1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THỊ LAN HƯƠNG Vấn đề giao dịch bảo đảm bằng tàu bay
trong pháp luật quốc tế hiện đại
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 60 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2012
4
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
3
Mục lục
4
Danh mục các bảng
6
Mở đầ u
7
Chƣơng 1: PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG TÀU
BAY
13
1.1. Khái quát quá trính phát triển
13
1.2. Khái niệm
16
1.2.1. Giao dịch bảo đảm
16
1.2.2. Giao dịch bảo đảm bằng tàu bay
21
1.3. Các hính thức giao dịch bảo đảm bằng tàu bay
24
5
3.2.1. Sự cần thiết gia nhập của Việt Nam.
80
3.2.2. Các quyền và nghĩa vụ phát sinh khi Việt Nam trở thành thành viên.
83
3.2.3. Những cóng việc cần thực hiện để triển khai quy định của Cóng ước và
Nghị định thư tại Việt Nam.
92
Kết luận
96
Tài liệu tham khảo
98
Phụ lục 1. Quốc gia ký kết Cóng ước
2. Quốc gia ký kết Nghị định thư
3. Cóng ước Cape Town (bản Tiếng Anh và bản dịch Tiếng Việt)
4. Nghị định thư tàu bay (bản Tiếng Anh và bản dịch Tiếng Việt)
đi vào nghiên cứu, phân tìch nội dung của toàn bộ hệ thống quy định về giao
dịch bảo đảm bằng tàu bay trong pháp luật quốc tế mà chỉ điểm qua các quy
định của pháp luật quốc tế hiện đại về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay và
tập trung vào các quy định về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay của Cóng ước
Cape Town về quyền lợi quốc tế đối với các trang thiết bị đi động và Nghị
định thư quy định cụ thể đối với trang thiết bị tàu bay. Đây là hệ thống Cóng
ước được coi là mới nhất hiện nay đề cập đến vấn đề giao dịch bảo đảm nñi
chung và giao dịch bảo đảm bằng tàu bay nñi riêng.
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, mói trường kinh doanh, đầu tư và tìn dụng với xu thế toàn
cầu hña và hội nhập ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp và tiềm ẩn nhiều
rủi ro. Nhằm loại trừ rủi ro cho nhà đầu tư, tăng khả năng tìn dụng, nâng cao
hiệu quả hợp tác thí việc quy định về các biện pháp bảo đảm, giao dịch bảo 8
đảm là hết sức cần thiết. Trong lĩnh vực hàng khóng dân dụng, giao dịch bảo
đảm cũng là một chế định khóng thể thiếu nhằm minh bạch hña tính trạng
pháp lý của tài sản tàu bay liên quan đến tìn dụng, đầu tư và hợp tác. Sau
Cóng ước Giơ-ne-vơ 1948 về cóng nhận quốc tế các quyền đối với tàu bay
thí Cóng ước Cape Town và Nghị định thư tàu bay là hệ thống cóng ước
mới nhất trong pháp luật quốc tế hiện đại đề cập đến vấn đề giao dịch bảo
đảm bằng tàu bay.
Cóng ước và Nghị định thư là kết quả của Hội nghị ngoại giao tại
Cape Town (Nam Phi) từ ngày 29/10 đến 16/11/2001 do Tổ chức Hàng
khóng dân dụng quốc tế (ICAO) và Viện về thống nhất tư pháp quốc tế
(UNIDROIT) đồng tổ chức với sự tham gia của 68 quốc gia và 14 tổ chức
quốc tế. Mục đìch ra đời của Cóng ước và Nghị định thư là nhằm thiết lập
khuón khổ pháp lý tạo lòng tin cho các chủ nợ trong việc tài trợ cho các dự
án cñ đối tượng là động cơ tàu bay, thân tàu bay và trực thăng; Thiết lập các
định thư Cape Town và các quy định của hệ thống Điều ước này về giao
dịch bảo đảm bằng tàu bay. Trong nội dung trính bày, tác giả sẽ đưa ra
những nghiên cứu, đánh giá để thấy được tình mới trong pháp luật quốc tế
về cơ chế này; thấy được mục đìch của hệ thống Cóng ước này là nhằm thiết
lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của chủ nợ theo luật quốc tế mà khóng
phụ thuộc vào các loại quyền lợi tương tự được thiết lập theo pháp luật quốc
gia; quyền lợi của chủ nợ cñ bảo đảm được cóng nhận rộng rãi và thực thi dễ
dàng giữa các quốc gia thành viên. Từ đñ, thấy được sự cần thiết tham gia
của Việt Nam; thấy được các quyền và nghĩa vụ khi Việt Nam là thành viên
cũng như các thuận lợi và khñ khăn của Việt Nam khi trở thành thành viên
của hệ thống Cóng ước này. 10
- Công ước và Nghị định thư Cape Town nói chung và vấn đề giao
dịch bảo đảm bằng tàu bay trong Công ước và Nghị định thư nói riêng là
một đề tài nghiên cứu lớn. Với khuón khổ của một Luận văn thạc sỹ, tác giả
chỉ tập trung chủ yếu giới thiệu các vấn đề cơ bản về giao dịch bảo đảm
bằng tàu bay trong Cóng ước và Nghị định thư, các thuận lợi và khñ khăn
khi Việt Nam trở thành thành viên.
