VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ ĐỨC THẮNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC BẬC CAO PHỤC VỤ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở MALAYSIA, THÁI
LAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62 31 01 06
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Chi
Hà Nội, năm 2017
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Giáo dục bậc cao luôn là một mục tiêu quan trọng của các chương trình phát
triển quốc gia, là một hình thức quan trọng trong đầu tư vốn nhân lực –một yếu tố đầu
vào rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Đóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng
kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển có sự khác nhau. Ở các xã hội truyền thống, tập
trung phát triển giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có tầm quan trọng hơn nhiều so
với phát triển giáo dục bậc cao bởi nền kinh tế thời kỳ này chủ yếu cần một số lượng
lao động có quy mô lớn và cần ở trình độ nhận thức cơ bản. Tuy nhiên, sang các xã hội
hiện đại, đặc biệt là xã hội tri thức ngày nay, chất lượng lao động được đặt lên hàng
trung ở các ngành kinh tế, quản lý, luật và giáo dục. Nền giáo dục đại học của Việt
Nam hiện nay có quá nhiều vấn đề mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ chính hệ thống
giáo dục đã lỗi thời, chưa theo kịp thời đại.Theo đánh giá của các chuyên gia nước
ngoài, nguyên nhân khủng hoảng của giáo dục đại học ở Việt Nam chủ yếu là do
không có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển giáo dục. Các nhà
đầu tư nước ngoài cho rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ
là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ. Cho đến nay Việt Nam đang thiếu vắng các
trường đại học và các học viện có chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn quốc tế để đào tạo
nguồn nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế.
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bậc cao ở Thái Lan và Malaysia là rất có ý
nghĩa vì đây là hai quốc gia đạt kết quả tốt trong phát triển giáo dục bậc cao. Chính vì
vậy, đề tài “Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái
Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và
thực tiễn, giúp tác giả luận án tìm hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục bậc cao trong
tăng trưởng và phát triển kinh tế, đánh giá và học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong phát
triển giáo dục bậc cao (cụ thể là kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan), từ đó có
những kiến nghị, đề xuất để góp phần vào công cuộc đào tạo giáo dục bậc cao và phát
triển nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng kinh tế thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục đíchnghiên cứu:
Đề tài tập trung phân tích chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và
Malaysia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tìm hiểu và đánh giá
thành tựu và hạn chế của phát triển giáo dục bậc cao của hai nước này, nghiên cứu mối
liên hệ của giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở hai nước, từ đó có những đánh
giá so sánh, rút ra những bài học kinh nghiệm và những kiến nghị chính sách cho Việt
Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu trên, Luận án cần giải quyết 4 nhiệm
vụ cơ bản sau đây:
đến bậc tiến sĩ, sau tiến sĩ. Tác động của giáo dục bậc cao chỉ nghiên cứu những khía
cạnh liên quan đến tăng trưởng kinh tế, không nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến
phát triển xã hội và các khía cạnh khác.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, trong
nghiên cứu, phân tích và trình bày các vấn đề, Luận án sẽ sử dụng những phương pháp
nghiên cứu như phương pháp thống kê, thu thập các thông tin thứ cấp để tiến hành
4
phân tích, so sánh, tổng hợp, mô tả, nghiên cứu nhân - quả định tính, nghiên cứu so
sánh, phương pháp dự báo. Đồng thời, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, công
trình này sẽ bổ sung, phát triển những luận cứ khoa học và thực tiễn mới nhằm thực
hiện tốt những mục tiêu nghiên cứu đặt ra.
Kỹ thuật sử dụng chủ yếu là sưu tầm, lựa chọn các tài liệu liên quan trực tiếp
đến chủ đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước; thu thập các số liệu thứ cấp từ các
nguồn khác nhau để có tư liệu sơ cấp phục vụ cho phân tích và đánh giá. Từ đó, xử lý
tài liệu, đánh giá và phân tích, rút ra những kết luận khoa học về bản chất, nguyên
nhân, tác động của các vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra các kiến nghị chính sách.
