Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
MỤC LỤC
1
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
A - LỜI MỞ ĐẦU
Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập
được ban hành năm 1991 (Pháp lệnh thuế thu nhập với người có thu nhập cao đã
qua nhiều lần sửa đổi), ngày 01/01/2009 thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam chính
thức có hiệu thi hành. Luật điều chỉnh thuế đánh trên thu nhập của mọi cá nhân
sống và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Luật thuế TNCN cũng là một luật
nằm trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam để hội nhập
WTO. Trong lần ban hành luật lần này, Luật thuế mới có rất nhiều điểm thu hút
sự chú ý không chỉ tới các nhà nghiên cứu, nhà kinh tế mà còn nhiều tranh luận
trong quần chúng nhân dân. Luật thuế TNCN mới có khắc phục được rất nhiều
nhược điểm của Pháp lệnh thuế thu nhập trước đây, cũng như phù hợp với tình
hình kinh tế xã hội hiện nay hay chưa? Sau một thời gian thực hiện thuế thu nhập
cá nhân đã thể hiện nhiều ưu việt nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được
khắc phục. Sự tiếp thu kinh nghiệm của các quốc gia đi trước trong xây dựng hệ
thống pháp luật cũng như thi hành luật là nhân tố quan trọng giúp quá trình xây
dựng và thi hành luật của Việt Nam đạt hiệu quả cao nhất nhằm khắc phục được
nhược điểm, phát huy ưu điểm và tránh được một số lỗi mà các quốc gia đi trước
đã trải qua.
Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế phát triển lớn mạnh và rất năng động,
đây cũng là quốc gia có nguồn thu thuế xếp hàng cao trên thế giới. Hơn nữa, Mỹ
cũng là một trong các quốc gia áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân sớm nhất.
Quá trình thi thuế TNCN của Mỹ là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam
để hoàn thiện luật và thi hành luật thuế TNCN. Vì những lý do đó, Nhóm 1 lớp
thuế xin chọn đề tài: TÌM HIỂU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA HOA KỲ
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM cho bài tiểu luận của mình.
Trong định nghĩa này, “tiền” được hiểu là những lợi ích thu được cả bằng
tiền và hiện vật mà được quy đổi thành tiền ở thời điểm nhận được, bao gồm cả
giá trị của các sản phẩm sản xuất ra để tự tiêu dùng, TN từ hoạt động sản xuất
kinh doanh, lao động hay ngoài lao động, từ quyền sở hữu về tài sản và tiêu dùng
dịch vụ mà không phải thanh toán.
Tóm lại, có thể rút ra đặc điểm chung của TN từ hai định nghĩa trên như
sau:
1
PGS.TS. Lê Văn Ái, TS. Đỗ Đức Minh (2002), Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận
dụng ở Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội, trang 7.
2
Sách đã dẫn, trang 8.
3
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- TN luôn gắn với một chủ thể nhất định, được xác định trong một thời gian
nhất định và không phân biệt nguồn gốc TN;
- TN có thể tồn tại dưới hai hình thức là tiền tệ và hiện vật, nhưng khi xác
định TN thì chúng đều phải được quy đổi chung về thước đo tiền tệ;
- TN hình thành thông qua quá trình phân phối và phân phối lại TN do thị
trường và Nhà nước thực hiện.
Từ các đặc điểm trên, ta có thể rút ra được khái niệm về TN như sau:
Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình
thức tiền tệ mà một chủ thể nào đó trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận
được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối
tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời hạn nhất định
( thường là một năm )
3
.