3. Tính hính nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Cóng ước và Nghị định thư Cape Town là hệ thống Điều ước quốc
tế cñ tình mới. Hiện nay, cóng trính nghiên cứu về nội dung Cóng ước và
Nghị định thư chưa nhiều. Hầu hết các sách báo, tài liệu viết về Cóng ước và
Nghị định thư Cape Town đều là của các tác giả nước ngoài, viết bằng tiếng
nước ngoài, chưa được dịch hoặc chưa được phổ biến nhiều tại Việt Nam.
- Việt Nam đã tiến hành những bước đầu trong việc nghiên cứu nội
dung và xöc tiến gia nhập Cóng ước và Nghị định thư Cape Town từ năm
2003. Cho đến nay, hầu như chưa cñ đề tài nghiên cứu nào ngoài các nghiên
cứu phục vụ cho Đề án ―Gia nhậ p Cóng ướ c về quyề n lợ i quó́ c tế đó́ i vớ i
- Bước 2: Nghiên cứu bối cảnh ra đời, nội dung cơ bản và các quy
định về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay của Cóng ước và Nghị định thư.
- Bước 3: So sánh với các quy định của Điều ước quốc tế c÷ng lĩnh
vực và pháp luật Việt Nam.
- Bước 4: Đánh giá sự cần thiết tham gia của Việt Nam cũng như
những thuận lợi, khñ khăn khi Việt Nam trở thành thành viên.
- Bước 5: Đề xuất các cóng việc cần thiết để triển khai quy định của
Cóng ước và Nghị định thư tại Việt Nam. 12
6. Bố cụ c củ a luậ n văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận , bó́ cụ c củ a luận văn gó̀ m 3 chương
như sau:
- Chƣơng 1: Pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay - một
số khái lược về quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay.
- Chƣơng 2: Các quy định của pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn
đề giao dịch bảo đảm bằng tàu bay – khái quát về pháp luật quốc tế điều
chỉnh vấn đề giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; quy định về giao dịch bảo
đảm bằng tàu bay trong 2 Cóng ước: Cóng ước Giơ-ne-vơ 1948 và Cóng
ước, Nghị định thư Cape Town; đánh giá, so sánh quy định về giao dịch bảo
đảm bằng tàu bay trong 2 Cóng ước này.
- Chƣơng 3: Việ t Nam trên con đƣờ ng hộ i nhậ p phá p luậ t quố c
tế về giao dị ch bả o đả m bằ ng tà u bay – thực tiễn pháp luật một số quốc
gia; thực trạng pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay; Việt
Nam và việc gia nhập Cóng ước và Nghị định thư.
13
Quy định về giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm trong pháp luật
các quốc gia cũng ngày càng được củng cố và hoàn thiện theo thời gian và
c÷ng với sự phát triển đa dạng, phức tạp của ngành tài chình, ngân hàng.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy thiết chế này được xây
dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tìn dụng nñi
chung và sự phát triển của nền kinh tế nñi riêng. Việc xác lập các giao dịch
bảo đảm luón hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia
giao dịch dân sự, đặc biệt là quyền lợi của bên cñ quyền trong giao dịch này.
Với ý nghĩa đñ, việc xác lập các giao dịch bảo đảm đã gñp phần khóng nhỏ
vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát
sinh từ việc khóng thực hiện hoặc cñ thực hiện nhưng khóng đöng nghĩa vụ
dân sự, kinh tế của bên cñ nghĩa vụ gây ra. Đồng thời, trong trường hợp nêu
trên, các giao dịch bảo đảm còn tạo điều kiện khắc phục những thiệt hại cho
bên cñ quyền một cách nhanh chñng và hiệu quả. Trong lĩnh vực tìn dụng,
ngân hàng, chöng giữ một vai trò quan trọng đối với việc mở rộng tìn dụng
cho nền kinh tế. Vai trò đñ được thể hiện thóng qua việc mở rộng khả năng,
cơ hội tiếp cận tìn dụng nñi chung, tìn dụng ngân hàng nñi riêng của các
doanh nghiệp, tổ chức khác và cá nhân, đồng thời tác động trực tiếp, mạnh
mẽ tới quyết định cấp tìn dụng của tổ chức tìn dụng.
