TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---------***--------
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2
HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở TRUNG
QUỐC VÀ BÀI HỌC ÁP DỤNG CHO VIỆT NAM
Nhóm
: 9
Lớp
: KTE402(2-1819).5_LT
Khóa
: 56
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CSTT.........................................................2
1.1.
Khái niệm.............................................................................................................................2
1.2.
Mục tiêu của CSTT.............................................................................................................2
1.3.
Một số tồn tại và nguyên nhân..................................................................9
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC TỪ VIỆC THỰC HIỆN CSTT CỦA TRUNG
QUỐC........................................................................................................... 11
3.1.
Bài học kinh nghiệm đối với Trung Quốc......................................................................11
3.1.1.
Về mục tiêu thực hiện CSTT...................................................................11
3.1.2.
Về công cụ thực hiện CSTT....................................................................11
3.2.
Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam..........................................................................11
3.2.1.
Về mục tiêu thực hiện CSTT...................................................................11
3.2.2.
Về công cụ thực hiện CSTT....................................................................12
KẾT LUẬN.................................................................................................. 13
: Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc
Ppp
: Sức mua tương đương
SIC
: Trung tâm thông tin quốc gia Trung Quốc
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Ba động lực tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2012 – 2013 (%).................5
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc từ năm 2005 – 2017 (%).....................6
Bảng 2.3: GDP danh nghĩa của 5 nền kinh tế lớn nhất thế giới từ năm 2002 – 2011 (Triệu
USD).................................................................................................................................. 6
Bảng 2.4: Dự trữ bắt buộc áp dụng đối với các Ngân hàng lớn, Trung Quốc (%)..............8
4
MỞ ĐẦU
Bản chất của kinh tế thị trường là một nền kinh tế tiền tệ. Chính sách tiền tệ là
một chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc
làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát... Việc lựa chọn chính sách tiền tệ sao cho hợp lý là
một trong những vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định kinh tế của mỗi quốc gia.
Làm thế nào để có một tỷ lệ tăng trưởng cao mà hạn chế được tối đa lạm phát cho xã
hội? Làm sao để đồng tiền của mình giữ vững được thế ổn định trên thị trường? Điều
tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự
tăng trường kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.
Chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
Chính sách tiền tệ mở rộng: Theo hướng này, Chính sách tiền tệ nhằm tăng
lượng tiền cung ứng, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo
việc làm. Trong trường hợp này, Chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế và
thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: Theo hướng này, Chính sách tiền tệ nhằm giảm
lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá cao của nền kinh
tế. Trường hợp này, Chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát kìm hãm sự phát triển
“quá nóng” của nền kinh tế.
1.2. Mục tiêu của CSTT
Ở mối quốc gia chính sách tiền tệ do NHNN vạch ra và đưa nó vào vận hành
trong thực tế nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Trên cơ sở đó tuỳ
thuộc vào từng thời kỳ, tình hình của mỗi quốc gia mà xác định đâu là mục tiêu chính.
Một chính sách tiền tệ hoàn hảo sẽ xây dựng được một “tứ giác thần kỳ” ứng với một
tốc độ lạm phát 1 – 3%, thất nghiệp vào khoảng 4%, tăng trưởng kinh tế phải đạt từ 3
–5% và làm sao cho số dư trong cán cân thanh toán quốc tế chiếm từ 2 – 3% trên
GNP. Một quốc gia sẽ cực kỳ ổn định nếu nó đạt được tứ giác thần kỳ này.
Kiểm soát lạm phát
Kiểm soát lạm phát (hay ổn định giá cả) là mục tiêu hàng đấu và dài hạn của
CSTT. Các NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tốc độ tăng của chỉ số giá cả
tiêu dùng xã hội. Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổn
định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn.
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế quốc
gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô.
Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu
đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả. Đây là lợi ích có
tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của một quốc gia. Lạm phát
cao hay lạm phát là thiểu phát là rất tốn kém cho xã hội. Nguy hiểm hơn sự mất ổn
lao động hơn, công ăn việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng.
Ổn định và tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt với mục tiêu việc làm cao. Chính
sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu này. Khi cung ứng tiền tệ tăng
lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất
kinh doanh, Nhà nước và doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động nhiều hơn, làm
tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, khi cung tiền tệ giảm, trong ngắn
hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhà nước
và doanh nghiệp cần ít lao động hơn, làm cho mức sản lượng giảm, tăng trưởng kinh
tế chậm lại.