Từ khái niệm chung TN, có thể định nghĩa thu nhập cá nhân như sau: Thu
3.1. Đối tượng nộp thuế
Nhìn chung, quy định về thuế thu nhập cá nhân ở các nước đều chia đối
tượng nộp thuế thành hai đối tượng căn cứ vào khái niệm về “cư trú”. Để xác
định có phải đối tượng cư trú hay không, người ta thường sử dụng tiêu thức quốc
tịch hay thời gian sinh sống, làm việc tại nước sở tại. Ví dụ, Luật thuế thu nhập
cá nhân Mỹ quy định đối tượng nộp thuế cư trú là công dân Mỹ và những người
thường trú, kể cả người nước ngoài ở trên đất Mỹ được 31 ngày trong năm hiện
thời, còn trong 3 năm gần nhất đã ở 183 ngày.Công dân Mỹ và người thường trú
trả thuế trên số thu nhập kiếm được trên toàn thế giới. Người nước ngoài không
thường trú trả tuế trên thu nhập kiếm được trên đất Mỹ.Thông thường, các cá
nhân cư trú phải chịu thuế TNCN đối với toàn bộ thu nhập của mình trong năm
tính thuế mà không tính đến nguồn gốc phát sinh thu nhập đó là ở trong nước
hay ngoài nước ( TN toàn cầu). Còn những cá nhân thuộc đối tượng không cư trú
thì chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với những khoản thu nhập phát sinh
có nguồn gốc tại nước sở tại.
3.2. Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế của thuế TNCN là thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế (T) của một cá nhân trong kì tính thuế là tổng thu nhập
trừ đi tổng các khoản được giảm trừ.
Như vậy, từ định nghĩa thu nhập chịu thuế có thể được thể hiện qua công
thức sau:
4
Bộ Tài chính, 2007, ‘Tính ưu việt của thuế thu nhập cá nhân’, Tạp chí Thuế, số 42, kỳ 2 tháng 11.
5
PGS.TS. Lê Văn Ái & TS. Đỗ Đức Minh, 2002, Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận
dụng ở Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội, trang 12.
5
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
T = I – C
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
hạn như tiền cấp dưỡng hay các khoản đóng góp lương hưu là những khoản điều
chỉnh tiêu biểu mà người trả thuế có thể loại ra khỏi tổng TN của họ bằng đúng
với số lượng các khoản này.
Khoản khấu trừ cũng làm giảm thu nhập chịu thuế. Trong một số hệ thống
thuế, các khoản khấu trừ nằm dưới hình thức là một khoản khấu trừ chuẩn hoặc
là các khoản khấu trừ được hạng mục hóa (liệt kê chi tiết từng khoản) và người
chịu thuế được dành cho quyền lựa chọn phương pháp nào mà họ cho là có lợi
nhất. Khấu trừ chuẩn có thể thay đổi tùy theo đặc tính của đơn vị lưu giữ hồ sơ
hay của người trả thuế các khoản khấu trừ được hạng mục hóa nói chung là làm
lợi cho người trả thuế có TN cao hơn là người trả thuế có TN thấp vì người trả
thuế có TN cao thường gánh chịu các chi phí được hạng mục hóa lớn hơn mức
khấu trừ chuẩn. Các khoản khấu trừ được hạng mục hóa và được miễn giảm thay
đổi theo các hệ thống thuế TN khác nhau, nhưng có thể bao gồm chi phí kinh
doanh liên quan đến người lao động không dược hoàn trả, đóng góp cho hoạt
động từ thiện, chi phí giáo dục, đóng góp quỹ lương hưu, đóng góp bảo hiểm
nhân mạng, thanh toán lãi suất cá nhân và tài sản cầm cố, chi phí y tế và nha
khoa, thuế trả cho các chính phủ khác và các khoản thanh toán thuế bảo hiểm xã
hội, và tổn thất do tai nạn hay trộm cắp.
Ngoài ra, nhiều hệ thống thuế thu nhập cho phép khấu trừ các khoản miễn
giảm cá nhân hoặc trợ cấp gia đình (ở nước ta khoản này gọi là giảm trừ gia
cảnh). Những khoản miễn trừ này dựa trên TN thực tế mà các cá nhân cần thiết
cho bản thân trong kì đóng thuế và số lượng cá nhân của cùng một đơn vị hồ sơ
thuế (cũng liên quan đến các đặc tính của đơn vị hồ sơ thuế này).
