MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................. 2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT .......................................................................... 4
1.1.
Định nghĩa ....................................................................................................... 4
1.1.1. Kinh tế tuần hoàn là gì? ............................................................................ 4
1.1.2. Kinh tế tuyến tính là gì? ............................................................................ 4
1.2. Sự khác biệt giữa kinh tế tuyến tính và kinh tế tuần hoàn ................................ 5
1.3. Một số điều kiện để hình thành nên nền kinh tế tuần hoàn ............................... 6
1.4.
Vai trò của kinh tế tuần hoàn ........................................................................... 8
CHƯƠNG II.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở ĐỨC ...................... 11
2.1. Nền Kinh tế Đức và điều kiện cần thiết để thực hiện kinh tế tuần hoàn .......... 11
2.2.
Các chính sách phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Đức .................................. 12
2.2.1. Chính sách giảm thiểu, thu hồi, tái chế rác thải ....................................... 12
2.2.2. Thực hiện nghiên cứu và đổi mới ........................................................... 16
2.2.3. Chiến lược và chính sách thúc đẩy giảm thiểu Carbon. ........................... 17
2.3.
Tổng kết thành tựu và khó khăn ..................................................................... 22
2.3.1. Các thành tựu và nguyên nhân ................................................................ 22
2.3.2. Một số khó khăn và nguyên nhân ........................................................... 28
CHƯƠNG III. NHÌN NHẬN THÀNH TỰU CỦA ĐỨC VÀ MỘT SỐ ĐỊNH
Hình 4: Mục tiêu giảm phát khí CO2 trong giai đoạn 2020 -2030...............................24
Hình 5: Tỷ lệ ô tô điện trên tổng doanh số xe năm 2018, theo quốc gia.......................25
Hình 6: Top 10 Quốc gia có tỷ lệ tái chế tái chế rác thải (MSW) cao nhất..................26
Hình 7: Số lượng bao bì được sử dụng ở Đức giai đoạn 2000 - 2017...........................31
Hình 8: Phần trăm năng lượng nhập khẩu của Đức năm 2007.....................................32
Hình 9: Các thành phần năng lượng ở Đức năm 2007.................................................. 32
Hình 10: Các dòng FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2016........................................ 39
Hình 11: Tỷ trọng đầu tư cho phát triển GDP ở một số thành viên ASEAN, Trung
Quốc và Ấn Độ giai đoạn 2000 - 2022......................................................................... 41
2
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển kinh tế trong những thập kỷ qua giúp chất lượng cuộc sống của con
người được nâng cao, nhưng cũng đồng thời làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ
cân bằng sinh thái, tổn hại đến môi trường. Theo thống kê của Chương trình Môi trường
Liên Hợp Quốc (UNEP), lượng tài nguyên mà con người khai thác trong năm 2017 tăng
gấp 3,4 lần so với 50 năm trước, và con số này vẫn tiếp tục tăng nhanh. Lượng rác thải trên
thế giới cũng tăng lên nhanh chóng. Chỉ tính riêng ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Xây
dựng, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước gần 16 triệu tấn; rác thải nhựa thải ra
mỗi ngày ước tính 18 nghìn tấn và nằm trong 5 quốc gia xả rác hàng đầu ra biển, với khối
lượng 1,8 triệu tấn mỗi năm. Những vấn đề nêu trên đang gây ra áp lực rất lớn đối với các
nền kinh tế , đòi hỏi Việt Nam cũng như các quốc gia khác phải dần thay đổi quy mô phát
triển kinh tế, để đảm bảo sự phát triển bền vững
Trong bối cảnh đó, mô hình Kinh tế tuần hoàn nổi lên, được coi là giải pháp thúc
đẩy nền kinh tế, trong khi giảm khai thác tài nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi
trường. Như vậy, Kinh tế tuần hoàn được coi là xu hướng chuyển dịch tất yếu ở nhiều