Các mục tiêu trung gian
7
Trong nền kinh tế thị trường NHNN phải xác định các mục tiêu trung gian của
chính sách tiền tề, nhằm đạt đến các mục tiêu cuối cùng của chính sách này. Bởi lẽ,
NHNN sử dụng các mục tiêu trung gian để có thể xét đoán nhanh chóng tình hình
thực hiện hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối cùng hơn là chờ cho đến
khi nhìn thấy kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó.
Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ là các khối tiền tệ M1, M2, M3,
L. Đây là mục tiêu mang tính định hướng, chúng có thể đo lường kiểm soát đuợc và
có thể đoán trước được tác động của chúng với việc thực hiện các mục tiêu cuối cùng
của chính sách tiền tệ.
M1 bao gồm tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kỳ
hạn tại ngân hàng
M2: bao gồm M1 cộng với các khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại
ngân hàng.
M3: bao gồm M2 cộng với các khoản tiền gửi tại các định chế tài chính khác.
Khối tiền tệ L: bao gồm M3 và các loại giấy tờ có giá trong thanh toán.
đồng ngoại tệ. Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ
cung cầu ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ,
tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. Về
thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay
đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền
kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CSTT CỦA
TRUNG QUỐC
2.1. Tình hình phát triển kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 2008 đến nay
Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và phải
chứng kiến tốc độ giảm xuống còn 9,6% vào năm 2008. Kể từ đó đến nay, tốc độ tăng
trưởng trung bình là trên 9%. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã tác
động xấu đến hầu hết các nước trên thế giới và không ngoại trừ Trung Quốc. Để đối
phó lại với những tác động xấu của khủng hoảng này, Trung Quốc đã đưa ra các chính
sách, với sự can thiệp mạnh vào thị trường tài chính, tiền tệ. Chính sách tiền tệ của
Trung Quốc đã được nới lỏng. Tổng số tiền cho vay của các ngân hàng Trung Quốc
tăng từ 9.000 tỷ USD năm 2008 lên 23.000 tỷ USD vào cuối năm 2012. Các khoản
vay này đã đẩy chênh lệch giữa tỷ lệ tín dụng và tỷ lệ GDP danh nghĩa lên hai con số
và giữ ở mức trên 14%.
Trước thực trạng trên, việc giữ ổn định tăng trưởng được đặt ra đối với Trung
Quốc. Nếu tăng trưởng không ổn định sẽ dẫn đến hàng loạt bất ổn khác về: thu nhập,
lao động việc làm, trật tự xã hội và khả năng cạnh tranh quốc gia... Do đó, năm 2013,
Chính phủ Trung Quốc đã đặt nhiệm vụ “ổn định tăng trưởng” lên hàng đầu trong
điều tiết vĩ mô, thậm chí nhấn mạnh “đưa ổn định tăng trưởng lên vị trí quan trọng
hơn nữa”.
vẫn được kiểm soát tốt nhờ vào chính sách tiền tệ. Về thương mại, trung quốc là nhà
nhập và xuất khẩu lớn nhất thế giới. Về dự trữ ngoại hối, đứng đầu thế giới hiện nay
đạt 3,7 nghìn tỷ USD.
2.2. Thực trạng điều hành CSTT của Trung Quốc giai đoạn 2008 đến nay
2.2.1. Mục tiêu
• Mục tiêu hoạt động
Từ năm 2008 đến nay, PBoC tập trung vào 3 mục tiêu hoạt động, đó là: Tiền cơ
sở, Dự trữ vượt mức, Lãi suất trên thị trường tiền tệ.
• Mục tiêu trung gian
PBoC bãi bỏ chỉ tiêu về trần tín dụng và xây dựng chính thức chỉ tiêu mức cung
tiền là mục tiêu trung gian cho chính sách tiền tệ.