3.3. Đơn vị chịu thuế
Có một số cách khác nhau để người ta có thể xác định đơn vị chịu thuế thu
nhập trong cùng một hệ thống thuế TNCN. Thứ nhất, mỗi cá nhân có thể được
đánh thuế riêng lẻ, bất chấp tình trạng hôn nhân của họ như thế nào. Thứ hai, các
cặp vợ chồng có thể được đánh thuế trên cơ sở TN chung. Thứ ba, các cặp vợ
chồng có quyền lựa chọn được đánh thuế chung hay riêng. Sau cùng, các hộ gia
niệm này vẫn tồn tại. Sau 20 bị bãi bỏ, năm 1894, như là một phần của dự luận
thuế quan, Quốc hội đã ban hành mức thuế 2% đánh vào TN trên 4000$. Tuy
nhiên, sau đó, mức thuế này đã ngay lập tức bị bác bỏ bởi quyết định 5/4 của tòa
án tối cao. Năm 1909 những người tiến bộ trong quốc hội một lần nữa kèm theo
điều khoản về thuế TN và dự luật thuế quan. Đảng bảo thủ đã đề xuất một sửa
đổi về việc ban hành loại thuế này trong hiến pháp nhằm mục đích mọi sự sửa
đổi sẽ không bao giờ nhận được sự phê chuẩn của ba phần tư số bang. Nhưng
thật ngạc nhiên, lần lượt các cơ quan luật pháp của các bang đã phê chuẩn việc
sửa đổi, và vào ngày 25/2/1913, với sự chứng nhận của thư kí bang Philander
C.Knox, sửa đổi lần thứ 16 đã có hiệu lực. Cho đến năm 1913, do việc miễn và
khấu trừ thuế rộng rãi, chưa đầy 1% dân số đã trả thuế TN với mức chỉ 1% TN
thực tế.
Trong chiến tranh thế giới lần 1, thuế suất mức cao nhất lên tới 77%, sau đã
giảm xuống 25% sau chiến tranh. Trong đại khủng hoảng kinh tế năm 1933 và
chiến tranh thế giới lần 2, thuế suất tăng trở lại. Năm 1935, Đạo luật ngân sách
đã đưa những khoản thuế TN lương hưu cá nhân không hợp lý với mức thuế tới
75% cho những TN vượt quá 5 triệu $ nên còn được gọi là Đạo Luật Thuế Tài
Sản. Sau đó, thuế suất cao nhất còn lên đến 94% vào năm 1944, 1945 vã giữ ở
mức 91% cho tới tận năm 1964. Điều bất hợp lý này đã làm cho việc trốn thuế
TN trở thành một phần quan trọng của các hoạt động phạm pháp thời kì này.
6
Các số liệu thuế suất trong lịch sử thuế TNCN của Hoa Kỳ lấy từ các nguồn sau:
IRS, Statistics of Income 2007 Fall Bulletin, Publication 1136;
James Young, ‘Inflation Adjustments Affecting Individual Taxpayers in 2007’.
9
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Đạo luật thuế cải cách năm 1986 đã đưa mức thuế suất thấp trở lại với
khung thuế suất từ 15% - 28%. Những năm 90 của thế kỉ trước, khung thuế suất
cao nhất tăng lên mức 39,1% nhưng sau đó đã giảm xuống 35% nhờ “ Đạo luật
thẻ không bị hủy bỏ, bị giám sát pháp lý hoặc hết hiệu lực;
- Thứ hai, đó là dựa trên sự hiện diện thực tế. Một cá nhân được coi là cư
trú khi có hiện diện thực tế (về mặt vật lý) tại mỹ ít nhất 31 ngày trong năm tính
thuế, và ít nhất 183 ngày trong vòng 3 năm có bao gồm năm hiện tại và hai năm
trước đó. Cụ thể, để đạt được yêu cầu này, bạn phải đếm tất cả số ngày bạn hiện
diện tại Mỹ trong năm tính thuế, 1/3 số ngày hiện diện của năm ngoái, và 1/6 số
ngày hiện diện của năm liền trước nữa
7
.