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Định nghĩa
1.1.1. Kinh tế tuần hoàn là gì?
Theo European Parliament, kinh tế tuần hoàn là một hệ thống kinh tế được tạo ra
để giảm lượng rác thải xuống mức tối thiểu. Khi một sản phẩm không còn sử dụng
được nữa, nó vẫn tiếp tục được giữ lại trong nền kinh tế thay vì bị vứt bỏ ra ngoài môi
trường. Bằng cách áp dụng các biện pháp như tái chế, tái sử dụng, sửa chữa, tân
trang…những gì thường bị coi là rác thải có thể trở thành nguồn tài nguyên giá trị.
Theo WTO, trái ngược với nền kinh tế tuyến tính, kinh tế tuần hoàn là một mô
hình kinh tế trong đó giá trị của hàng hóa cũng như của tài nguyên và nhiên vật liệu
được duy trì càng lâu càng tốt để tạo ra càng nhiều giá trị mới khác. Việc này giúp ngăn
ngừa nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và giá cả thị trường bất ổn định, giảm thiểu việc phát
sinh rác thải và gia tăng việc sử dụng nguồn tài nguyên tái tạo bền vững.
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “kinh tế tuần hoàn” nhưng tựu chung lại
đều mang cùng một lớp ý nghĩa. Nhóm nghiên cứu xin đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất
dựa trên quá trình tự quan sát và tìm hiểu như sau:
Kinh tế tuần hoàn là một mô hình kinh tế (gần như) khép kín dựa trên cơ sở của
việc tiết kiệm, tái chế, tái sử dụng, chia sẻ, cho thuê hay sửa chữa nhằm kéo dài tuổi thọ
của hàng hóa, tận dụng tối đa giá trị của các nguồn nguyên nhiên vật liệu được khai
thác/thu thập, từ đó loại bỏ các tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao chất lượng
hệ sinh thái, kinh tế và xã hội về lâu dài.
1.1.2. Kinh tế tuyến tính là gì?
Kinh tế tuyến tính là mô hình kinh tế mà trong đó, vòng đời cơ bản của một hàng
hóa gồm 3 giai đoạn, đó là “take – make – dispose”. Ở giai đoạn 1, các nguyên liệu thô
cần thiết được khai thác/thu thập. Sang giai đoạn 2, nguyên liệu thô được chế biến
thành sản phẩm. Cuối cùng, ở giai đoạn 3, sau quá trình sử dụng, sản phẩm sẽ bị coi là
phế thải và thải ra môi trường. Trong mô hình này, giá trị kinh tế được tạo ra bằng cách
sản xuất và bán càng nhiều hàng hóa càng tốt.
6
(thêm cây, giảm khí metan, giảm lượng nước tưới tiêu), kinh tế và xã hội (nhiều nhà
máy, công việc mới xuất hiện giúp thúc đẩy kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp).
Bảng 1: So sánh giữa Kinh tế tuyến tính và Kinh tế tuần hoàn
Kinh tế tuyến tính
Kinh tế tuần hoàn
Hình thức
take – make – dispose
reduce – reuse – recycle
Đặc điểm
ngắn hạn, đi thẳng từ sản xuất
đến thải bỏ
dài hạn, gồm nhiều vòng đời
nhằm duy trì giá trị sản phẩm
trong lâu dài
giảm bớt các tác động tiêu cực
đến hệ sinh thái
gia tăng hiệu suất của hệ sinh
thái
phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ phúc lợi của con người.
Tiếp theo, ở giai đoạn sản xuất, đầu tiên trong khâu thiết kế sản phẩm, cần giải
quyết được các vấn đề như: Thiết kế nào cần ít đa nguyên liệu cho đầu vào nhất? Thiết
kế tháo rời hay liền khối sẽ dễ dàng hơn cho khách hàng trong việc sửa chữa? Sản
phẩm có thể tái chế hay tái sử dụng cho mục đích khác không?
