ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ ĐỨC MÂY
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ XUYÊN BIÊN GIỚI
THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ ĐỨC MÂY
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ XUYÊN BIÊN GIỚI
THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LAN NGUYÊN
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Các nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí .................... 5
1.2.1. Hoạt động giao thông ........................................................................... 5
1.2.2. Hoạt động sản xuất công nghiệp .......................................................... 6
1.2.3. Hoạt động xây dựng ............................................................................. 7
1.2.4. Hoạt động nông nghiệp và làng nghề................................................... 7
1.2.5. Chôn lấp và xử lý chất thải................................................................... 8
1.3.
Những ảnh hưởng của ô nhiễm không khí ...................................... 9
1.3.1. Tác hại của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người ..................... 9
1.3.2. Ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng và vật liệu.............. 10
1.3.3. Ảnh hưởng tới hệ sinh thái và biến đổi khí hậu ................................. 11
1.4.
Các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không
khí xuyên biên giới ........................................................................... 12
1.4.1. Các quy định về đánh giá các tác động xuyên biên giới .................... 12
1.4.2. Các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí .................................. 15
Chương 2: THỰC THI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ Ô
NHIỄM KHÔNG KHÍ XUYÊN BIÊN GIỚI ................................ 25
2.1.
Thiết chế quốc tế bảo đảm giải quyết vấn đề ô nhiễm không
khí xuyên biên giới ........................................................................... 25
2.1.1. Chương trình và tổ chức quốc tế trực thuộc liên hợp quốc................ 25
3.2.1. Các Điều ước quốc tế trong lĩnh vực ô nhiễm không khí mà Việt
Nam gia nhập...................................................................................... 55
3.2.2. Pháp luật việt Nam trong lĩnh vực ô nhiễm không khí xuyên biên giới.... 57
3.3.
Thực thi pháp luật trong việc kiểm soát ô nhiễm không khí
xuyên biên giới ................................................................................... 67
3.3.1. Thực thi các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ................. 67
3.3.2. Thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về ô nhiễm
không khí xuyên biên giới .................................................................. 69
3.4.
Một số giải pháp tăng cường kiểm soát ô nhiễm không khí
xuyên biên giới ở Việt Nam ............................................................. 86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 92
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. AATHP
Hiệp định ASEAN về kiểm soát khói mù xuyên
biên giới năm 2002
2. BVMT
Bảo vệ môi trường
10. UBND
Ủy ban nhân dân
11. UNECE hay ECE
Ủy ban kinh tế châu Âu của liên hợp quốc
12.UNEP
Chương trình môi trường liên hợp quốc
13. WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển vượt bậc của
khoa học kỹ thuật, kinh tế xã hội cũng như các hệ quả của vấn đề biến đổi khí
hậu, trong những năm qua, hiện tượng ô nhiễm môi trường xuyên biên giới ngày
càng trở nên phổ biến và trở thành thách thức không chỉ với một quốc gia hay
một khu vực mà với toàn thế giới. Đặc trung của ô nhiễm không khí xuyên biên
giới chính là sự khuếch tán của các loại chất gây ô nhiễm trong môi trường
không khí, nước và đất mà con người không thể kiểm soát được bằng các đường
phân chia ranh giới quốc tế, do đó, việc giải quyết chúng rất phực tạp và khó
khăn. Việc phát sinh những nguồn thải gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng tới
một nước mà nó ảnh hưởng tới nhiều nước mang tính chất liên vùng, liên quốc
hiện đại nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Để đạt được mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, phân tích bản chất và nội dung của vấn đề ô nhiễm không khí
xuyên biên giới dưới góc độ pháp luật quốc tế.
Thứ hai, nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật
Việt Nam liên quan đến ô nhiễm không khí xuyên biên giới; tìm hiểu các thiết
chế kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới để từ đó làm rõ và có nhận
thức đúng đắn về vấn đề này trong tiến trình toàn cầu hóa.
Thứ ba, phân tích thực trạng và những thách thức đối với ô nhiễm
không khí xuyên biên giới ở Việt Nam và trên thế giới. Đồng thời đưa ra
những kiến nghị nhằm đảm bảo kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới
được thực hiện toàn diện và hiệu quả hơn ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về ô nhiễm không khí xuyên biên giới dưới góc
độ pháp luật quốc tế hiện đại và ở Việt Nam hiện tại.
2
Luận văn đưa ra các quan điểm đa chiều cũng như sự phát triển của
khái niệm ô nhiễm không khí xuyên biên giới. Liệt kê và phân tích các quy
định của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Nêu ra thực trạng và thách thức đối với ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
Luận văn cũng đề cập đến vấn đề kiểm soát và đối phó ô nhiễm không
khí xuyên biên giới tại Việt Nam thông qua các chính sách, quy định pháp
luật cũng như thiết chế quốc gia, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả kiểm soát ô nhiễm không khí xuyên biên giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô
phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có
mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)”[27].