5. Ý nghĩa khoa học của luận án:
- Đề tài mang ý nghĩa về mặt lý luận. Từ trước đến nay, các lý thuyết về phát
triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực đã được các học giả trong và ngoài nước
nghiên cứu rất nhiều, rất đa dạng. Tuy nhiên, giáo dục bậc cao mới được nghiên cứu
thông qua các công trình nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định ở nhiều nước khác nhau,
từ đó rút ra những đánh giá, nhận định. Các khái niệm và các tiêu chí đánh giá giáo
dục bậc cao, tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế được các tác
giả đi trước nghiên cứu ở nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhiệm vụ của luận án là kế
thừa các kết quả của các nghiên cứu trước đó về mặt lý luận, tiếp tục nghiên cứu logic
để xây dựng khung tiêu chí đánh giá đặc điểm của giáo dục bậc cao, vai trò và tác
động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế.
nghiên cứu hệ thống chính sách mà các nước Đông Á thường áp dụng để phát triển
giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế.
- Phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan, mối
liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế của hai nước này, từ đó so sánh,
đánh giá để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai mô hình giáo dục bậc
cao của Malaysia và Thái Lan.
- Trên cơ sở xem xét thực trạng khủng hoảng giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện
nay, đối chiếu bối cảnh tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam với Thái Lan và
Malaysia, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách nhằm
phát triển hiệu quả giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam.
7. Kết cấu luận án:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục tài liệu
tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4 chương nội dung như sau :
Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giáo dục bậc cao
phục vụ tăng trưởng kinh tế.
Chương 3: Thực trạng phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở
Malaysia và Thái Lan.
Chương 4: Đánh giá hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở
Malaysia, Thái Lan, bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách cho Việt Nam.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu trong nước liên quan đến về chủ đề “Phát triển giáo dục bậc cao
phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt
sứ mạng của giáo dục đại học trong thời đại toàn cầu hóa, phân tích kinh nghiệm quốc
tế về vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế (tại Mỹ, Singapore, Ấn Độ,
Trung Quốc).
Trong số những công trình nghiên cứu về giáo dục bậc cao ở Malaysia và
Thái Lan, có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây: “Lựa chọn thành công:
Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam”, Chương trình châu
Á của Đại học Harvard, 2008. Cuốn sách đã nêu lên kinh nghiệm phát triển (trong đó
có phát triển giáo dục và giáo dục đại học) của các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan, Hồng Kong, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, vai trò của cuộc cách
mạng trong giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế của các nước này, và bài học
cho Việt nam trong cải cách hệ thống giáo dục đại học. Viện Khoa học giáo dục Việt
Nam năm 2010 xuất bản cuốn sách “Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức”, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả trong cuốn sách này đã phân tích chính sách
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ của một số nước, trong đó có
nhắc đến Thái Lan và Malaysia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu, bài báo liên quan đến phát triển giáo
dục bậc cao ở Malaysia, Thái Lan, cụ thể là các bài: “Thái Lan: Tập trung vào giáo
dục đại học”, tác giả Quang Hùng, Báo Giáo dục TP HCM, ngày 6/5/2009; “Việt Nam
tụt hậu 50 năm so với Thái Lan về công bố khoa học”, tác giả Bùi Du Dương, Báo
Vnexpress, ngày 11/1/2013; “Các mô hình đại học tư ở Malaysia”, tác giả Mohammed
Ali Abdul Rahman, trợ lý chính vụ trưởng vụ tuyển sinh và tiêu chuẩn giáo dục, Bộ
giáo dục đại học Malaysia, đăng trên Tạp chí Tia sáng, ngày 7/5/2013; “Giáo dục”,
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2013-2014; “Giáo dục đại học Việt nam và
Thái Lan qua vài con số”, Tạp chí Tia sáng 2/2/2014;...Các bài báo và bài nghiên cứu
này phần nào đã phân tích hệ thống giáo dục đại học ở Thái Lan và Malaysia, những
thành công trong giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế ở các nước này, liên hệ với
hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam.