Thứ hai, nên tích cực áp dụng mô hình doanh thu mới như công ty cho thuê, tức
khách hàng chỉ cần trả tiền cho việc sử dụng sản phẩm, còn sản phẩm vẫn thuộc sở hữu
của công ty. Khách hàng vừa phải trả ít tiền hơn, mà năng suất của sản phẩm cũng được
tận dụng tối đa.
Thứ ba, các doanh nghiệp cần tăng cường hợp tác với nhau để tạo nên chuỗi cung
ứng hiệu quả, làm việc cùng nhau để tạo ra lợi ích chung. Có hai loại hợp tác chính
trong chuỗi cung ứng: hợp tác theo chiều dọc và theo chiều ngang.
Hợp tác theo chiều dọc là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc các
cấp hoặc giai đoạn khác nhau trong chuỗi cung ứng. Ví dụ: hợp tác giữa Apple à
Samsung, Samsung đóng vai trò trong khẩu sản xuất màn hình OLED.
8
Trong khi hợp tác theo chiều ngang là sự hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp
ở cùng một cấp hoặc giai đoạn trong chuỗi cung ứng. Ví dụ: Boeing sáp nhập với
McDonnell Douglas để tạo ra công ty hàng không vũ trụ lớn nhất thế giới.
Việc hợp tác chuỗi cung ứng giúp các doanh nghiệp giảm chi phí cố định, cải thiện
hiệu suất, tiếp cận thị trường tốt hơn nhờ loại bỏ các công đoạn thừa thải, giảm số lượng
hàng tồn kho, kiểm soát nguồn cung và phân phối tốt hợp lý. Các thành viên trong chuỗi
có thể truy cập kết nối với các đối tác trong chuỗi để chia sẻ thông tin với nhau.
Sau quá trình sử dụng, gần như 100% sản phẩm phải được tái chế hoặc tái sử
dụng để gia tăng giá trị cũng như vòng đời của sản phẩm. Chỉ một số ít sẽ được xử lý
dễ dàng, đòi hỏi chúng ta phải liên tục tối ưu hóa toàn bộ hệ thống. Từ đó dẫn đến
những tư duy mới mẻ, các mô hình hợp tác hiệu quả giữa nhà sản xuất, nhà thiết kế và
nhà tái chế để tạo nên chuỗi cung ứng khép kín.
Dưới đây là ví dụ về vai trò của kinh tế tuần hoàn trong việc giảm bớt những tác
động tiêu cực đến môi trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua chính sách
giảm thiểu rác thải của các nước châu Âu.
Hình 2: Phần trăm thay đổi “tổng giá trị gia tăng” và “lượng rác thải” trong một
số ngành ở khu vực châu Âu giai đoạn 2004 – 2012
Nguồn: Europa
10
Từ Hình 2, nhìn chung tổng giá trị gia tăng của các ngành có xu hướng tăng nhẹ
trong khi lượng rác thải giảm liên tục.
Cụ thể, trong ngành sản xuất, so với năm 2004, tổng giá trị gia tăng của ngành vào năm
2012 tăng 7% trong khi lượng rác thải vẫn giảm 25%. Tương tự với ngành dịch vụ là
tăng 13% và giảm 23%, chi tiêu hộ gia đình tại các đô thị tăng 7% nhưng lượng rác thải
vẫn giảm 2%.
Có thể kết luận được rằng, chính sách giảm thiểu rác thải của châu Âu không hề
kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế mà ngược lại, thúc đẩy nền kinh tế đi lên một
cách bền vững và toàn diện hơn.
11
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN Ở ĐỨC
2.1.