Liên quan đến khái niệm ô nhiễm không khí, Viện Pháp luật quốc tế
cũng đưa ra định nghĩa trong Nghị quyết về ô nhiễm không khí xuyên biên
giới tại phiên họp Cairo năm 1987, theo đó:
Ô nhiễm không khí xuyên biên giới có nghĩa là bất kỳ thay
đổi vật lý, hóa học hoặc sinh học trong thành phần hoặc chất lượng
không khí mà kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi của con
người, và tạo ra tác động có hại đến môi trường của các quốc gia
khác hoặc các khu vực xa hơn, vượt quá những giới hạn của quyền
tài phán quốc gia [31].
Tại điểm b Điều 1 của Công ước CLTAP năm 1979 quy định:
Ô nhiễm không khí xuyên biên giới tầm xa có nghĩa là ô
nhiễm không khí có nguồn gốc vật lý nằm hoàn toàn hoặc một phần
trong khu vực thuộc quyền tài phán quốc gia của một nước và có
tác động tiêu cực đến khu vực thuộc thẩm quyền của nhà nước khác
4
ở một khoảng cách xa, nó không phân biệt là nguồn phát thải cá
nhân hay của nhóm nguồn phát thải nào [15].
Như vậy, dựa trên các quy định của các điều ước quốc tế, có thể hiểu, ô
nhiễm không khí xuyên biên giới là sự thay đổi vật lý, hóa học hoặc sinh học
trong chất lượng không khí nguyên nhân là do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp
của con người (gọi là nguồn phát thải) tại một khu vực thuộc quyền tài phán
của một quốc gia nhưng tác động tiêu cực đến môi trường của các khu vực
thuộc thẩm quyền của các quốc gia khác.
1.2. Các nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn
mức độ thử nghiệm, chưa thực sự được áp dụng phổ biến trên thực tế.
1.2.2. Hoạt động sản xuất công nghiệp
Hoạt động sản xuất công nghiệp với nhiều loại hình khác nhau được
đánh gia là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường đánh kể. Các tác
nhân gây ô nhiễm chủ yếu phát sinh từ quá trình khai thác và cung ứng
nguyên vật liệu đầu vào, khí thải từ các công đoạn sản xuất như đốt nhiên liệu
hóa thạch, khí thải lò hơi, hóa chất bay hơi, ... Nguồn ô nhiễm không khí từ
hoạt động công nghiệp thường có nồng độ các chất độc hại cao, tập trung
trong một vùng. Tùy thuộc vào loại hình sản xuất, quy trình công nghệ, quy
mô sản xuất và nhiên liệu sử dụng mà các hoạt động công nghiệp khác nhau
sẽ phát sinh khí thải với thành phần và nồng độ khác nhau.
Các chất độc hại từ khí thải công nghiệp được phân loại thành các
nhóm bụi, nhóm chất vô cơ và nhóm các chất hữu cơ ô nhiễm phổ biến gồm
NO2, SO2, VOC, TSP các hóa chất và các kim loại. Trong đó lượng phát thải
SO2 là 655.899 tấn/năm tỷ lệ 18,52%, NO2 là 1.117.757 tấn/năm tỷ lệ 31,56%
và TSP là 673.842 tấn/năm tỷ lệ 19,02% chiếm phần lớn trong tải lượng các
chất ô nhiễm (nguồn: Ngân hàng Thế giới năm 2010) [3, tr. 28]. Trong các
nhóm ngành công nghiệp ở Việt Nam, các hoạt động: khai thác và chế biến
6
than, sản xuất thép, sản xuất vật liệu xây dựng và nhiệt điện đang được đánh
giá là những nguồn gây ô nhiễm môi trường đánh kể hiện nay.
1.2.3. Hoạt động xây dựng
Bên cạnh hoạt động giao thông, hoạt động xây dựng trong đô thị cũng
là nguồn gây ảnh hưởng đến môi trường không khí. Trong những năm gần
đây, hoạt động xây dựng các khu chung cư, khu đô thị mới, cầu đường, sửa
chữa nhà, vận chuyển vật liệu và phế thải xây dựng,... diễn ra ở khắp nơi, đặc
biệt là các đô thị lớn. Các hoạt động như đào lấp đất, đập phá công trình cũ,
thải chứa các thành phần đặc trưng là bụi, CO2, CO, SO2, NOx và chất hữu cơ
bay hơi, trong khi đó lại không có các hệ thống xử lý chất thải, khí thải hiệu
quả. Tùy theo tính chất của từng loại làng nghề mà loại ô nhiễm môi trường
cũng khác nhau. Trong đó, ngành sản xuất có thải lượng ô nhiễm lớn nhất là
tái chế kim loại, quá trình tái chế và gia công cũng gây phát sinh các khí độc
như hơi axit, kiềm, oxit kim loại (PbO, ZnO, Al2O3) [7].