Nghiên cứu về thực trạng giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, có thể kể
đến một số tác phẩm tiêu biểu như: “Kinh tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc
kinh tế chính trị, tác giả Lê Thị Hồng Điệp, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý
luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); …
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước đã phần nào cho thấy vai trò
của giáo dục bậc cao trong phát triển kinh tế - xã hội ở một quốc gia đang phát triển,
đặc biệt là ở Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Các công trình nghiên cứu này cung
cấp những tư liệu, những nhận định đánh giá đa dạng và phong phú, giúp NCS định
hình được khung phân tích của luận án và tiếp tục phát hiện các vấn đề mà các công
trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chính
sách phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia, sự tương đồng và khác biệt
của hệ thống giáo dục bậc cao ở hai nước này, những tác động của giáo dục bậc cao
đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Thái Lan và Malaysia. Các bài học kinh nghiệm rút
9
ra từ việc nghiên cứu giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia cũng chưa được các
công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến, vì vậy yêu cầu NCS phải tiếp tục nghiên
cứu để giải quyết các câu hỏi đặt ra trong luận án của mình.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu ngoài nước về những vấn đề lý luận liên quan đến giáo dục bậc
cao có những tài liệu tiêu biểu sau đây:
Cuốn “Higher education and economic development: Literature review”, tác
giả Pundy Pillay, ấn phẩm của Trung tâm đào tạo giáo dục bậc cao (Center for Higher
education transformation), Nam Phi, 2011. Cuốn sách phân tích vai trò của giáo dục
bậc cao trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, vai trò của giáo dục đại học trong kinh
tế tri thức, các biện pháp thường áp dụng để phát triển giáo dục bậc cao ở các nước
đang phát triển, vai trò của giáo dục bậc cao trong phát triển vùng và phát triển công
nghiệp, kinh nghiệm một số nước Đông Á.
Cuốn sách “Financing higher education and economic development in East
Asia”, Chủ biên Shiro Armstrong và Bruce Chapman, ấn phẩm của The Australian
National University Press, 2011. Trong chương 2 của cuốn sách này, các tác giả đã
education institutions”, tác giả Mazura Mansor, đăng trên International Conference on
Social Science and Humanity, Vol 5, 2011, Singapore. Bài viết phân tích sự phát triển
của các tổ chức giáo dục bậc cao ở Malaysia và mối quan hệ tương hỗ của các doanh
nghiệp trong các tổ chức giáo dục này nhằm đào tạo kỹ năng cho người lao động.
Trong bài viết ”Privation of higher education in Malaysia”, tác giả
G.Sivaligam(School of Business, Monash University Malaysia, 2008) đã phân tích các
chính sách phát triển giáo dục bậc cao của Malaysia kể từ năm 1970 cho đến nay, vai
trò của tư nhân hóa giáo dục bậc cao trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
cho Malaysia.
Tác giả Selvaraj Grapragasem, Anbalagan Krishnan và Azlin Norhaini Mansor
trong bài viết “Current trends in Malaysia higher education and the effect on
education policy and practice: An overview”, đăng trên International Journal of higher
education, Vol 3, No 1, 2014, Malaysia, đã phân tích các xu hướng và các chính sách
giáo dục bậc cao của Malaysia, những đặc điểm chủ yếu của giáo dục bậc cao trong
bối cảnh toàn cầu hóa lan rộng và tầm nhìn Malaysia 2020 đang đến gần.
Cuốn sách“Executive Summary: Malaysia education blueprint 2015-2025
(higher education), Ministry of education Malaysia đã tóm tắt những thành tựu đạt
được của Malaysia trong phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc cao. Những thay
đổi trong hệ thống giáo dục bậc cao của Malaysia trong những năm gần đây và triển
vọng 2015-2025.
