CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH
1.1. Khái niệm bẫy thu nhập trung bình
Theo Indermit Gill, chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank, Viện Brookings (2007),
bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “bẫy thu nhập trung bình” là tình trạng không đáp
ứng nổi những đòi hỏi cao và rất cao khi nền kinh tế đã đạt đến mức thu nhập trung bình.
Thu nhập quốc dân (GNI, trước đây là GNP) của các nền kinh tế, được xác định vào đầu
năm tài chính của Ngân hàng thế giới vào tháng 7 và cố định trong 12 tháng với điều chỉnh
lạm phát. Kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2018, các ngưỡng mới để phân loại theo thu nhập đó là:
Bảng 1.1: Ngưỡng phân loại các nền kinh tế
Ngưỡng
Thu nhập thấp
Thu nhập trung bình
Thu nhập trung bình cao
Thu nhập cao
GNI/đầu người (theo USD)
< 995
996 – 3.896
3.896 – 12.055
> 12.055
Nguồn: World Bank (2018)
Theo giáo sư Kenichi Ohno của Viện nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản (2009),
bẫy thu nhập trung bình là tình huống mà một quốc gia bị mắc kẹt tại mức thu nhập được quyết
định bởi một nguồn lực nhất định và lợi thế ban đầu, và không được vượt quá mức thu nhập đó.
Có thể thấy rằng, có rất nhiều quan niệm khác nhau về “bẫy thu nhập trung bình”. Tuy nhiên, ta có
thể hiểu đơn giản khái niệm về “bẫy thu nhập trung bình” đó là khi một quốc gia thoát khỏi mức
thu nhập thấp, bước vào nhóm các nước thu nhập trung bình, nhưng trong một thời gian dài vẫn
không thể vươn lên hàng các quốc gia có mức thu nhập cao, các quốc gia phát
Trên thực tế, có nhiều nền kinh tế ở khu vực châu Á từ nghèo chuyển thành nước có thu
nhập trung bình, nhưng rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan, Hàn Quốc.
Philippines là một quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhập trung bình, nước
này đã không thể vượt được ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên. Indonesia cũng đã mất
hơn một thập niên để cải thiện từ 1.000 USD lên hơn 2.000 USD/người. Thái Lan cũng đã
mất hơn hai thập niên để vượt được con số 3.000 USD do bất ổn kéo dài.
Theo giáo sư Kenichi Ohno (2009) đã phân tích 6 khía cạnh dùng để đánh giá liệu một
quốc gia đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình hay chưa, cụ thể như sau:
- Thu nhập bình quân đầu người thấp.
- Tăng trưởng kinh tế chậm biểu hiện ở sự tăng trưởng chậm lại của GDP.
- Năng suất lao động thấp.
- Thiếu hụt chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng nghĩa, nặng tính hình thức.
- Không có sự cải thiện về chỉ số xếp hạng kinh tế.
- Xuất hiện, nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến tăng trưởng như lạm phát, bong bóng
chứng khoán và bất động sản, tắc nghẽn giao thông, suy thoái môi trường, nợ xấu của nhà
nước,…
Những dấu hiệu trên bao quát toàn bộ các lĩnh vực của một quốc gia như kinh tế, chính
trị cho đến văn hóa, môi trường. Cần lưu ý những dấu hiệu của bẫy thu nhập trung bình trên
để nhanh chóng đưa ra các giải pháp khắc phục kịp thời.
1.3. Tác động của bẫy thu nhập trung bình lên nền kinh tế
Theo giáo sư Kenichi Ohno (2009), “bẫy thu nhập trung bình” được coi như “chiếc trần
thủy tinh vô hình” ngăn cản sự phát triển kinh tế đến với sự phát triển bằng nội lực. Các ảnh
hưởng xấu khi “mắc kẹt” trong “bẫy thu nhập trung bình” tới các yếu tố cơ bản tạo động lực
phát triển nền kinh tế làm suy giảm khả năng tăng trưởng kinh tế cao và lâu dài, đủ để thoát
khỏi bẫy và đạt tới mức sống cao hơn.