1.2.5. Chôn lấp và xử lý chất thải
Tại nhiều khu chôn lấp, đặc biệt các bãi rác lộ thiên, đã và đang diễn ra
hoạt động đốt rác thải tùy tiện, gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường
không khí tại những thời điểm nhất định. Rác thải tại các bãi rác (giấy, gỗ, cao
su, ni lông, nhựa, vải, các chất khác...) khi bị đốt đã thải ra môi trường các chất
khí chủ yếu như: NOx, CO, CO2, SOx, HCl, HF, Dioxin, Furan và tro [3, tr. 37].
Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu cũng như các số liệu cụ thể về
tải lượng phát thải các chất khí từ hoạt động đốt bãi rác.
Hiện nay biện pháp xử lý chất thải nguy hiểm (CTNH) đang được áp
dụng phổ biến ở nước ta là sử dụng công nghệ lò đốt. Tính đến năm 2006,
hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế, các lò đốt chất thải công
nghiệp, sinh hoạt... cũng được đầu tư lắp đặt ở nhiều địa phương. Quá trình
vận hành và sử dụng các lò đốt chất thải bộc lộ nhiều hạn chế do liên quan
công nghệ chưa hiện đại, sử dụng công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và
8
thường ở quy mô nhỏ. Do đó, xét về khía cạnh môi trường, công nghệ xử lý
CTNH vẫn gây ra những tác động nhất định đến môi trường không khí. Các
chất tạo khí tạo ra sau quá trình đốt: SO2, HCl, Dioxin và Furan bám trên bề
mặt hạt bụi phát tán vào không khí [3, tr. 37].
1.3. Những ảnh hưởng của ô nhiễm không khí
1.3.1. Tác hại của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người
ô nhiễm không khí ở đây đã thường xuyên duy trì ở mức báo động ―cảnh báo
cam‖ – mức nghiêm trọng sau mức màu đỏ trong hệ thống cảnh báo 4 bậc ô
nhiễm của nước này. Vào đầu tháng 12 năm 2015, ô nhiễm không khí ở Bắc
Kinh đã ở mức báo động đỏ mức báo động cao nhất.Ô nhiễm không khí ảnh
hưởng đến trực tiếp sức khỏe con người tại Bắc Kinh. Theo WHO, ung thư
phổi vẫn là căn bệnh gây phổ biến và gây tử vong nhiều trên thế giới, trong đó
1/3 số trường hợp này xảy ra ở Trung Quốc [3, tr. 79].
1.3.2. Ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng và vật liệu
Ô nhiễm các chất SO2, NOx trong môi trường không khí gây ra hiện
tượng lắng đọng và mưa axit. Chính các hiện tượng này là nguyên nhân chính
làm giảm tính bền vững của các công trình xây dựng và các dạng vật liệu [5].
Kết cấu của các công trình xây dựng có thể bị suy yếu do không khí bị
ô nhiễm. Khí SO2, NO2 và O3 cũng là nguyên nhân gây hao mòn công trình,
nhiều loại nguyên vật liệu quan trọng có thể bị ảnh hưởng, ví dụ: kim loại
(sắt, đồng, thiếc), hợp chất hữu cơ (sơn,...), các loại đá,... Ô nhiễm không khí
còn làm giảm sức bền cơ khí, gây han rỉ, hỏng lớp sơn bảo vệ, mất các chi tiết
trang trí, ăn mòn đường ống, rỉ sét,...Hao mòn công trình dẫn tới giảm tuổi
thọ, làm tăng chi phí bảo dưỡng và thay thế.
Mưa axit cũng làm hư vải sợi, sách và các đồ quý giá. Hệ thống thông
khí của các thư viện, viện bảo tàng đã đưa các hạt axit vào trong nhà và chúng
tiếp xúc và phá hủy các vật liệu nói trên.
Ví dụ về sự phá hoại các kết cấu công trình do lắng đọng axit. Tại
10
Virginia Mỹ, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận, ở những khu vực có lượng tích
tụ axit trong không khí cao, người dân phải sơn lại nhà hai năm một lần hoặc
thậm chí hàng năm, trong khí ở những nơi có lượng axit thấp, khoảng thời
gian phải sơn lại nhà là bốn năm.