Nghiên cứu về chính sách và thực trạng giáo dục bậc cao ở Thái Lan có một
số tác phẩm tiêu biểu sau đây:
Có rất nhiều các tác phẩm nghiên cứu về chính sách và thực trạng phát triển
giáo dục bậc cao ở Thái Lan, đưa ra những số liệu và cách tiếp cận, đánh giá khác
nhau về giáo dục bậc cao của nước này. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:
11
+Công trình “Higher education in Thailand and the National reform roadmap”,
tác giả Krissanapong Kirtikara, đăng trên Thai-US Education Rountable, Bangkok,
có giáo dục đại học) trong tăng trưởng GDP đầu người;
12
+Trong bài viết “The impact of economy policy on reshaping higher education
in Malaysia”, đăng trên HERDRA annual conference 2010, Malaysia, tác giả Jasvir
Kaur Nachatar Singh và một số tác giả khác đã nghiên cứu các động lực dẫn đến cải
cách giáo dục bậc cao ở Malaysia, các chính sách phát triển giáo dục bậc cao và thực
trạng phát triển giáo dục của một số trường đại học ở Malaysia kể từ năm 1970 đến
nay;
+ Bài viết “Linkage between higher education and labour market in Thailand”,
tác giả Phetcharee Rupavijetra, Chiangmai University, Thailand, 2011, đã phân tích
vai trò của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế ở Thái Lan, thực trạng liên kết
giữa giáo dục bậc cao và thị trường lao động Thái Lan, những khó khăn liên kết giữa
giáo dục bậc cao và thị trường lao động.
+ Cuốn sách “Effectiveness of research and innovation management at policy
and institutional levels: Cambodia, Malaysia, Thailand and Vietnam”, tác giả Asa
Olssson and Lynn Meek, OECD publication, 2013, đã phân tích các chính sách quản
lý nghiên cứu và sáng kiến của một số nước Đông Nam Á như Cambodia, Malaysia,
Thái Lan và Việt Nam, hiệu quả và tác động của các chính sách quản lý này đối với
phát triển kinh tế các nước.
+ Bài viết “Stuck in the middle? Human capital development and economic
growth in Malaysia and Thailand”, tác giả Emmanuel Jimenez, Harry Anthony
Patrinos, đăng trên Policy research working paper, World Bank, 11/2012, đã phân tích
vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan và Malaysia, những
nguyên nhân dẫn đến sự phát triển kinh tế của hai nước này, trong đó có sự đóng góp
tích cực của nguồn vốn nhân lực. Vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao thu nhập
đầu người và trở thành nước thu nhập trung bình.
+ Bài viết “Malaysia skill development and the middle income trap”, tác giả
“Effectiveness of research and innovation management at policy and institutional
levels: Cambodia, Malaysia, Thailand and Vietnam”, tác giả Asa Olssson and Lynn
Meek, OECD publication, 2013 (như đã đề cập ở phần trên).
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ngoài nước cung cấp bức tranh đa dạng
về hệ thống giáo dục bậc cao ở Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, có sự so sánh về
chính sách và tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế của các nước
này. Đây là những tư liệu quý, giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về các chính sách, đặc
điểm của hệ thống giáo dục bậc cao của hai nước Thái Lan và Malaysia, đồng thời
thấy được vai trò quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế của hai nước. Các học giả nước ngoài cũng đưa ra những phân tích khách quan
về hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam. Điều này giúp tác giả luận án có cách nhìn
chân thực hơn về thực trạng giáo dục bậc cao ở Việt Nam trong mối tương quan so
sánh với hệ thống giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia. Hạn chế của các công
trình nghiên cứu ngoài nước là chưa phân tích hệ thống các vấn đề mà luận án đang
quan tâm, các đánh giá còn đa dạng, nhỏ lẻ, rời rạc, chưa thống nhất. Hơn nữa, các
công trình trên chưa đánh giá sự tương đồng, khác biệt trong hệ thống giáo dục của hai
14
nước này và chính sự khác biệt về chính sách và hệ thống giáo dục của hai nước đã tạo
ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của hai nước có nhiều khác biệt. Luận án sẽ tiếp
tục nghiên cứu các vấn đề còn dang dở trên, đồng thời rút ra các kinh nghiệm và kiến
nghị chính sách cho Việt Nam sau khi nghiên cứu hai trường hợp điển hình là
Malaysia và Thái Lan. Đó là các vấn đề mà các công trình nghiên cứu ngoài nước
chưa đề cập đến.