Thu hồi rác thải về hệ thống
Nguồn: Heck (2006)
12
Vào năm 1996, Quốc hội Đức thông qua luật về nền kinh tế tuần hoàn
(kreislaufwirtschaft), thay đổi trách nhiệm sản phẩm của các nhà sản xuất. Cụ thể ở giai
đoạn thiết kế, các sản phẩm phải được thiết kế phù hợp đáp ứng yêu cầu các yêu cầu
trong phát triển bền vững, giảm thiểu suy thoái môi trường. Vai trò của các nhà sản
xuất được mở rộng khi chính phủ yêu cầu nhà sản xuất phải chịu trách nhiệm thu hồi
bao bì, chất thải và tái sử dụng trong cả sản xuất và tiêu dùng. Một số luật, chính sách
và quy định đã được thực hiện để đảm bảo tính tuần hoàn của vật liệu. Ví dụ, tất cả các
thiết bị điện và điện tử cũ sẽ được trả lại và các nhà sản xuất có nghĩa vụ phải chấp
nhận chúng miễn phí bắt đầu từ tháng 3 năm 2006. Để tăng hiệu quả của quá trình thu
hồi, các nhà sản xuất đã liên kết nhà bán lẻ thực hiện chương trình thu hồi rác thải về
hệ thống từ người tiêu dùng. Sau khi thu hồi, đương nhiên không phải 100% rác thải có
thể tái chế, chính phủ Đức sẽ chịu trách nhiệm quản lý, xử lý chất thải này. Đồng thời,
đảm bảo trách nhiệm quản lý rác thải thông xây dựng thêm các quy định về xử lý rác
thải, nhằm hạn chế tối đa lượng rác thải ra môi trường.
2.2. Các chính sách phát triển nền kinh tế tuần hoàn ở Đức
2.2.1.
2.2.1.1.
Chính sách giảm thiểu, thu hồi, tái chế rác thải
Thông qua các đạo luật nhằm giảm thiếu rác thải
Đức khởi đầu khá sớm trên con đường hướng tới kinh tế tuần hoàn. Quốc gia này bắt
đầu thực hiện triển khai Kinh tế tuần hoàn vào năm 1996. Nền tảng của việc phát triển
luật để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, ví dụ như Chỉ thị về khuôn khổ chất thải (WFD),
Chỉ thị chôn lấp (The Landfill Directive), Chỉ thị về bao bì và rác thải bao bì (The
Packaging and Packaging Waste Directive). Mục đích chính của những chính sách và
biện pháp được ban hành trên là nhằm tái sử dụng, sửa chữa, tân trang và tái chế vật
liệu và sản phẩm được sản xuất trong 28 nước thành viên. Điều này phản ánh sự thay
đổi trong suy nghĩ về những gì từng bị gọi là “chất thải” và bây giờ được xem là tài
nguyên. Mục tiêu cốt lõi của phương pháp tiếp cận này chính là nhằm giảm đáng kể sự
phát triển kinh tế từ tiêu thụ tài nguyên.
14
Bảng 2: Luật pháp, chính sách và các quy định của Đức hỗ trợ phát triển KTTH
Luật pháp, chính sách và các quy định được ban hành
Năm
Luật đóng gói (Verpackungsverordnung)
1991
Chu trình quản lý chất thải khép kín
1996
Quy định về pin đã qua sử dụng
1997
Pháp lệnh về chất thải sinh học
2005
Quy định về thiết bị điện tử
2006
Luật về kinh tế tuần hoàn (“kreislaufwirtschaftgesetz KrWG”)
2012
Luật về năng lượng tái tạo (sửa đổi)
2017
Nguồn : Heck (2006)
15
2.2.1.2.