Để giải thích cặn kẽ cho quy định trên của luật Mỹ, IRS còn quy định khá
chi tiết về tiêu chuẩn đủ để tính ngày cư trú, một số ngoại lệ với Canada và
Mexico, và ngày miễn TN v.v… Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, thậm chí
nếu bạn đủ điều kiện theo cách thứ hai này, bạn vẫn không được đối xử thuế như
người cư trú nếu bạn ở Mỹ ít hơn 183 ngày, nếu bạn vẫn phải khai thuế cư trú tại
một nước khác – nước này được xem xét là gần gũi với bạn hơn Mỹ. Điều này
không xảy ra nếu bạn đã là một công dân Mỹ. Còn trong trường hợp người nước
ngoài chuyển đổi từ “không cư trú” thành “cư trú” trong năm hoặc ngược lại, thì
họ sẽ được tính thuế theo cả hai trạng thái trên, tức là “trạng thái kép” theo thời
kỳ, đánh dấu bởi thời gian xảy ra sự chuyển đổi trên. Áp dụng điều này, trong
trường hợp một người không cư trú lấy một công dân Mỹ mà chọn theo khai thuế
gia đình, họ vẫn phải chụy cả hai mức thuế cư trú và không cư trú.
Người không cư trú khai mẫu thuế 1040NR và 1040NR-EZ cho những TN
tại Mỹ. Còn người nước ngoài cư trú sẽ tuân thủ luật như những công dân Mỹ;
chịu thuế TN trên TN toàn cầu và khai trên mẫu 1040EZ, 1040A và 1040.
2.2. Thu nhập chịu thuế
Thuế TN đánh trên lợi tức phải chịu thuế của cá nhân tức là mọi loại TN
của cá nhân không phân biệt loại TN, nguồn hình thành, tính chất của TN đó (trừ
những TN được miễn quy định cụ thể trong luật). Cơ sở tính thuế được quy định
rất tỉ mỉ, gồm nhiều yếu tố được thuyết minh chi tiết qua các văn kiện pháp lý:
7
sống lệ thuộc vào người đóng thuế. Khoản này phụ thuộc vào chi phí sinh hoạt
hằng năm và thường được IRS công bố theo năm. Năm 2007, khoản này là
3.400$. Năm 2008, khoản này tăng thêm 100$ do lạm phát, tức là 3.500$.
12
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ví dụ: Năm 2007, John 44 tuổi, có hai con nhỏ. Tổng TN của anh là
100.000$ trong năm 2007. Anh dành 15.500$ cho bảo hiểm khi về hưu, 1.800$
cho các kế hoạch chăm sóc sức khỏe gia đình. Tất cả những khoản này không
phải chịu thuế. Ngoài ra, John còn có TN 12 000$ từ lương của vợ anh, 200$ tiền
lãi ngân hàng, 150$ hoàn thuế của chính phủ. Như vậy tổng TN của John là:
100.000 – (15.500 + 1.800) + 12.000 + 200 + 150 = 95.050$.
Khấu trừ theo danh mục của John tính ra là 22300. Anh có 4 suất miễn thuế
hợp pháp cho bản thân, vợ anh và hai con, tổng là: 4 x 3 400$ = 13 600$. Như
vậy, TN có thể bị đánh thuế của John là: 95.050 – 22.300 – 13.600 = 59.050$.
Lợi tức chịu thuế (Taxable Income): là tổng TN đã điều chỉnh trừ đi các
khoản khấu trừ khác như kể trên. Đây là TN dùng để đánh thuế.
Lợi tức chủ yếu chia thành hai loại:
(1) Lợi tức thông thường (Ordinary Income) là TN do tiền công, tiền lương
(wages, salary), TN từ công ty tư nhân, lãi cổ phần, lợi nhuận từ quỹ đầu tư,
v.v…;
(2) Lợi tức đầu tư (Capital Gains) là TN do bán tài sản đã đầu tư
(Investment Property). Trong đó lợi tức đầu tư ngắn hạn bị đánh thuế như lợi tức
thông thường, trong khi lợi tức đầu tư dài hạn được ưu đãi hơn do chính phủ
khuyến khích người dân đầu tư hơn là tích trữ (lợi tức dài hạn là khoản loại trừ
khi tính tổng TN – exclusions).