1.2. Những giá trị của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và
khoảng trống nghiên cứu
+ Những điểm mạnh của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã có nhiều đóng góp
có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, làm sáng tỏ các vấn đề như nguồn nhân lực,
thu nhập và tăng trưởng kinh tế cao hơn. Giáo dục không chỉ là nguyên nhân mà còn là
kết quả của tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan.
Bài học kinh nghiệm mà các công trình nghiên cứu rút ra khá bổ ích cho các
nước đang phát triển. Các bài học này phần lớn tập trung cho việc tăng chi phí đầu tư
cho giáo dục bậc cao, tập trung phát triển nguồn vốn nhân lực, bài học về giáo dục bậc
cao và phát triển thị trường lao động, cải cách chương trình giáo dục,… Mặc dù các
bài học kinh nghiệm trong các công trình nghiên cứu còn rất ít, chưa phù hợp với điều
kiện và đặc thù khi áp dụng tại Việt Nam, nhưng cũng giúp tác giả luận án định hình
được các vấn đề cần rút ra bài học kinh nghiệm sau khi nghiên cứu thực trạng phát
triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia.
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trạng phát triển giáo
dục bậc cao ở Việt Nam mới dừng lại ở việc nêu được những nét khái quát nhất về
chính sách giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, một số khó khăn và thách thức
trong giáo dục bậc cao ở Việt Nam, những giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu
quả giáo dục bậc cao. Giáo dục bậc cao ở Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển
rất nhanh, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thông qua việc cung
cấp các yếu tố đầu vào có chất lượng cao của nguồn nhân lực, cải thiện kỹ năng quản
lý và nhận thức của người dân về các vấn đề phát triển kinh tế. Tuy nhiên, theo các tác
giả, giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay phần lớn tăng nhanh về số lượng, chưa có
sự cải thiện hiệu quả về chất lượng, sự kết nối giữa giáo dục bậc cao và thị trường lao
động còn chưa tốt dẫn đến thất nghiệp tràn lan. Giáo dục bậc cao ở Việt Nam chưa bắt
kịp xu thế thay đổi về khoa học và công nghệ của thế giới, vì vậy những đóng góp của
nó đối với tăng trưởng kinh tế còn hạn chế.
+ Những khoảng trống nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án
- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có nhiều cách nhìn và đánh
giá khác nhau về giáo dục bậc cao và mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng
kinh tế. Trong khái niệm về giáo dục bậc cao, các tác giả trong và ngoài nước cũng
đưa ra những khái niệm khác nhau. Hơn nữa, tiêu chí đánh giá vai trò của giáo dục bậc
cao đối với tăng trưởng kinh tế cũng được thể hiện rất đa dạng. Một số tác giả không
thể giải thích được sự khác biệt giữa tăng trưởng GDP giữa các quốc gia bằng biến số
kinh tế ở Malaysia và Thái Lan còn quá ít, chưa có tính hệ thống và chưa có những
đánh giá, so sánh một cách tổng thể, tác giả luận án sẽ tiếp tục nhiệm vụ nghiên cứu đề
ra, từ đó phát hiện và tìm ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo hữu ích cho
quá trình phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- Còn hiếm có những tài liệu nghiên cứu, đánh giá mối liên hệ giữa giáo dục
bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.Tầm quan trọng của giáo dục bậc cao đối
với tăng trưởng kinh tế ở Việt nam chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc, từ đó chưa
17
thấy rõ những nguy cơ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới trong việc tiếp thu
tri thức, hấp thụ công nghệ, phát triển bền vững do thiếu hụt nhân lực có chất lượng
cao. Chính vì vậy, nhiệm vụ của luận án là sẽ tiếp tục phân tích và đánh giá mối liên
hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, từ đó có cơ sở thực tiễn
để rút ra kiến nghị chính sách nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao ở Việt Nam sau
khi nghiên cứu kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan.