1.3.1. Đối với nền kinh tế vĩ mô
mức thu nhập trung bình với mức GNI bình quân đầu người là 1.270 đô la Mỹ.
Hình 2.1: GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc giai đoạn 1978-2002
Đơn vị: Đô la Mỹ
Thu nhập bình quân đầu người
14000
12000
10000
8000
6000
4000
2000
2002
2001
2000
1998
1999
1997
1996
1995
1994
1978
0
Nguồn: Ngân hàng thế giới World Bank.
Tốc độ tăng trưởng GNI bình quân đầu người trong giai đoạn 1978-1996 trung bình
khoảng 7%/năm. Từ năm 1986 đến năm 1996, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu
người luôn duy trì trên 6%, cao nhất là năm 1987 là 12,63%. Trong đó, Hàn Quốc phải trải
qua hai cuộc suy thoái vào năm 1980 và năm 1998 với mức tăng trưởng GNI bình quân đầu
người âm: năm 1980 là -3,99% và năm 1998 là -6,96% ( Ngân hàng thế giới World Bank).
Theo hình 2.1, GNI bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ thật sự tăng nhanh về giá trị kể
từ sau năm 1986. Năm 1996, Hàn Quốc đạt mức thu nhập cao thoát khỏi mức thu nhập trung bình
là 13.040 đô la Mỹ. Tuy nhiên sau đó do ảnh hưởng của cuộc khoảng hoảng kinh tế năm 1997, thu
nhập bình quân đầu người giảm. Năm 1998, Hàn Quốc trở lại mức thu nhập trung
bình cao, thu nhập bình quân đầu người là 1.070 đô la Mỹ. Hàn Quốc mất bốn năm để hồi
phục nền kinh tế và trở lại mức thu nhập cao vào năm 2002 (12.460 đô la Mỹ).
Về cơ cấu nền kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm thay vào đó là sự tăng lên
trong tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ.
Bảng 2.1: Tỷ lệ đóng góp trong GDP của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Năm
1978
1996
Nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh cá
19,82%
có lẽ là một trong những yếu tố quyết định giúp Hàn Quốc có thể nhanh chóng thoát khỏi bẫy
thu nhập trung bình.
Đầu tư nước ngoài cũng là một nhân tố quan trọng giúp Hàn Quốc có thể “nhảy qua”
mức thu nhập trung bình.
Chất lượng nguồn nhân lực của Hàn Quố c dần được cải thiện và nâng cao trong giai đoạn thu nhập
trung bình này. Điều này được thể hiện thông qua trình độ học vấn của người dân (cụ thể ở đây là người dân
trên 25 tuổi). Năm 1980, tỷ lệ dân số trên 25 tuổi có trình độ học vấn ít nhất là trung học cơ sở là 45,81% và
trình độ học vấn ít nhất sau trung học cơ sở là 8,91%. Tỷ
lệ này vẫn tiếp tục tăng qua các năm và đến năm 1995 thì tỷ lệ này lần lượt là 71,92% và
20,82%( Ngân hàng thế giới World Bank).
Hình 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc giai đoạn 1978-2002
Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
14000
12000
10000
8000
6000
4000
2000
2002
1985
1984
1983
1982
1981
1980
1979
1978
0
Nguồn: Ngân hàng thế giới World Bank.
Hình 2.2. cho thấy từ năm 1985 Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài mặc dù năm 1978 đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đạt 89 triệu đô la Mỹ.
Hàn Quốc cũng rất chú trọng vào đầu tư công nghệ. Năm 1988, xuất khẩu công nghệ
cao chiếm 15,94% sản xuất xuất khẩu và năm 1996 con số này là 24.06%. Tỷ lệ xuất khẩu
công nghệ cao trên tổng sản xuất xuất khẩu cao nhất là năm 2000 đạt 35,07%.