2.3. Thuế suất
Năm 2008, có 6 bậc thuế tương ứng với các giỏ TN (Branket) khác nhau là
10%, 15%, 25%, 28%, 33% và 35%. Tuy nhiên, khoảng và mức TN khác nhau
tùy theo người đóng thuế độc thân, khai chung cặp vợ chồng, và hai vợ chồng
thuế trong việc:
- Xác định thu nhập gộp, các khoản giảm trừ được phép, các khoản miễn
thuế được phép;
- Tính toán nghĩa vụ thuế (số thuế phải nộp);
- Thông báo các thông tin về thuế một cách đúng hạn và đệ trình việc thanh
toán bao gồm:
Bản khai thuế TNCN vào ngày thứ 15 của tháng thứ tư sau năm
tính thuế (thông thường, thuế TNCN nôp chậm nhất vào ngày 15/04 dương lịch);
14
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong năm, phần lớn người nộp thuế bị khấu trừ thu nhập để tạm
nộp thuế theo tháng (những người làm công ăn lương), hoặc khi thu nhập phát
sinh.
Thuế TNCN đòi hỏi đối tượng nộp thuế cần lưu giữ đầy đủ chứng từ chứng
minh thu nhập của mình. Đây là điều lạ lẫm và khó thực hiện nếu xã hội giao
dịch bằng tiền mặt. Nhưng người dân Mỹ thường lưu lại các hóa đơn chứng từ
thu nhập và chi tiểu của mình để cung cấp cho khai thuế của họ và cơ quan thuế
khi cần thiết. Mọi người ở Mỹ đều phải khai thuế, kể cả người không có việc
làm.
Hệ thống tự khai thuế chỉ có thể vận hành được với điều kiện người nộp
thuế phải là người trung thực, kê khai một cách “đúng đắn” nghĩa vụ thuế. Sự kê
khai đúng đắn ở đây được hiểu là nghĩa vụ thuế được xác định ít nhất trong
chừng mực người nộp thuế hiểu biết đủ để diễn giải luật thếu. Nếu hiểu theo điều
kiện trên thì sự thi hành thuế như vậy có vẻ rất không khả thi vì chẳng ai muốn
kê khai tất cả các khoản thu nhập của mình để bị đánh thuế. Và, không phải đại
bộ phận người dân ý thức được rằng đóng thuế là tự nguyện đóng góp giúp chính
phủ điều hành đất nước, ngay cả ở các quốc gia có trình độ dân trí cao như các
nước phát triển Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản. Tuy nhiên, đây là biện pháp giúp giảm
rất nhiều chi phí quản lý của ngành thuế, vì không có cơ quan thuế nào hiểu
cho đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ. Cách làm này khả thi hơn cả. Về vai
trò của cơ quan quản lý thuế trong cơ chế tự khai tự nộp thuế sẽ tập trung vào các
khâu giám sát, đẩm bảo luật thuế thực hiện nghiêm chỉnh.
3.2. Đảm bảo việc nộp thuế bằng nhiều biện pháp
Luật thuế cũng quy định cho phép cơ quan thuế áp dụng các chế tài nghiêm
khắc để đảm bảo tính tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Vì hệ thống thuế đã sử
dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế nên IRS rảnh rang hơn trong công việc này và
có thời gian tập trung hơn vào việc giám sát, thanh tra thuế. IRS có hệ thống
giám sát thuế khá chặt chẽ qua các báo cáo của hệ thống ngân hàng, hệ thống
kiểm toán và nhiều bộ máy giúp việc khác. Do nền kinh tế Hoa kỳ thực hiện
thanh toán chủ yếu qua tài khoản ngân hàng nên IRS dễ quản lý thu nhập của
người dân hơn. Hệ thống giám sát của IRS thực hiện dựa trên cơ sở trách nhiệm
và quyền hạn của ác bộ phận được quy định rõ rang trước luật thuế. Đây là cơ sở
vững chắc cho quá trình thi hành luật làm cho quá trình thi hành luật thuế là một
hoạt động độc lập với nhà nước. Bộ trưởng bộ tài chính là người cuối cùng chịu
16
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
trách nhiệm trước pháp luật về quá trình thu thuế. Và tổng cục trưởng cục thuế
liên bang, theo quy định của luật phải là người trung lập giữa nhà nước và người
nộp thuế. Đây là nhân tố quan trọng giúp tăng hiệu quả thực thi của việc giám
sát.