- Bài học đối với Việt nam khi nghiên cứu phát triển giáo dục bậc cao phục vụ
tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan sẽ được tác giả luận án làm rõ. Trong các
công trình nghiên cứu trước đó, các tác giả đã cố gắng lý giải giáo dục bậc cao là điều
kiện cần thiết để các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách phát triển đối với các
nước phát triển và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế là mang
tính dài hạn chứ không mang tính chất nhất thời đối với một quốc gia. Các bài học
khác được đưa ra đối với các nước đang phát triển có giá trị tham khảo tốt đối với Việt
Nam. Tuy nhiên, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và rút ra các bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam dựa trên thực tiễn phát triển giáo dục bậc cao của Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra các cơ sở số liệu rời
rạc, chưa hệ thống, chưa cập nhật, vì vậy nhiệm vụ của luận án là tiếp tục cập nhật các
số liệu, hệ thống hoá các số liệu theo các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
18
“bậc cao” (higher), đây không chỉ đơn thuần có ý nghĩa là một cấp học cao hơn trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia. Xét về cấp bậc, giáo dục bậc cao (higher
education) bao gồm việc giảng dạy và học tập ở các trường cao đẳng và đại học nhằm
giúp sinh viên đạt được chứng chỉ chuyên nghiệp. Giáo dục bậc cao truyền cho người
19
họ những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của
tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu.
Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục bậc
cao [89]: (i) Giáo dục bậc cao là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân
lực đạt chuẩn. Theo quan điểm này, giáo dục bậc cao là một quá trình trong đó người
học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động.
Như vậy, giáo dục bậc cao trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng
của thương mại và công nghiệp. (ii) Giáo dục bậc cao là đào tạo để trở thành nhà
nghiên cứu. Theo cách nhìn này, giáo dục bậc cao là thời gian chuẩn bị để tạo ra
những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm
những chân trời kiến thức mới. Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố
khoa học và tinh thần làm việc nghiêm ngặt để thực hiện các nghiên cứu có chất
lượng. (iii) Giáo dục bậc cao là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Rất
nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục. Do vậy,
các cơ sở giáo dục bậc cao thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động
dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa
học của sinh viên. (iv) Giáo dục bậc cao là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người
học. Theo cách tiếp cận này, giáo dục bậc cao được xem như một cơ hội để người học
được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường
xuyên và linh hoạt.
Theo quan niệm của một số nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Anh,
Ireland, giáo dục bậc cao là giai đoạn giáo dục sau bậc trung học, trong đó bao gồm cả
Mục tiêu nhằm đào tạo kiến thức học thuật trong một loạt các ngành và lĩnh vực, có
các phòng thí nghiệm phù hợp, thư viện, cơ sở hạ tầng,… để cho phép thực hiện giảng
dạy và nghiên cứu ở mức cao nhất có thể. Các trường đại học nghiên cứu phần lớn đều
có sự kết nối chặt chẽ với sự tiến bộ của tri thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đào
tạo từ bậc cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ. Mục tiêu của họ là đào tạo ra các sinh
viên có kiến thức tốt nhất và có tinh thần nghiên cứu khoa học miệt mài nhất. Quy
trình tuyển chọn sinh viên vào các trường đại học nghiên cứu cũng hết sức gắt gao và
cạnh tranh.
- Các trường đại học của tỉnh, khu vực: Các trường này chủ yếu đào tạo một số
lĩnh vực trong giáo dục bậc cao, hầu hết là đào tạo đại học và thạc sĩ, chỉ có một số ít
trường đào tạo tiến sĩ. Họ nhấn mạnh đến việc giảng dạy đào tạo những sinh viên ra
trường có thể làm được việc ngay (job-ready), đặc biệt là phục vụ mục đích đáp ứng
nhu cầu lao động kỹ năng cho địa phương trong một số ngành nghề như chế tạo, kinh
doanh, nông nghiệp, rừng, thuỷ sản, khai khoáng,… Trường thường được thành lập
dưới hai hình thức: công lập và tư nhân. Các trường này thường ít được biết đến ở
những vùng khác khu vực của trường. Vì vậy, đa số sinh viên ra trường hoặc sinh viên
đang học tập ở trường sẽ làm việc hoặc thực tập ở xung quanh tỉnh hoặc khu vực đó.
