ngưỡng của sự hiểu biết. Nó cũng có đặc tính định lượng giống như "nổi
tiếng". Đặc biệt, dù pháp luật không quy định nhưng thông qua các án lệ, khái
niệm "nhãn hiệu danh tiếng" trong pháp luật EU có thể được xác định một
cách cụ thể dựa trên những tiêu chí xác đáng.
Về tiêu chí đánh giá NHNT, pháp luật EU xác định các tiêu chí để
đánh giá NHNT, bao gồm:
- Sự nổi tiếng hay danh tiếng của nhãn hiệu trong bộ phận công chúng
liên quan;
- Mức độ được nhận biết của nhãn hiệu trong công chúng;
một căn cứ duy nhất để xác định một nhãn hiệu hàng hóa trở nên nổi tiếng, đó