Hàng năm có khoảng 1-1,5% số tờ khai thuế được chọn ra để thanh tra
thông qua các chương trình hoặc hệ thống sau:
- Hệ thống chức năng phân biệt (DIF): Theo chương trình này, khoảng 2/3
các tờ khai thuế được lựa chọn để đưa vào máy tính xử lý. Chương trình máy
tinhs sẽ đánh giá các khoản mục đã được kê khai và sau đó sẽ tính được một mức
điểm tổng hợp của mỗi tờ khai. Trên thực tế, trên cơ sở cho điểm, có khoảng
10% số tờ khai được coi là có khả năng phải thanh tra gọi là “tờ khai không bình
thường”. Toàn bộ các tờ khai không bình thường được kiểm tra bởi chính cán bộ
điều tra các hoạt động tội phạm liên quan đến ma túy và cờ bạc;
- Khuyến khích cung cấp thông tin: IRS chấp nhận thanh toán một khoản
gọi là “phí phát hiện” cho những người cung cấp thông tin về trường hợp những
người nộp thuế có khả năng lừa dối trong kê khai thuế. Để thanh toán khoản phí
có tính chất tiền thưởng này, phía IRS khẳng định rằng IRS sẽ không phát hiện
được các hành động lừa dối nếu như không có các thông tin được cung cấp;
- Sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật. Có rất nhiều lỗi phạt: phạt do
chậm trễ, phạt do thực hiện không chính xác, phạt do kê khai không nghiêm túc
và phạt tù.
• Phạt do chậm trễ:
Chậm kê khai: Một khoản phạt bằng 5% số thuế không thanh toán
đúng hạn được thu theo mỗi tháng hoặc khoảng thời gian kê khai chậm của
tháng, Mức phạt tối đa là 25% số thuế khai chậm. Nếu kê khai chậm hơn 60
ngày, khoảng phạt tối thiểu là 100USD hoặc số thếu còn phải nộp theo kê khai;
Chậm nộp: Một mức phạt bằng 0,5% số thuế thanh toán chậm được
thu theo mỗi tháng hoặc khoảng thời gian thanh toán chậm trong tháng. Mức
phạt tối đa là 25% số thuế thanh toán chậm.
• Phạt do thực hiện không chính xác:
Một khoản phạt bằng 20% đối với số thuế đã được xác định là đã kê khai và
thanh toán dưới mức luật định do thiếu ý thức (kể cả không cẩn thận hoặc có
dụng ý không chấp hành các nguyên tắc và quy định) và bất kỳ một sự kê khai
nộp thuế dưới mức luật định một cách nghiêm trọng (theo luật, nếu số thuế kê
khai thấp hơn 10% hoặc 5.000USD so với số thuế phải nộp, tùy theo số nào thấp
hơn).
18
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
• Phạt do kê khai không nghiêm túc:
Tòa án thếu có quyền phạt người nộp thuế đến 5000USD nếu đã kê khai
một bản kê khai thuế được kết luận là “hời hợt”.
8
Bộ Tài chính, 2007, Tạp chí thuế quốc tế, số tháng 4.
19
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
mọi quyền lợi hoàn thuế và các quyền lợi phúc lợi xã hội khác, cộng với việc bị
đòi thuế liên tục.
3.3. Chính sách thuế TNCN thay đổi theo từng thời kỳ kinh tế và được xem
xét, điều chỉnh hàng năm cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế
Vì thuế thu nhập cá nhân có tác động khá lớn đến tiêu dùng của người dân.