• Mục tiêu cuối cùng
Từ năm 2008 đến nay, mục tiêu cuối cùng của CSTT chỉ có một mục tiêu duy
nhất là duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.2.2. Công cụ thực hiện
• Công cụ tái cấp vốn
Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện cho vay tái cấp vốn đối với các
nhà thương mại mà không cần cầm cố bằng giấy tờ có giá. Hệ thống lãi suất thả nổi
đối với các khoản vay của PBC, lãi suất vay của PBoC kỳ hạn 20 ngày đóng vai trò
như lãi suất trần, lãi suất tiền gửi dự trữ vượt mức đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi
suất repo 7 ngày trên thị trường mở và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng 7 ngày
giao động trong khoảng của hai lãi suất trên. Lãi suất tái cấp vốn qua đêm trên sàn
chứng khoán Thượng Hải đã tăng 21,67 điểm phần trăm lên 32%, mức cao nhất kể từ
27/12/2016.
• Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB)
Năm 2011, để kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng trưởng kinh tế và tổng phương
tiện thanh toán (M2), PBoC điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Cụ thể, ngày
12
• Công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Các OMO ở Trung Quốc đa phần hoạt động trong 2 lĩnh vực: mua lại hoặc đảo
ngược hợp đồng mua lại. Mua lại nghĩa là loại bỏ thanh khoản khỏi hệ thống khi
PBoC bán các trái phiếu ngắn hạn cho ngân hàng thương mại. Khi PBoC "đảo ngược"
các hợp đồng mua lại nghĩa là họ mua lại trái phiếu nhằm tăng thanh khoản cho ngân
hàng. Những hoạt động trên giúp PBoC kiểm soát cung tiền và lãi suất trong thời gian
ngắn (các tài sản thường được chào bán trong khoảng thời gian từ 7 đến 28 ngày).
Ngày 23/10/2017, PboC đã bơm 200 tỷ NDT tiền mặt (khoảng 30 tỷ USD) vào
thị trường thông qua các nghiệp vụ thị trường mở, ghi dấu ngày thứ năm liên tiếp
PBoC tiến hành hoạt động này, nhằm làm giảm tình trạng căng thẳng tiền mặt hiện
nay.
• Công cụ lãi suất tín dụng
Trong vòng sáu tháng kể từ tháng 11/2014 đến tháng 7/2015, Trung Quốc đã
bốn lần cắt giảm lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Tháng 11/2014, Trung Quốc đã
quyết định cắt giảm lãi suất lần đầu tiên kể từ tháng 7/2012. Theo đó, lãi suất cho vay
1 năm giảm 0,4% xuống còn 5,6%; lần 2 vào ngày 31/3/2015, từ 5,6% xuống 5,33%;
lần 3 vào ngày 29/5/2015, từ 5,35% xuống 5,1%. Do cắt giảm lãi suất cho vay cơ bản
nên lãi suất tiền gửi các kỳ hạn cũng giảm theo. Việc cắt giảm lãi suất lần này là dấu
hiệu cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang thực sự yếu đi và đang đứng trước nguy
cơ giảm phát ngày một lớn, một dấu hiệu mới cho thấy các nhà lãnh đạo của nước này
đang gay gắt và quyết tâm hơn nữa nhằm cố gắng phục hồi nền kinh tế đang đi xuống.
Trong lần cắt giảm lãi suất vào tháng 6/2015, PboC đã giảm 25 điểm cơ bản ở
cả lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, lần lượt xuống còn 4,85% và 2%, nhằm hỗ trợ
cho nền kinh tế đang tăng trưởng chậm chạp. Nhìn chung, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
của Trung Quốc đang ở mức gần thấp nhất trong hai thập kỷ trở lại đây, chỉ ở quanh
mức 7%, mặc dù nhiều biện pháp kích thích tăng trưởng đã được áp dụng. Vì vậy
những lần cắt giảm lãi suất vẫn được kỳ vọng sẽ còn tiếp tục.
• Công cụ hạn mức tín dụng
chỉnh lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khuyến khích cho vay khu vực tư nhân, lĩnh vực
kinh doanh ưu tiên và cho vay mua nhà.
Việc chuyển từ trạng thái thắt chặt trong nhiều năm qua sang nới lỏng từng
bước đã được PboC thực hiện kể từ cuối năm 2014 cho đến nay, sau 4 lần giảm lãi
suất, tăng trưởng tín dụng của trung quốc đã bắt đầu ấm trở lại sau khi tụt giảm mạnh
kể từ năm 2010. Chính sách này cũng ngăn chặn sự phát triển nhanh tốc độ phi mã
của tín dụng đen tại thị trường trung quốc trong những năm trước khi chính sách thắt
chặt tín dụng được triển khai.