Tuổi thọ trung bình của người dân là một trong những tiêu chí thể hiện mức sống của
một đất nước. Tuổi thọ trung bình được cải thiện từ 65,2 tuổi năm 1978 đến 74,2 năm 1996 và
76,4 năm 2001 (Ngân hàng thế giới World Bank) . Tuổi thọ trung bình tăng thể hiện Hàn
Quốc không chỉ quan tâm đến giáo dục mà còn quan tâm đến sức khoẻ người dân – yếu tố
quan trọng quyết định trực tiếp đến năng suất lao động.
2012
2014
2016
2018
Nguồn: Ngân hàng thế giới World Bank.
Tốc độ tăng trưởng GNI bình quân đầu người trong giai đoạn này nằm trong khoảng 25%, riêng năm 2009 là -0,039% do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và năm 2010 là
6,325%(Ngân hàng thế giới World Bank).
Tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP không có thay đổi
nhiều so với những năm cuối của giai đoạn thu nhập trung bình. Năm 2017, tỷ lệ đóng góp
của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP lần lượt là 1,96%; 35,87% và 52,84%
(Ngân hàng thế giới World Bank).
Tỷ lệ tổng vốn trên GDP không còn cao như những năm 1990-1997 nhưng tỷ lệ này cũng không thấp,
luôn dao động khoảng 27-33%. Cùng với giá trị GDP ngày càng lớn, tổng vốn của
nền kinh tế Hàn Quốc ngày càng cao. Năm 2017 tổng vốn của nền kinh tế đạt 475 tỷ đô la Mỹ
( tương đương với 31,08%GDP) (Ngân hàng thế giới World Bank).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc vẫn có xu hướng tăng.
Hình 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc giai đoạn 2002-2017
Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ
FDI
18000
16000
14000
12000
Nhờ có các chính sách của nhà nước quan tâm đến giáo dục mà chất lượng nguồn nhân
lực ngày càng được cải thiện. Lao động với trình độ tiên tiến là 77,87%. Tỷ lệ dân số trên 25
tuổi đạt trình độ ít nhất là cử nhân hoặc tương đương năm 2010 là 24,36% và con số này vẫn
tiếp tục tăng lên đến 28,68% năm 2015. Tỷ lệ dân số trên 25 tuổi đạt trình độ ít nhất là thạc sỹ
hoặc tương đương năm 2010 là 3,54% và năm 2015 là 4,45%. Tỷ lệ dân số trên 25 tuổi đạt
trình độ ít nhất là trung học cơ sở và trình độ đạt ít nhất là sau trung học cơ sở tăng đáng kể so
với những năm giai đoạn có mức thu nhập trung bình. Tỷ lệ này năm 2015 lần lượt là 85,72%
và 40,3%(Ngân hàng thế giới World Bank).
Về công nghệ, tỷ lệ xuất khẩu công nghệ cao trên tổng sản xuất xuất khẩu không cao
như năm 2000, dao động từ 26-33%. Riêng năm 2017 tỷ lệ này giảm chỉ còn 14%. Xét về mặt
giá trị, xuất khẩu công nghệ cao của Hàn Quốc vẫn tăng từ năm 2002, đạt giá trị cao nhất vào
năm 2014 là 133,45 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, từ năm 2015 đến năm 2017 giá trị xuất khẩu công
nghệ cao của Hàn Quốc lại giảm. (Ngân hàng thế giới World Bank).
Sức khoẻ của người dân cũng được cải thiện đáng kể. Tuổi thọ trung bình tăng, năm
2017 là 82,6 tuổi. Hàn Quốc là một trong những nước có tuổi thọ trung bình của người dân
thuộc nhóm cao (Ngân hàng thế giới World Bank).