Qua đó thuế TNCN có tác động kích thích hay kìm hãm kinh tế. Chính vì lý do
đó, chính phủ Hoa Kỳ rất sát sao trong vấn đề thu thuế. Cục thuế liên bang IRS
hàng năm đều ban hành rất nhiều điều chỉnh cho năm thuế đó phụ thuộc vào tình
hình kinh tế xã hội biến chuyển trong cả năm (vì đây là yếu tố chủ yếu gây ra sự
thay đổi trong thu nhập và chi tiêu của người dân). Điển hình vẫn là thay đổi các
mức miễn trừ cá nhân, khấu trừ thuế, tín dụng thuế. Ví dụ, năm 2006, mỗi cá
nhân được miễn thuế cho bản thân là 33.125USD, năm 2007 là 34.000USD, mức
này tăng lên 35.000USD vào năm 2008 do ảnh hưởng của lạm phát
9
. IRS còn
quy định cụ thể mức này cho các trường hợp cặp vợ chồng khai chung, khai
riêng, khai theo chủ hộ.
Năm 2008, IRS cho phép cá nhân bị ảnh hưởng của thảm họa lũ lụt
Midwest được khấu trừ 500USD. Ấn bản 501 (Publication 501) là tài liệu chính
thức hướng dẫn thi hành thuế TNCN của năm 2008. Ấn bản này có độ dài gần 80
trang, hướng dẫn chi tiết cách khai thuế cho người dân. Chỉ riêng điều này đã
cho thấy sự phức tạp trong luật thuế TNCN của Mỹ. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy
sự làm việc mẫn cán của Cục thuế liên bang trong nỗ lực quản lý thuế, một điều
mà có lẽ bộ máy của các quốc gia khác đều đang mơ ước.
Trên phương diện chính sách thuế cho từng thời kỳ kinh tế, điển hình cho
Bảng 3: Thuế suất theo chương trình Tăng trưởng kinh tế và
miễn giảm thuế năm 2001
Các mức thuế suất này có hiệu lực từ ngày 01/07/2001. Các mức thu nhập
có thuế suất cao được cắt giảm ít hơn khu vực có thuế suất trung bình vì phần
lớn người dân có thu nhập dưới mức trung bình, sự thay đổi thuế cho khu vực
này có tác dụng lớn đến tiêu dùng trong nền kinh tế. Còn các tầng lớp có thu
nhập cao trong xã hội sẽ không hưởng lợi nhiều từ chính sách này.
Đạo luật này còn cắt giảm thuế đối với các cặp vợ chồng khai thuế chung.
Vì có nhiều trường hợp khi kê khai chung, mức thuế phải nộp sẽ cao hơn tổng
mức thuế nếu hai người khai riêng lẻ gộp lại. Chính vì vậy, đạo luật điều chỉnh
lại sự bất hợp lý đó. Sự điều chỉnh này có hiệu lực từ ngày 01/01/2005
Gần đây nhất, Đạo luật tăng trưởng kinh tế 2008 mới được quốc hội thông
qua đã tăng số thuế hoàn lên 95,7 tỷ USD trong tổng số 336,125 tỷ USD thuế
được hoàn của năm 2008. Chính sách này nhằm giảm sự suy thoái kinh tế Mỹ
trong nửa cuối năm 2008.
Tóm lại, Mỹ là quốc gia có sự điều chỉnh thuế TNCN gần như năng động
nhất thế giới.
21
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
3.4. Hệ thống công nghệ thông tin phát triển đem lại sự quản lý và thi
hành thuế tốt hơn cho người Mỹ
Điều không thể chối cãi là Mỹ luôn là quốc gia đi đầu về công nghệ. Cuộc
cách mạng khoa học công nghệ lần 1 diễn ra chủ yếu ở quốc gia này đã đem lại
cho thế giới những thành tựu khoa học đáng kinh ngạc. Mỹ luôn là quốc gia
đứng đầu về số các phát minh mới và có đội ngũ các nhà khoa học giỏi nhất.