Sự mạnh lên của đồng CNY trong những năm qua là một phần quan trọng của
đại chiến lược tạo nên sự trỗi dậy của Trung Quốc (điều này cũng có ý nghĩa các
cường quốc mạnh luôn có đồng tiền mạnh và đồng tiền mạnh cũng giúp tạo nên
quyền lực).
Mặc dù đồng CNY tăng giá, nhưng sự can thiệp của PboC, đã giữ cho sự tăng
giá này diễn ra châm hơn, để tỷ giá hối đoái vẫn hỗ trợ tốt cho các nghành công
nghiệp xuất khẩu. Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đến hơn một nửa kim
ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Sự can thiệp này gần như là khoản thuế đánh vào
15
chính người dân để trợ cấp chi phí sản xuất hàng hóa chế tạo, bởi vì thành quả của
người dân Trung Quốc không được tiêu dùng trong nước mà chuyển đổi, thông qua
kết quả thặng dư thương mại trở thành tăng trưởng quốc gia. Chính điều này cũng tạo
nên sự thành công trong việc kết hợp giữa tăng trưởng cao và lạm phát thấp.
2.3.2. Một số tồn tại và nguyên nhân
Chính sách tiền tệ phát triển hỗ trợ xuất khẩu, kích thích tăng trưởng kinh tế, tuy
nhiên chính tiến trình công nghiệp hóa thần tốc này đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi
trường đến mức báo động và tăng xung đột lao động, cho thấy sự thiếu các quyền con
người ở Trung Quốc.
Sau 4 lần giảm lãi suất kể từ tháng 11/2014 đến nay, lãi suất trên thị trường
nước ngoài vẫn chưa đến hồi kết; thêm vào đó mục tiêu hàng đầu của Chính phủ
Trung Quốc vẫn là bảo vệ sự độc lập của chính sách tiền tệ. Trung quốc muốn bảo vệ
sự độc lập của chính sách tiền tệ, nhưng lại muốn mở cửa nguồn vốn để lôi kéo đầu tư
ở nước ngoài, vô hình chung đã vướng vào thế chân vạc cái gọi là “bộ ba bất khả thi”,
lý thuyết của Robert Mundell, khẳng định các quốc gia không thể duy trì cùng lúc 3
yếu tố gồm tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ độc lập và cán cân vốn mở cửa. Khoảng
1.500 tỷ USD đã chảy ra khỏi Trung Quốc kể từ đầu năm 2015, theo tính toán của
Bloomberg. Mặc dù Trung Quốc vẫn có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, nhưng nó
đang trên đà giảm mạnh. Điều này đồng nghĩa Trung Quốc có ít hơn công cụ để ngăn
đà giảm giá của nhân dân tệ.
17
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC TỪ VIỆC THỰC HIỆN CSTT CỦA
TRUNG QUỐC
3.1. Bài học kinh nghiệm đối với Trung Quốc
3.1.1. Về mục tiêu thực hiện CSTT
Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đặt ra mục tiêu cuối cùng của CSTT là ổn
định giá trị đồng nhân dân tệ để từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở theo
dõi thường xuyên các biến động của tiền tệ để NHTW Trung Quốc tác động vào mục
tiêu trung gian là lượng cung ứng tiền tệ.
3.1.2. Về công cụ thực hiện CSTT
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo hướng điều
chỉnh mối quan hệ giữa NHTW và NHTM để tăng cường khả năng tự điều chỉnh của
về dòng vốn của các NHTM.
Thứ hai, Công cụ tái chiết khấu của Trung Quốc gần như chưa phát huy tác
dụng do hoạt động tín dụng ở Trung Quốc chỉ mới được khôi phục từ sau cải cách.
Muốn triển khai đầy đủ hoạt động tái chiết khấu nhằm phát huy tác dụng của công cụ
vọng chính sách cũng như trách nhiệm giải trình của các cơ quan hoạch định và thực
thi chính sách. Phối hợp của các cơ quan truyền thông để định hướng tâm lý thị
trường, hạn chế tâm lý bất lợi không đáng có, ảnh hưởng đến niềm tin của thị trường
vào điều hành chính sách vĩ mô nói chung và điều hành CSTT nói riêng.