2.3. Chính sách kinh tế - xã hội giúp Hàn Quốc vượt qua bẫy thu nhập trung bình
2.3.1. Chính sách công nghiệp
a. Đề cao xuất khẩu, trợ cấp cho các ngành công nghiệp xuất khẩu
Trong giai đoạn 1950-1960, chính sách công nghiệp của Hàn Quốc được đặc trưng bởi
chính sách đề cao xuất khẩu, trợ cấp cho các ngành công nghiệp xuất khẩu, áp dụng chính
sách thay thế nhập khẩu tập trung chủ yếu vào các mặt hàng tiêu dùng. Chính phủ sử dụng
triệt để các hàng rào thuế quan và hạn chế nhập khẩu tới mức tối đa nhằm bảo hộ các ngành
công nghiệp trong nước và thúc đẩy sản xuất trong nước.
Giữa những năm 1960, chính phủ đưa ra các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu như miễn,
giảm thuế và hỗ trợ tài chính, chính phủ còn cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển
kinh tế, thành lập các tổ chức để thúc đẩy xuất khẩu như: Cơ quan xúc tiến thương mại đầu tư
đạo và đầu tư phát triển nâng cấp, cơ cấu lại ngành nghề, cải thiện môi trường đầu tư, duy trì
ổn định giá đất, tạo nguồn cung cấp lực lượng lao động, cải cách tiền lương; thông qua thu
hút FDI thúc đẩy chuyển giao kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nâng cao sức cạnh tranh.
Theo Đoàn Thị Kim Tuyến (2017), với sự giúp đỡ về nhiều mặt của chính phủ như trên,
tỷ trọng các ngành công nghiệp nặng ở Hàn Quốc gia tăng nhanh chóng từ 38% năm 1973 lên
tới 54,4% năm 1980 và chiếm tới 50% tổng giá trị xuất khẩu năm 1980.
c. Bảo hộ những ngành công nghiệp nặng, then chốt của quốc gia
Chính phủ thực hiện sự bảo hộ mạnh mẽ đối với các ngành công nghiệp ngay từ những
ngày đầu phát triển. Tất cả các công cụ chính sách về tiền tệ, tài chính đều được sử dụng để
hỗ trợ cho các ngành công nghiệp then chốt như xi măng, phân bón hay công nghiệp lọc
hóa dầu…
Thực hiện cơ chế kết hợp linh hoạt “Chính phủ cứng và thị trường mềm” trong việc
thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế. Chính phủ Hàn Quốc gắn kết chặt chẽ với các tập
đoàn tài phiệt Chaebol, khuyến khích và ủng hộ mọi mặt cho sự phát triển của Chaebol. Theo
“Sáng kiến phát triển công nghiệp nặng và hóa chất” vào những năm 1970, Hàn Quốc cung
cấp tín dụng ưu đãi cho các Chaebol (tập đoàn) lớn, thậm chí áp dụng lãi suất âm, để tạo điều
kiện cho ngành công nghiệp bán dẫn nói riêng và ngành điện tử nói chung lớn mạnh.
d. Phát triển theo cơ chế thị trường, tăng cường vai trò của doanh nghiệp tư nhân
Trong những năm 1980 và 1990, do ảnh hưởng của khủng hoảng dầu mỏ và kinh tế giai
đoạn 1973-1975 gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu công nghiệp và giảm sức cạnh tranh, chính
phủ Hàn Quốc buộc phải thực hiện sự điều chỉnh chính sách công nghiệp theo hướng tăng cường
tự do hóa thị trường, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho khu vực tư nhân và phát triển các ngành
công nghiệp kỹ thuật cao như công nghiệp bán dẫn, ô tô, đóng tàu, hàng không.
Cho phép khu vực tư nhân tham gia thu hút đầu tư nước ngoài. Với những doanh nghiệp
có tiềm năng nhưng thiếu vốn liên doanh với doanh nghiệp nước ngoài hay những dự án liên
kết được dự báo có hiệu quả cao nhưng thiếu vốn sẽ được nhà nước hỗ trợ vốn.
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo.
Thay thế chế độ tỷ giá cố định bằng tỷ giá linh hoạt, đồng Won bị phá giá do nó gắn với
đồng USD và bị chi phối bởi những quy định của IMF vì thế các nhà đầu tư có thể an tâm đầu
tư vào đây.