Chính vì lẽ đó, hệ thống công nghệ thông tin quản lý của quốc gia này đã phát
triển rất nhanh và vững vàng. Công nghệ thông tin phát triển đem lại cho Mỹ
những cách quản lý điện tử chính xác. Điều này chủ yếu có tác dụng lớn nhất đến
2 vấn đề của quá trình thi hành thuế TNCN tại Mỹ: Tăng khả năng quản lý, giám
năm của các ngân hàng về tài khoản và các giao dịch thu chi của đối tượng nộp
thuế sẽ đánh giá được sự trung thực trong khai báo của đối tượng nộp thuế. Xã
hội trong đó các giao dịch chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng
đem lại nhiều sự tiện lợi khiến cho người dân cảm thấy thích khi không phải sử
dụng tiền mặt. Hơn nữa đối với cơ quan quản lý thuế, giao dịch qua các ngân
hàng giúp cơ quan này kiểm soát được chi tiết các giao dịch của các cá nhân,
đánh giá chính xác thu nhập, chi tiêu cũng như các hoạt động tài chính khác. Từ
đó, cơ quan quản lý tính chính xác số thuế mỗi cá nhân phải trả cho chính phủ và
thu nhập thực sự của người dân là bao nhiêu để phục vụ cho mục đích thống kê,
hoạch định chính sách.
Công nghệ trợ giúp đối tượng nộp thuế rất nhiều trong công tác kê khai và
nộp thuế của họ. Nhờ có sự phát triển của công nghệ, người dân tiếp cận với
những chính sách năng động của IRS theo cách thuận tiện nhất đối với họ như
qua các phương tiện phát thanh – truyền hình hoặc internet. Bước tiếp theo, đối
tượng nộp thuế có thể khai trực tiếp tại trang chủ của IRS và nộp thuế thông qua
tài khoản ngân hàng của mình. Để hoàn thành tất cả các thao tác cần thiết đó, đối
tượng nộp thuế thậm chí không phải rời khỏi nhà mình chứ chưa nói đến phải
tiếp xúc hay bị nhũng nhiễu bởi cán bộ thuế. Tệ nạn tham ô, hối lộ nhờ đó mà
không có điều kiện phát triển. Theo thống kê của IRS, tỷ lệ tờ khai thuế điện tử
chiếm tời 58% tổng số tờ khai thuế năm 2008
11
.
3.5. Đóng thuế là một điều không thể thiếu trong đời sống xã hội tại Mỹ
Luật thuế TNCN đã có lịch sử hơn một trăm năm tại Mỹ. Kê khai và nộp
thuế thu nhập đã trở thành nhận thức không thể thiếu trong xã hội Mỹ. Thuế
11
IRS, 2008, Internal Revenue Service Data Book 2008, trang 2.
23
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Nhược điểm: Quy định về thu nhập của Mỹ tương đối phức tạp gần 50000
trang luật, không những chú trọng thu nhập cá nhân mà còn chú trọng đến các
12
IRS, 2008, IRS Strategic Plan for 2009-2013, trang 13.
24
Tiểu luận Thuế và hệ thống thuế Việt Nam – Nhóm
Tìm hiểu thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
thành viên trong gia đình. Cùng một mức thu nhập nhưng khoản nộp thuế của
một đôi vợ chồng có con nhỏ và một đôi vợ chồng không có con chênh lệch khá
nhiều.
4.2. Về quá trình thực hiện luật
- Ưu điểm : Hệ thống trang chủ của IRS: http://www.irs.gov/ tạo ra các mẫu
khai thuế để người dân có thể điền thông tin thu nhập của mình một cách trực
tuyến. Việc sử dụng hệ thống này giúp cho công việc kê khai trở lên thuận tiện,
nhanh gọn và những điều chỉnh về luật cũng cập nhật đến người dân một cách
nhanh nhất. Hệ thống thuế TNCN của Hoa Kỳ vận hành theo cơ chế tự khai, tự
nộp. Việc này nâng cao tính tự giác của người nộp thuế cũng như tiết kiệm chi
phí quản lý cho cơ quan hành thu thuế. Ngoài ra, luật thuế TNCN cũng thường
xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn từng thời kỳ.
- Nhược điểm : Hệ thống tự khai thuế chỉ có thể vận hành được với điều
kiện người nộp thuế phải trung thực, kê khai một cách đúng đắn nghĩa vụ thuế.
Chính sách tự khai thuế này có thể dẫn đến tình trạng gian lận, trốn thuế và thất
thu thu của chính phủ.
25