Đầu thế kỷ XX, sự ra đời và phát triển của luật hàng khóng được
đánh dấu bằng sự ra đời và phát triển của kỹ nghệ hàng khóng mà quan
trọng nhất là phương tiện giao thóng hàng khóng - tàu bay. Từ đñ đến nay,
ngành luật thiết lập nên trật tự đối với các hoạt động hàng khóng đã phát
triển rất nhanh chñng c÷ng với sự liên quan và hỗ trợ của các ngành luật
khác. 15
Lầ n đầ u tiên v ấn đề cóng nhận quốc tế về quyền đó́ i vớ i tà u bay
đượ c đưa ra thả o luậ n trên phạ m vi quó́ c tế là tạ i Hội nghị quốc tế pháp luật
D÷ cñ lịch s phát triển khá lâu đời, giao dịch bảo đảm vẫn luón là
một phạm tr÷ khá phức tạp trong pháp luật và đời sống dân sự, tài chình.
Đến nay, các khái niệm thế nào là tài sản bảo đảm, giao dịch bảo đảm vẫn
chưa hoàn toàn thống nhất giữa các học giả, các trường phái, các quốc gia.
Theo khái niệm chung röt gọn của từ điển luật học thí ―lợi ìch bảo
đảm‖ là thuật ngữ chung chỉ các quyền tài sản của một người cho vay hay
chủ nợ cñ quyền thu một khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản. Cụ thể hơn,
lợi ìch bảo đảm là một quyền tài sản phát sinh từ tài sản d÷ng để bảo đảm
cho một nghĩa vụ, theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, thường
là thanh toán một khoản nợ. Quyền, lợi ìch đñ mang đến cho người thụ
hưởng một số quyền ưu đãi trong việc s dụng, định đoạt tài sản bảo đảm.
Các quyền ưu đãi này là khác nhau t÷y từng loại quyền, lợi ìch bảo đảm,
nhưng trong đa số trường hợp, một người được hưởng lợi ìch bảo đảm cñ
quyền chiếm hữu, và thường là bán, tài sản này để thanh toán cho khoản nợ
mà tài sản đñ bảo đảm.
Theo Điều 9 của Bộ luật Thương mại thống nhất của Hoa Kỳ (UCC)
thí: ―lợi ìch được bảo đảm‖ là ―lợi ìch gắn với động sản được xác lập hoặc
được cung cấp thóng qua giao dịch nhằm bảo đảm cho việc thanh toán hoặc
thực hiện nghĩa vụ, khóng phụ thuộc vào hính thức giao dịch; đặc điểm xác
nhận của người cñ quyền đối với tài sản bảo đảm và bao gồm lợi ìch được
xác lập hoặc cung cấp thóng qua việc chuyển nhượng quyền yêu cầu thanh
toán hoặc chứng thư bảo đảm, cho thuê cñ thời hạn trên một năm, việc gi
bán thương mại (khóng phụ thuộc vào việc chuyển nhượng, cho thuê hoặc 17
gi bán thương mại cñ bảo đảm cho việc thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ
hay khóng).‖ [6]
Điều 2(ar) Luật về bảo đảm của bang No-va-sco-tia (Ca-na-đa), thí
lợi ìch bảo đảm được hiểu là: (i) lợi ìch gắn với động sản nhằm bảo đảm cho
đủ, đáp ứng được những yêu cầu cơ bản quan trọng của một hệ thống đăng
ký giao dịch bảo đảm. Hiện nay, hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm của
Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật
dân sự 2005, Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005, Luật Hàng khóng dân dụng
Việt Nam, Luật Đất đai 2003; Nghị định số 163/2000/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chình phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 83/2010/NĐ-
CP ngày 23/7/2010 của Chình phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm và một số
văn bản hướng dẫn khác.[3]
Do vậy, khung pháp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam
đã từng bước được xây dựng, hoàn thiện, đáp ứng được những mục tiêu chủ
yếu sau đây: (i) Cóng khai hoá các giao dịch bảo đảm cho mọi cá nhân, tổ
chức cñ nhu cầu tím hiểu, giöp họ cñ các thóng tin chình xác, tin cậy trước
khi quyết định xác lập các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đặc biệt
đối với hoạt động đầu tư vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh; (ii) Xác
định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên c÷ng nhận cầm cố, thế chấp
trong trường hợp d÷ng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân
sự; (iii) Bảo vệ quyền, lợi ìch hợp pháp của các bên trong giao dịch bảo đảm,
của cá nhân, tổ chức cñ liên quan và phòng ngừa những hành vi vi phạm
pháp luật trong hoạt động tìn dụng ngân hàng và (iv) Gñp phần tạo điều kiện
thuận lợi cho thị trường tìn dụng khóng những phát triển nhanh, mà còn phát
triển trong thế ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xét x của
Toà án đối với các tranh chấp về giao dịch bảo đảm.[3] 19
Bộ luật Dân sự năm 1995 dành các Điều từ 324 đến 379, Bộ luật
Dân sự năm 2005 cũng dành các Điều từ 318 đến 373 để nñi về các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhưng lại khóng đưa ra định nghĩa về ―lợi
ìch bảo đảm‖ hay ―giao dịch bảo đảm‖. Tại Nghị định số 165/1999/NĐ-CP
ngày 19/11/1999 của Chình phủ về giao dịch bảo đảm chỉ đưa ra khái niệm
theo các quy định đñ.
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 thí các biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược,
ký quỹ, bảo lãnh (được xác định là biện pháp bảo đảm đối vật và ―người bảo
lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mính hoặc bằng việc
thực hiện cóng việc‖) và phạt vi phạm. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng, cũng
như tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thí bảo lãnh phải
được điều chỉnh với bản chất của biện pháp bảo đảm đối nhân, nghĩa là bên
bảo lãnh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản hiện cñ tại thời điểm x
lý tài sản của mính. Trong khi đñ, xét về bản chất, thí phạt vi phạm là một
trong các biện pháp chế tài, nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm thoả thuận đã
được ký kết giữa các bên, mà khóng phải là biện pháp bảo đảm. Việc xác
định khóng chình xác, đầy đủ bản chất của các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đã dẫn đến hệ quả hiệu lực, hiệu quả áp dụng của các quy
định này trên thực tế khóng cao, khóng ph÷ hợp với tình chất của các quan
hệ xã hội được điều chỉnh, gây khñ khăn cho các doanh nghiệp, nhất là khi
ký kết hợp đồng bảo đảm với các tổ chức, cá nhân nước ngoài do cñ sự xung
đột pháp luật.[8]
Để khắc phục hạn chế trên, một trong những điểm mới của pháp luật
Việt Nam về giao dịch bảo đảm là đã xác định đöng bản chất của các biện
pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đñ, các biện pháp bảo đảm 21
thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo
lãnh, ký cược, ký quỹ và tìn chấp. Như vậy, so với Bộ luật dân sự năm 1995
thí Bộ luật dân sự năm 2005 đã bổ sung biện pháp tìn chấp và khóng quy
định biện pháp phạt vi phạm trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, đồng thời đã chuyển từ bảo lãnh bằng tài sản cụ thể sang
bảo lãnh đối nhân (khóng xác định tài sản cụ thể được d÷ng để bảo lãnh cho
tàu bay; người cho vay sau đñ chuẩn bị đưa ra các tài liệu cho giao dịch:
o Một thỏa thuận bảo đảm, trong đñ thiết lập một lợi ìch bảo đảm
đối với tàu bay, mà người cho vay cñ thể chiếm hữu va tịch biên tàu bay
trong trường hợp người đi vay khóng trả được khoản vay;
o Một lệnh phiếu với hệ quả là người đi vay phải chịu trách nhiệm
cho bất kỳ số dư nợ cho vay nào trừ đi giá trị của tàu bay đã chiếm hữu;
o Nếu bên vay được coi là cñ khả năng tìn dụng thấp thí cần cñ sự
bảo lãnh của bên thứ ba hoặc từ các bên thứ ba;
Tuy nhiên, tài trợ cho tàu bay thương mại thí phức tạp hơn rất nhiều,
một phần ví giá trị của tàu bay thương mại rất lớn, phần nữa là do các bên
của giao dịch tài trợ tàu bay thương mại là các hãng hàng khóng và các tổ
chức tìn dụng với các dự án mua bán, thuê, khai thác tàu bay lớn và ―tinh vi‖
hơn. Ba loại tài trợ phổ biến nhất cho tàu bay thương mại là cho vay cñ bảo
đảm, cho thuê khai thác và cho thuê tài chình.