Thành tựu: Nền kinh tế từng bước được ổn định và có những dấu hiệu tích
cực: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng 4%/năm
Các ngành công nghiệp được khuyến khích đầu tư có sự tăng trưởng mạnh mẽ, năm
1965 tỷ trọng công nghiệp trong GDP là 19,8% và chiếm 22,8% năm 1970 và có xu hướng gia
tăng, tuy nhiên trong ba ngành, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp ở thời kỳ này
vẫn là ngành có tỷ trọng nhỏ nhất.
Ngành dịch vụ mặc dù vẫn còn bị hạn chế về mặt đầu tư nước ngoài nhưng vẫn giữ tỷ trọng
cao nhất trong GDP ghi nhận sự tăng trưởng từ 41,8% (năm 1965) đến 49,2% (năm 1970).
Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 9,8% (năm 1962) xuống chỉ còn 4,1% (năm 1975).
Tỷ lệ đầu tư nước ngoài tăng từ 11,8% (năm 1962) lên đến 35,8% (năm 1979)
b. Chính sách kết hợp khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài và từng bước tự do hóa kinh tế
(giai đoạn 1980 – nay)
Đạo luật xúc tiến đầu tư nước ngoài FIPA, có hiệu lực từ tháng 11 năm 1998, cho phép các
nhà đầu tư nước ngoài tận dụng dịch vụ một cửa và đãi ngộ đồng nhất. Đạo luật này cũng tạo ra
môi trường đầu tư nước ngoài hấp dẫn hơn với các tiện ích như: ưu đãi về thuế, tiền thuê nhà máy
rẻ hơn, quy trình thủ tục hành chính đơn giản, các dịch vụ hỗ trợ, đào tạo nhân lực…
Đối với các nhà đầu tư công nghệ cao, thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp tăng từ 8
năm lên đến 10 năm. Hủy bỏ các lệnh cấm nhập khẩu, giảm các hạng mục chịu thuế quan.
Bất động sản thuộc sở hữu Nhà nước có thể cho các hãng đầu tư từ nước ngoài thuê với
hoạt động nghiên cứu, giảm tối đa 18% thuế thu nhập cho nhân sự của các công ty nước ngoài
và không ngừng cải thiện môi trường sống cho các lao động nước ngoài.
Từ tháng 9 năm 2014 những người người nước ngoài đầu tư trên 500.000 USD (trước
đó là 2 triệu USD vào Hàn Quốc sẽ nhận được thẻ cư trú vĩnh viễn.
Kết quả
Với tỷ lệ tự do hóa kinh tế đứng thứ 4, hệ số biến thiên của FDI là 0,81. Hàn Quốc là
một trong những quốc gia thu hút FDI nhiều nhất thế giới, quốc gia này đã chứng mình họ là
một thị trường năng động, là mảnh đất có tiềm năng thu được lợi nhuộn cao.
Trước những năm 1980, dòng vốn FDI vào Hàn Quốc rất nhỏ do đây không phải quốc
gia giàu tài nguyên và các chính sách hạn chế của chính phủ. Tuy nhiên với những thay đổi
như trên, dòng vốn FDI đã tăng từ 143.140.00 USD ở năm 1980 đến 422.350.000 USD vào
năm 1984 và sau khi quốc gia này mở cửa thêm 26 ngành sản xuất và vẫn hạn chế lĩnh vực
dịch vụ, con số này đã tăng gần gấp đôi từ 532.200.000 USD vào năm 1985 lên 1.063.851.000
USD vào năm 1987.
Năm 1993, với chính sách cho phép các quốc gia thành viên OECD được tiếp cận với thị
trường Hàn Quốc cùng với đó là việc mở cửa cho nhiều ngành công nghiệp bị hạn chế trước
đó, dòng vốn FDI đã tăng từ 1.044.270.000 USD năm 1993 lên 1.970.430.000 năm 1995 và
3.205.480.000 USD năm 1996.
Năm 1997 – 1998, trong bối cảnh khủng khoảng tài chính tiền tệ Châu Á, FDI Hàn
Quốc vẫn tăng mạnh từ 6.971.140.000 (1997) gấp đôi so với năm 1996.