Mô hình phân loại tái chế tại nguồn ở Đức
Hoàn Tiền khi trả lại vỏ chai
Theo luật bao bì đóng gói, tất cả bao bì được đưa ra thị trường đều cần được thu
hồi để tái chế, và vỏ chai cũng không phải ngoại lệ. Để thuận tiện cho qua trình thu hồi
vỏ chai đã sử dụng, thì các cửa hàng tạp hóa hay siêu thị sẵn sàng hoàn tiền khi người
dân mang vỏ chai đến đổi. Ở các cửa hàng tạp hóa bạn, người dân có thể đưa chai trực
người nước ngoài dễ nhận biết và bỏ rác vào thùng đúng quy định. Khi phân loại
không đúng, rác sẽ không được thu gom, nếu các công ty môi trường phát hiện ra
người nào vứt rác bừa bãi, có thể bị phạt tiền. Điểm mấu chốt của hệ thống “Green
Dot” là các nhà sản xuất và bán lẻ phải trả tiền để có được Green Dot (điểm xanh) in
trên bao bì sản phẩm. Nếu lượng bao bì càng lớn, doanh nghiệp càng phải trả nhiều chi
phí. Để tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp buộc phải sử dụng ít giấy hơn, thủy tinh mỏng
hơn và hạn chế kim loại, nhờ vậy, lượng rác thải ra môi trường sẽ giảm đi rất nhiều.
(Nguyễn Viết Cường, 2018)
2.2.2.
Thực hiện nghiên cứu và đổi mới
Nhận ra cốt lõi của việc phát triển kinh tế tuần hoàn hiệu quả, là dựa trên các kết
quả của việc nghiên cứu lý thuyết, rồi đưa ra các chính sách áp dụng vào thực tiễn,
chính phủ Đức sẵn sàng “mạnh tay” đầu tư vào hoạt động nghiên cứu trong nước, cũng
như “năng nổ” tham gia vào các chương trình nghiên cứu mang tầm quốc tế.
Năm 2010, Đức lần đầu tiên đưa ra một chương trình nghiên cứu được thiết kế để
mở đường cho sự thay đổi hướng tới một ngành công nghiệp và xã hội dựa trên sinh
học. Chương trình Nghiên cứu bền vững của Đức (Forschung für Nachhaltigkeit;
BMBF 2015), gồm các dự án đang thực hiện trong lĩnh vực nghiên cứu sinh thái xã hội,
những bước đầu tiên đã được thực hiện. Điều đó thể hiện một nền tảng mà trên đó tầm
quan trọng của nghiên cứu kinh tế tuần hoàn có thể được củng cố hơn nữa. Vào cuối
năm 2016, 2,4 tỷ euro đã được đầu tư vào các dự án nghiên cứu kinh tế sinh học. Nội
dung của dự án nghiên cứu này hướng đến: Xây dựng nguồn cung thực phẩm sẽ trở
nên lành mạnh hơn nhờ một hệ thống nông nghiệp bền vững; Dầu mỏ sẽ được thay thế
bằng các vật liệu thông minh và các nguồn năng lượng mới trong mọi tình huống mà
mặt trời và gió không có sẵn như là sự thay thế.
17
Đức đề ra các biện pháp vận tải nhằm giảm 30 triệu tấn khí thải GHG mỗi năm vào
năm 2020 so với năm 2005 (ITF, 2010). Do mức giảm trong các lĩnh vực khác có thể
18
nhỏ hơn như ước tính ban đầu, lượng khí thải CO2 từ giao thông cần phải giảm 40 triệu
tấn mỗi năm vào năm 2020 để đảm bảo đạt được mục tiêu bảo vệ khí hậu của Đức
Hiện tại, chính phủ liên bang cùng với các bên liên quan trong các lĩnh vực khoa
học, công nghiệp, chính trị và xã hội dân sự đang phát triển một chiến lược liên quan
đến vận tải và nhiên liệu. Chiến lược này nhằm xác định các lĩnh vực hành động và tích
hợp các biện pháp vận chuyển carbon thấp để đạt được các mục tiêu cắt giảm khí thải
(BMVBS, 2012).
2.2.3.2.
Thuế và chuẩn thải cho phương tiện giao thông
Đức đã thực hiện các biện pháp có liên quan trong những năm gần đây kết hợp
thuế nhiên liệu và phương tiện giao thông để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiên liệu cho
các phương tiện vận tải và giảm thiểu chất thải từ các loại phương tiện này.