Trong hệ thống trường đại học của tỉnh, khu vực, có đào tạo đại học cộng đồng, hoặc
cao đẳng (2 năm).
21
- Trường đào tạo chuyên nghiệp: Hệ thống trường đào tạo chuyên nghiệp
thường hoạt động độc lập hoặc là một bộ phận đào tạo của một trường đại học nghiên
cứu, cung cấp các hoạt động đào tạo trong một số lĩnh vực như luật, y tế, kinh doanh,
sư phạm, nghệ thuật truyền thống, khoa học,… Các trường này tuyển dụng học sinh
sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, đào tạo và cung cấp cho sinh viên một số lĩnh
vực chuyên sâu, đào tạo chủ yếu ở bậc cao đẳng, cử nhân; một số ít trường cũng theo
đuổi đào tạo bậc học tiến sĩ và sau tiến sĩ (thường hiếm). Các trường đào tạo chuyên
nghiệp được thành lập dưới hai hình thức: công lập và tư nhân.
nước phải có tầm nhìn dài hạn và chiến lược đào tạo nhân lực bài bản, thiết kế cơ cấu
hệ thống giáo dục bậc cao sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của quốc gia.
Tổ chức giáo dục
Trình độ giáo
Chức năng giáo dục
dục
Đại học nghiên cứu
Đại học của tỉnh, khu vực
Giáo dục
Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp
Giáo dục bậc cao
Cao đẳng dạy nghề
Nghiên cứu
Đóng góp cho xã hội
Đại học từ xa
Các trường trung học phổ thông
Giáo dục phổ
Các trường dạy nghề phổ thông
Hình 2.1. Vị trí của giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục quốc gia
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
* Về đội ngũ cán bộ và giảng viên:
Giảng viên là người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiệu
trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa
học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm
nhiệm. Tiêu chí đánh giá đội ngũ cán bộ giảng viên là số lượng đội ngũ giảng viên (tỷ
lệ giảng viên/sinh viên) và chất lượng đội ngũ giảng viên. Chất lượng đội ngũ giảng
viên được phản ánh thông qua: (i) Trình độ đào tạo của giảng viên (tiến sĩ thạc sĩ, cử
nhân), (ii) Học hàm của giảng viên (giáo sư, phó giáo sư,...); (iii) Năng lực tổ chức học
tập và giảng dạy, chương trình giảng dạy được xây dựng; (iv) Năng lực sử dụng các
phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (giảng dạy bằng
tình huống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án,...); (v) Năng lực truyền đạt
(viết bài giảng và tài liệu học tập, trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe, và phản hồi); (vi)
23
Năng lực giải quyết vấn đề và ra quyết định; (vii) Năng lực sử dụng công nghệ trong
giảng dạy (PowerPoint, máy tính, web, các phần mềm sử dụng trong chuyên môn,...).
2.1.3.Các lý thuyết áp dụng để giải thích mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và
tăng trưởng kinh tế
Adam Smith trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” (The Wealth of the
Nations – 1776) đã tìm hiểu tại sao một số nước thì giầu có và một số nước lại nghèo
khổ. Smith cho rằng chính phủ có trách nhiệm hạn chế can thiệp vào các vấn đề an
ninh quốc phòng, giáo dục phổ cập, công trình công cộng (cơ sở hạ tầng như cầu
đường), thực thi các quyền hợp pháp (quyền tài sản và hợp đồng) và xét xử tội phạm.
Chính phủ chỉ nên can thiệp vào khi mọi người hành động theo lợi ích ngắn hạn, hay
ban hành và thực thi các điều luật chống lại trộm cướp, gian lận và các loại hình phạm
tội khác. Ông tỏ ý đề phòng các chính phủ cồng kềnh và quan liêu khi viết rằng: "điều