Ngày 3/1/2018 Bộ Công nghiệp, thương mại và tài nguyên Hàn Quốc cho biết đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Hàn Quốc trong năm 2017 đã đạt 22,94 tỷ USD, tăng 7,7% so
với năm 2016. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, đồng thời cũng đánh dấu năm thứ ba
liên tiếp đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc vượt ngưỡng 20 tỷ USD.
Trong đó, đầu tư từ Liên minh châu Âu (EU) trong năm 2017 là 7,06 tỷ USD, tăng 4,5%
Kết quả:
Vốn OFDI Hàn Quốc tăng nhanh từ xấp xỉ 22 tỷ USD năm 2007 lên hơn 28 tỷ USD
năm 2010, tương đương mức tăng từ 1% lên 2% tổng vốn OFDI thế giới.
Trong giai đoạn 2010 - 2014, Hàn Quốc luôn duy trì mức đầu tư ra nước ngoài cao trên 28
tỷ USD, trong đó đạt mức kỉ lục 30 tỷ USD năm 2012. Tuy sau đó mức đầu tư ra nước ngoài của
Hàn Quốc sụt giảm xuống chỉ còn 23,7 tỷ USD năm 2015, nhưng đã hồi phục nhanh chóng lên
mức xâp xỉ 30 tỷ USD năm 2016, tương đương 1,9% tổng vốn OFDI thế giới.
Theo Báo cáo đầu tư thế giới 2017 (UNCTAD), với mức đầu tư này, Hàn Quốc hiện giữ
vịtrí thứ 13 trong Top các nước có đầu tư ra nước ngoài lớn nhất năm 2016, tăng 3 bậc so với
năm 2015.
Theo báo cáo đầu tư quốc tế lần thứ VII của OECD 2018, tính đến hết quý III/2017,
Hàn Quốc đã đầu tư ra nước ngoài hơn 25,6 tỷ USD, tương đương gần 86% tổng vốn OFDI
của Hàn Quốc năm 2016.
Xét theo khu vực đầu tư, trong giai đoạn 1980 – 2016, Châu Á thu hút được nhiều nhất
vốn OFDI từ Hàn Quốc (40%), tiếp theo là Bắc Mỹ (26%) và Châu Âu (16%). Số lượng doanh
nghiệp Hàn Quốc được thành lập mới tại khu vực châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất với
47.394 doanh nghiệp, chiếm khoảng 67%. Số lượng doanh nghiệp Hàn Quốc tại Bắc Mỹ là
14.411, chiếm 21%.
Từ năm 1980 đến nay, đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào các
ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo; Khai khoáng; Tài chính và bảo hiểm; Bán buôn bán lẻ;
Bất động sản và cho thuê. Đây đều là những ngành phù hợp với thế mạnh và nhu cầu của kinh
tế Hàn Quốc. Năm lĩnh vực này chiếm đến hơn 80% vốn đầu tư của Hàn Quốc. Trong đó, các
doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 153 tỷ
USD, chiếm 30%, khai khoáng là 100 tỷđô la Mỹ, chiếm 20% tổng OFDI của Hàn Quốc.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam là một thị trường ưa thích của các nhà đầu tư
Hàn Quốc. Tính đến tháng 6 năm 2018, Hàn Quốc đứng đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh
thổ đầu tư vào Việt Nam. Tổng vốn đăng ký của Hàn Quốc là 61,67 tỉ USD, chiếm 18,6%
Từ trước khi nền kinh tế cất cánh, giáo dục ở Hàn Quốc đã khá được coi trọng. Nhờ việc
thực thi luật giáo dục bắt buộc năm 1948, tỷ lệ nhập học các cấp đã gia tăng nhanh chóng trong
giai đoạn 1945-1961. Tính đến năm 1960, có khoảng 56% dân số trưởng thành ở Hàn Quốc tiếp
cận với giáo dục tiểu học và 20% đạt được giáo dục trung học, cao hơn nhiều so với
21
con số của các nước đang phát triển lúc bấy giờ (lần lượt là 26% và 5%). Kết quả là, lực
lượng lao động ở Hàn Quốc được trải qua đào tạo cơ bản từ rất sớm. Sau đó, mặc dù bị ảnh
hưởng nặng nề bởi chiến tranh, song vai trò của giáo dục không vì thế mà bị lơ là. Kể từ
những năm 1960, chính sách giáo dục của Hàn Quốc liên tục thay đổi để có thể đạt được các
mục tiêu đề ra trong các kế hoạch kinh tế và đáp ứng sự thay đổi nhu cầu của thị trường.