Thuế nhiên liệu là một phần của Cải cách Thuế sinh thái của Đức ('Ökosteuer'),
giá xăng và dầu diesel tăng 3,07 cent mỗi lít và năm (tổng cộng tăng 15,34 cent mỗi lít
vào năm 2003) từ năm 1999 đến 2003. Điều này nhằm mục đích nội bộ hóa một phần
chi phí bên ngoài và tăng hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực giao thông. Vào năm
2012, thuế năng lượng đối với nhiên liệu vận tải là 65,45 cent mỗi lít xăng, 47,04 cent
mỗi lít dầu diesel và 18 cent mỗi kg CNG1 hoặc LNG2 (BMF, 2012).
Đức áp dụng thuế đối với các loại phương tiện giao thông, kể từ tháng 1 năm 2009,
thuế xe cơ giới (thuế lưu thông hàng năm) đã bao gồm một tính toán dựa trên CO2. Hệ
thống mới chỉ áp dụng cho ô tô mới đăng ký. Thuế này tính đến lượng khí thải CO2 điển
hình của xe cộ và có mức thuế thấp hơn đối với các phương tiện có lượng khí thải đặc biệt
“Dán nhãn phát thải” dựa trên mức tiêu thụ nhiên liệu và lượng khí thải CO2 cho
ô tô mới được chính phủ Đức ban hành vào tháng 1/2008. Mức tiêu chuẩn năng lượng hiệu
quả được xác định dựa trên lượng khí thải CO2 và trọng lượng xe. Việc phân loại hiệu quả,
từ A + (tốt nhất) đến G (tệ nhất), phụ thuộc vào mứcc độ lệch của một mẫu xe cụ thể so với
giá trị tham chiếu cho loại xe tương ứng. Việc phân loại hiệu quả cho phép
3
Mức tiêu chuẩn khí thải : giới hạn tối đa của khí thải xe cơ giới được phép thải ra môi trường
20
ít hơn 111,5 g CO2 / km đối với ô tô có 1000 kg trọng lượng không tải với mức năng
lượng hiệu quả loại A và tăng lên 171,5 g CO2 / km đối với ô tô có trọng lượng không
tải là 2000 kg. Tuy nhiên, UBA (2012) cho thấy rằng biện pháp này tự nó chỉ có tác
dụng hạn chế trong việc giảm thiểu CO2.
2.2.3.4.
Phát triển nguồn năng lượng thay thế
Phát triển nguồn năng lượng thay thế là một phần của Gói kích thích kinh tế thứ
hai, chính phủ Đức đã đầu tư rất nhiều vào việc phát triển và thương mại hóa phương
tiện di chuyển bằng điện (Electric Mobility). Một phần của chương trình này là việc
thiết lập các khu vực thí điểm cho các loại phương tiện điện này, bao gồm việc thiết lập
các địa điểm thử nghiệm và cơ sở hạ tầng cơ bản cùng với các chương trình nghiên cứu
để đánh giá hiệu quả của các dự án. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Viện Wuppertal về
các khu vực mô hình điện từ cho thấy rằng lợi ích khí hậu đáng kể có thể không đạt
được trước năm 2030. Điều này rút ra rằng Đức cần phải nỗ lực không ngừng nghỉ để
có thể cho ra được kết quả trong tương lai gần.
Một phương tiện chính cho các hoạt động trong tương lai của chính phủ liên bang
đối với các nhà cung cấp năng lượng thay thế và các lựa chọn cho việc di chuyển là
Chiến lược di chuyển và nhiên liệu (The Mobility and Fuel Strategy). Chiến lược này
hiện đang được chính phủ liên bang phát triển, xây dựng trên quy trình đối thoại trên
diện rộng với khoảng 400 doanh nghiệp, các hiệp hội và các chuyên gia từ xã hội,
ngành công nghiệp, chính trị và cộng đồng khoa học (BMVBS, 2012). Trong 18 hội
thảo và thảo luận chuyên gia vào năm 2012, các bên liên quan bày tỏ quan điểm của họ
về những thách thức hiện tại và nhu cầu tương lai cho hành động chính trị trong các
lĩnh vực khác nhau của ngành giao thông, tập trung vào nhiên liệu.