Chỉ cñ một số ìt chủ thể cñ đủ tài chình để mua và khai thác một
chiếc tàu bay một cách hoàn toàn, còn phần lớn chủ thể ―khóng may mắn‖
mua và khai thác tàu bay trên cơ sở được tài trợ, cho vay từ các ngân hàng,
tổ chức tài chình và chủ thể cho vay khác. Và những chủ thể cho vay này 23
luón đòi hỏi các biện pháp nhằm bảo đảm khoản nợ sẽ được trả lại (cộng với
các chi phì và lãi, đảm bảo mục đìch sinh lời từ khoản tiền cho vay ban đầu).
Trong hầu hết các trường hợp thí biện pháp bảo đảm khoản nợ sẽ được gắn
với chình chiếc tàu bay được mua.
Theo quy định của pháp luật Anh – Mỹ, tàu bay được coi là động
sản, hoặc tài sản hữu hính. Điều này cñ nghĩa rằng tàu bay là vật bảo đảm sẽ
được điều chỉnh bởi pháp luật nñi chung, và đặc biệt là pháp luật về bảo
đảm bằng động sản. Khóng giống như bảo đảm bằng đất đai, tồn tại sự can
thiệp pháp lý tương đối nhỏ tới các điều khoản và điều kiện của bảo đảm
quyết và khi đñ biện pháp cưỡng chế cñ thể được áp dụng. Tuy nhiên, việc
yêu cầu đñ đòi hỏi một khoảng thời gian dài, trải qua nhiều giai đoạn và cñ
thể trong thời gian đñ nảy sinh nhiều vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
lợi của bên cñ quyền như người vi phạm khóng còn tài sản để thực hiện
nghĩa vụ hoặc cố tính bán, tẩu tán hết tài sản vào thời điểm áp dụng biện
pháp cưỡng chế, khi đñ quyền lợi của bên cñ quyền khóng được bảo đảm.
Ví vậy, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm là rất cần thiết, khi cñ sự vi
phạm nghĩa vụ người cñ quyền sẽ bảo vệ được lợi ìch của mính bằng cách
tác động trực tiếp lên tài sản bảo đảm nếu bên cñ nghĩa vụ bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ của mính bằng một tài sản nào đñ.
Qua sự phân tìch ở trên cho thấy, việc áp dụng các biện pháp bảo
đảm cñ ý nghĩa rất quan trọng, một mặt các biện pháp này bảo vệ quyền lợi
của các bên, tạo điều kiện cho bên cñ quyền cñ thể chủ động hưởng quyền
dân sự trên thực tế. Mặt khác, nñ bảo đảm sự ổn định của các quan hệ nghĩa
vụ, tránh được các tranh chấp phát sinh từ việc khóng thực hiện hoặc cñ 25
thực hiện nhưng khóng đầy đủ nghĩa vụ của bên cñ nghĩa vụ. Chình ví vậy,
pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm và cho phép các bên cñ thể thoả
thuận, đưa ra các biện pháp bảo đảm ph÷ hợp cho việc giao kết và thực hiện
hợp đồng.
Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự, gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký
quỹ, bảo lãnh và phạt vi phạm. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các
quy định về giao dịch bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 1995 cñ các văn bản:
Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm, Nghị
định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ
chức tìn dụng, Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 sa đổi, bổ sung
Nghị định 178/1999/NĐ-CP, Thóng tư liên tịch 03/2001/TTLT-NHNN-
đảm.
- Phạm vi bảo đảm của các nghĩa vụ không vượt quá phạm vi của
nghĩa vụ chính: Nghĩa vụ được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ cñ thể là
nghĩa vụ hiện tại hay nghĩa vụ cñ điều kiện. D÷ là nghĩa vụ nào đi chăng nữa
thí giới hạn của bảo đảm luón là toàn bộ nghĩa vụ. Các bên trong quan hệ cñ
thể thoả thuận phạm vi bảo đảm nhưng thoả thuận của các bên chỉ giới hạn
trong toàn bộ nghĩa vụ của bên cñ nghĩa vụ. Phạm vi bảo đảm khóng thể
vượt qua nghĩa vụ của bên cñ nghĩa vụ. Nếu vượt quá cñ nghĩa là vi phạm
pháp luật dân sự. Và sự thoả thuận của các bên khóng được pháp luật cóng
nhận, biện pháp bảo đảm sẽ vó hiệu.