3.2.2. Về công cụ thực hiện CSTT
Do tính chất và nhiều điều kiện tương đồng trong quá trình phát triển của nền
kinh tế Trung Quốc và Việt Nam, những công cụ mà Trung Quốc đã thực hiện để điều
hành chính sách tiền tệ sẽ là bài học thực sự có ý nghĩa đối với Việt Nam để thúc đẩy
quá trình tăng trưởng bền vững.
Thứ nhất, không ngừng hoàn thiện, tiến hành cải cách công cụ tỷ lệ dữ trữ bắt
buộc hướng vào việc điều chính quan hệ vốn giữa NHTW và NHTM, tăng khả năng
tự điều chỉnh về vốn của các NHTM, phát huy đầy đủ tác dụng điều tiết của tỷ lệ dự
trữ bắt buộc đối với tổn lượng cung ứng tiền tệ.
Thứ hai, đa dạng loại hàng hoá giao dịch trên thị trường mở, hiện nay vốn chủ
yếu là tín phiếu ngân hàng. Các phương tiện giao dịch như các loại trái phiếu thời hạn
ngắn, chứng khoán do bản thân các ngân hàng phát hành... vẫn chưa giao dịch trên thị
trường này. Thêm vào đó, khối lượng tín phiếu ngân hàng còn quá nhỏ so với quy mô
vốn của ngân hàng. Như vậy, OMO chưa thực sự có tác động lớn đến cung cầu vốn
trên thị trường. Việc tăng khối lượng hàng hóa giao dịch cũng là hấp lực để thu hút
nhiều tổ chức tín dụng tham gia thị trường mở.
Thứ ba, kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy chính sách tỷ giá hối đoái luôn
gắn liền với chính sách quản lý ngoại hối: Nhà nước quản lý ngoại hối chặt chẽ, kết
hợp với quản lý dự trữ ngoại hối và ngoại tệ của quốc gia để đảm bảo sự dụng các
nguồn ngoại tệ có hiệu quả, góp phần ổn định tỷ giá và thực hiện cân đối cán cân
thanh toán quốc tế trong các thời kỳ khác nhau.
Thứ tư, chủ động điều hành linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ CSTT, tập
trung vào điều hành lãi suất chủ động, linh hoạt để điều tiết lãi suất thị trường ở mức
hợp lý, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
19
http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-quoc-te/nhan-dinh-du-bao/kinh-nghiem-dieuhanh-chinh-sach-tien-te-cua-mot-so-nuoc-99844.html
2. Chu Nga Thanh, 2017, Hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở trong quá trình
đổi mới chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/hoan-thiennghiep-vu-thi-truong-mo-trong-qua-trinh-doi-moi-chinh-sach-tien-te-o-viet-nam114019.html
3. Chính sách tiền tệ của Trung Quốc phức tạp và đang thay đổi như thế nào?
http://ndh.vn/chinh-sach-tien-te-cua-trung-quoc-phuc-tap-va-dang-thay-doinhu-the-nao--20180807104547328p145c151.news
4. Tỷ giá đồng Nhân dân tệ giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 8 năm.
http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/quoc-te/2016-11-18/ty-gia-dong-nhandan-te-giam-xuong-muc-thap-nhat-trong-hon-8-nam-38051.aspx
5. Trung Quốc bơm tiền mặt vào thị trường năm ngày liên tiếp.
https://vietnambiz.vn/trung-quoc-bom-tien-mat-vao-thi-truong-nam-ngay-lientiep-35439.htm
6. Điều hành chính sách tiền tệ của Trung Quốc và những bài học kinh nghiệm
đối với Việt Nam.
http://tailieu.co/dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-cua-trung-quoc-va-nhung-bai-hockinh-nghiem-doi-voi-viet-nam-6144/
7. Xung quanh tác động từ chính sách tiền tệ mới của Trung Quốc.
http://soha.vn/xung-quanh-tac-dong-tu-chinh-sach-tien-te-moi-cua-trung-quoc20180828141015005.htm
8. Khải niệm chính sách tiền tệ.
https://luanvanaz.com/khai-niem-chinh-sach-tien-te.html
9. Chính sách tiền tệ và sự lựa chọn của Việt Nam.
http://tai-lieu.com/tai-lieu/tieu-luan-chinh-sach-tien-te-va-su-lua-chon-cua-vietnam-21350/
21