2.2.3.5.
Phát triển ngành ô tô điện.
Ngành công nghiệp ô tô Đức cam kết thúc đẩy sự phát triển của các phương tiện
di chuyển bằng điện vì bảo vệ khí hậu, sự khan hiếm ngày càng tăng của nhiên liệu hóa
thạch và nhu cầu di chuyển ngày càng tăng do dân số tăng đòi hỏi các giải pháp mới và
hệ thống đẩy thay thế. Xe điện có thể đóng góp đáng kể để bảo vệ môi trường và tránh
22
khí thải. Do đó, xe điện là một thành phần quan trọng trong chiến lược đa dạng của các
nhà sản xuất và nhà cung cấp Đức.
Thông qua bước nhảy vọt gần đây trong công nghệ pin di động điện trở thành một
lựa chọn cho di động trong tương lai. Các kỹ sư đã tập trung vào việc sử dụng những
lợi thế hiện có của động cơ điện so với động cơ đốt trong. Đó là ví dụ mức độ hiệu quả
cao của động cơ điện. Trong khi động cơ đốt trong chỉ sử dụng tối đa 50 phần trăm
năng lượng nhiên liệu, một động cơ điện có thể khai thác từ 80 đến gần 100 phần trăm
năng lượng có sẵn. Do đó, động cơ điện có thể bao phủ khoảng cách xa hơn với cùng
một năng lượng và đồng thời yêu cầu bảo trì thấp. Bộ ly hợp và hộp số đã lỗi thời cộng
phát thải năm 1990 vào năm 2018. So với năm 2017, số liệu sơ bộ năm 2018 cho thấy
lượng phát thải giảm 4,5%, sau giai đoạn đình trệ giữa năm 2014 và Năm 2017.
Năm 2019, Agora Energiewende ước tính rằng lượng khí thải giảm xuống khoảng 811
triệu tấn CO2, hoặc giảm 35% so với năm 1990, do sử dụng than giảm và sản xuất
năng lượng tái tạo cao hơn.
Bảng 3: Lượng phát thải CO2 bình quân đầu người ở Đức giai đoạn 1990 - 2015
Năm
Dân số
Lượng CO2
Lượng CO2 bình
quân đầu người
1990
79,053,984
1,003,148,970
12.69
1995
81,138,659
904,449,520
11.15
9.36
Nguồn: Worldometer
Từ số liệu được thể hiện ở bảng 2.2 có thể thấy, từ năm 1990 tổng lượng khí CO2
và lượng khí thải bình quân đầu người của Đức đều có xu hướng giảm, cụ thể năm
1990 lượng khí thải bình quân đầu người là 12,69 tấn/ người thì đến năm 2015 giảm
xuống chỉ còn 9,36 tấn/ người. Đây là dấu hiệu đáng mừng cho thấy chính sách giảm
khí thải của Đức bước đầu có hiệu quả, làm bước đệm để Đức tiếp tục thực hiện các dự
án giảm lượng khí thải trong thời gian tới.
24
Hình 4: Mục tiêu giảm phát khí CO2 trong giai đoạn 2020 -2030
Đơn vị : triệu tấn
Nguồn: Kerstine Appunn (2018)
2.3.1.2.
Về việc sử dụng ô tô điện
Tính đến năm 2018, Đức đứng thứ 17 thế giới về tỷ lệ ô tô điện trên tổng doanh
số xe nhưng đứng thứ 3 thế giới về số lượng trạm sạc, cho thấy sự khuyến khích của
chính phủ trong việc sản xuất và sử dụng xe ô tô điện để giảm thiểu khí thải ra môi
trường.