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Chính phủ Hàn Quốc đặt nhiều sự quan tâm đến giáo
dục trung học cơ sở nhằm cung cấp một đội ngũ lao động thích hợp và kịp thời cho sản xuất
quy mô lớn trong các ngành chế tạo. Tuy nhiên, kể từ đầu những năm 1980, chính phủ lại
hướng sự tập trung vào phát triển giáo dục phổ thông và đại học với mục đích tạo ra một đội
ngũ lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao.
Điều này được thể hiện rõ trong chi tiêu của Chính phủ Hàn Quốc dành cho giáo dục. Theo
số liệu của Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc, tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục đại học trong
GDP tăng từ 1% năm 1970 lên tới 1,9% năm 2000; trong khi đó, con số dành cho giáo dục
tiểu và trung học giảm từ 4,3% xuống còn 3,9% trong cùng kỳ.
Nhờ sự coi trọng đầu tư cho giáo dục, Hàn Quốc đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Ngay từ
năm 1970, tỷ lệ gia nhập bậc tiểu học đã đạt 100%. Tỷ lệ mù chữ giảm từ trên 10% năm 1970
xuống gần như bằng không năm 1997. Tỷ lệ nhập học bậc trung học đạt mức 40% năm 1970 và
gần như phổ cập vào năm 1997. Còn đối với giáo dục phổ thông, Hàn Quổc đứng thứ 3 trong số
các quốc gia OECD về trình độ đạt được, và có tới 84% số học sinh tốt nghiệp phổ thông gia
nhập các trường đại học và cao đẳng vào năm 1998. Như vậy, có thể thấy, giáo dục
ở Hàn Quốc phát triển khá nhanh chóng. Điều này giúp tăng năng lực cũng như trình độ của
người lao động, giúp họ có thể tiếp thu những tiến bộ công nghệ và đáp ứng kịp thời nhu
nền kinh tế Hàn Quốc nhờ vậy mà tăng lên. Chúng ta có thể thấy rằng, năng suất các nhân tố
tổng hợp (TFP) đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1982- 1995 (44%) – gia
tăng vượt bậc so với con số chi 6% giai đoạn 1970-1982.
Giai đoạn Hàn Quốc tự cải tiến và phát triển công nghệ (giữa những năm 90 đến những
năm 2000). Hàn Quốc có được sức cạnh tranh trên thế giới trong các ngành công nghiệp chủ
lực và bắt đầu tự phát triển các công nghệ dẫn đầu thế giới, công nghệ tiên tiến vượt trội. Hàn
Quốc đặt ra tiêu chuẩn cho ngành thông tin di động không dây quốc tế (năm 1994) khi lần
đầu tiên trên thế giới phát minh ra 64M DRAM (năm 1992) và làm ra công nghệ CDMA.
Hơn nữa, thông qua việc liên tục nghiên cứu phát triển động cơ máy móc, Hàn Quốc bắt
đầu xuất khẩu động cơ với tính năng được cải tiến ra thị trường nước ngoài (năm 2004).
Trong giai đoạn này, cả doanh nghiệp tư nhân lẫn các trường đại học tất cả đều sở hữu năng
lực nghiên cứu phát triển công nghệ công nghiệp ở trình độ cao.
23
Hàn Quốc trải qua các giai đoạn thay đổi và củng cố “hệ thống đổi mới quốc gia” và đã
thành công trong việc phát triển như một nước theo sau nhưng tiến với tốc độ nhanh (fast
follower). Trong giai đoạn đầu, trình độ phát triển công nghệ định hướng đáp ứng nhu cầu của
các ngành công nghiệp; nhưng từ sau năm 2000, đã chứng kiến sự tiếp nối của việc nâng cao
năng lực nghiên cứu phát triển quốc gia và sự trưởng thành của các doanh nghiệp công nghệ
cao trong lĩnh vực ICT ở Hàn Quốc. Cùng với việc làm chủ công nghệ cao và đào tạo nguồn
nhân lực cao cấp, Hàn Quốc đã trở thành “đầu tàu” tiến bước vào nhóm các nước có thu nhập
trên trung bình. Từ năm 2000 về sau, Hàn Quốc được gọi là người theo sau thông minh (smart
follower) và người mở đường (path mover).
24
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.1. Việt Nam và thực trạng sập bẫy thu nhập trung bình
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1985
0,0
Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động của Việt Nam thấp so với các
nước trong khu vực là do người lao động Việt Nam chỉ đảm nhận các công việc gia công,
nguồn lao động giá rẻ là lợi thế của nền kinh tế. Bên cạnh đó, Doanh nghiệp Việt hiện nay
phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 90%, với công nghệ sản xuất thấp. Vì vậy,
nâng cao năng suất lao động là một bài toán khó của chính phủ và toàn xã hội Việt Nam.
3.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm lại
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia vừa là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng
trưởng kinh tế vừa phản ánh bản chất của quá trình công nghiệp hoá. Trong điều kiện hội nhập
kinh tế toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh bản chất quá trình công nghiệp hoá, khả
năng thích nghi và mức độ hội nhập quốc tế của quốc gia về kinh tế.
Cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP trong những năm gần đây, cơ
cấu ngành kinh tế ở Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể theo chiều hướng tích cực. Tỉ trọng
26
ngành công nghiệp có xu hướng giảm dần qua các năm, cùng với đó là tỷ trọng ngành công
nghiệp và dịch vụ đã có sự cải thiện.
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2018, đóng góp vào tăng trưởng
của hai ngành Công nghiệp và Dịch vụ chiếm khoảng 90% tăng trưởng toàn kinh tế. Điều này
chứng tỏ xu thế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm
lực kinh tế đất nước.
Bảng 3.1: Cơ cấu GDP theo ngành qua các năm ở Việt Nam
Năm
Cơ cấu GDP (%)
Nông nghiệp
Công nghiệp
33,55
37,27
2013
17,96
33,20
38,74
2014
17,70
33,22
39,40
2015
17,00
33,25
39,73
2016
27
nhanh nhưng việc chuyển dịch chậm tiềm ẩn yếu tố không bền vững trong tăng trưởng đòi hỏi
chi phí điều chỉnh lớn.
3.1.4. Không có sự cải thiện trong các bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu
Vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng dựa trên ba chỉ số của hoạt động kinh tế: khả
năng cạnh tranh, môi trường kinh doanh và tự do kinh tế. Có thể thấy, Việt Nam không được
xếp hạng cao như kỳ vọng đối với một nước có thu nhập trung bình thấp.
Bảng 3.2: Xếp hạng Việt Nam dựa trên 3 chỉ số hoạt động kinh tế từ 2 006-2013
Xếp hạng tính cạnh
tranh toàn cầu - Diễn
đàn kinh tế Thế giới
(World Economic
Forum)
Mức độ dễ dàng thực
Chỉ số tự do kinh tế -
hiện hoạt động kinh
Tự do kinh tế thế giới
doanh - Ngân hàng Thế
(Economics Freedom of
giới (World Bank)
91/178
107
2009
75
92/181
93
2010
59
93/183
102
2011
65
78/183
122
2012