trong các điều ước quốc tế khu vực và điều ước quốc tế song phương giữa các
quốc gia. Hiện nay, vẫn chưa có điều ước quốc tế toàn cầu về vấn đề ô nhiễm
không khí xuyên biên giới. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù và tác động ảnh
hưởng của ô nhiễm không khí đã có nhiều điều ước quốc tế khu vực về ô
nhiễm không khí xuyên biên giới tiêu biểu như Công ước CLTAP năm 1979,
Hiệp định AATHP năm 2002 và một hiệp định mang tính song phương giữa
Canada và Hoa Kỳ về chất lượng không khí được Canada và Hoa Kỳ năm
1991. Để nhận diện được ô nhiễm không khí xuyên biên giới thì các quốc gia
nhận phải nhận diện được các tác động của môi trường xuyên biên giới, và
hiện nay đã có Công ước EIA năm 1991 ngăn ngừa, giải quyết những vấn đề
liên quan đến tác động môi trường xuyên biên giới. Trước đây, vấn đề đề ô
nhiễm không khí xuyên biên giới được đề cập rải rác trong các văn kiện như:
Tuyên bố Stockhom năm 1971, Tuyên bố của Liên hợp quốc về môi trường
và phát triển tại Rio năm 1992. Trong khuôn khổ của Luận văn, tác giả đề cập
đến các quy định của pháp luật quốc tế về vấn đề ô nhiễm không khí xuyên
biên giới thông qua hai phần: các quy định về đánh giá các tác động xuyên
biên giới và các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí.
1.4.1. Các quy định về đánh giá các tác động xuyên biên giới
Đầu tư các dự án mới là một xu hướng, một nhu cầu tất yếu của quá
trình phát triển góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc
gia. Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, ngoài
những lợi ích kinh tế - xã hội to lớn đem lại, người ta đã nhận thấy, việc đầu
tư các dự án mới này cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho khu vực dự án và lân cận.
12
Các tác động này có ảnh hưởng lên một phạm vi không gian nhất định và
nhiều khi vượt ra khỏi ranh giới của một quốc gia. Điều này có nghĩa, các hoạt
xem xét, đánh giá có khả năng gây tác động môi trường xuyên biên giới, các
thủ tục từ việc chuẩn bị hồ sơ về ĐTMXBG, thủ tục giải quyết bất đồng, phân
tích đánh giá sau dự án và hợp tác song phương và đa phương [42].
Trên cơ sở Công ước EIA đã có hàng loạt các hoạt động và thỏa thuận
song phương, đa phương giữa các nước thành viên đã được thực hiện ở mức
độ là các hiệp định song phương, đa phương hoặc đối với dự án cụ thể.
Các Hiệp định song phương và đa phương: Hiệp định về ĐTMXBG
giữa Bỉ và Hà Lan năm 1994; Hiệp định song phương giữa Anbani và
Macedonia năm 1993 về mức độ ô nhiễm và chất lượng nước hồ Ohrid; Hiệp
định giữa Pháp - Đức - Thụy Sỹ về trách nhiệm thông báo và trao đổi thông
tin về những tác động có tiềm năng gây tác động xấu lên môi trường ra ngoài
phạm vi nước mình.
Sau một thời gian thực hiện công ước, Nghị định thư về đánh giá tác
động môi trường chiến lược ra đời, Nghị định thư được thông qua trong một
cuộc họp bất thường của các bên tham gia Công ước EIA tại hội nghị cấp bộ
trưởng môi trường châu âu, tổ chức vào ngày 21 tháng 5 năm 2003 và đến ngày
11 tháng 7 năm 2010 thì Nghị định thư này mới có hiệu lực. Nghị định thư này
tăng cường cho công ước EIA bằng cách bảo đảm các bên tích hợp các đánh
giá môi trường vào các kế hoạch và chương trình của họ ở giai đoạn đầu, vì vậy
giúp đặt nền móng cho sự phát triển bền vững. Nghị định thư cũng cung cấp về
sự tham gia sâu rộng một cách công khai vào quá trình ra quyết định của chính
phủ. Đánh giá môi trường chiến lược được thực hiện sớm hơn nhiều trong quá
trình ra quyết định so với đánh giá tác động môi trường dự án. Và do đó nó
được xem như công cụ quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Công ước CLTAP được 31 nước thuộc châu Âu, Mỹ và Canada ký vào
ngày 13/9/1979 và có hiệu lực từ ngày 16/3/1983 [36]. Công ước đưa ra các
14
nhiều. Ô nhiễm từ một vùng thuộc chủ quyền của một quốc gia có thể gây hậu
quả nghiêm trọng cho những quốc gia láng giềng, thậm chí cho cả thế giới, do
tính thống nhất của môi trường. Vì vậy, các quốc gia có nghĩa vụ kiểm soát và
quản lý các nguồn thải, trong phạm vi quốc gia hoặc những khu vực thuộc
chủ quyền quốc gia, có khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng đến môi trường
toàn cầu hoặc tác hại xuyên biên giới.
Nghĩa vụ này lần đầu tiên được hình thành từ vụ tranh chấp Trail
Smelter giữa Canada và Mỹ (1939-1941) [24]. Phiên xử trọng tài được thành
lập nhằm xác định liệu khói thải từ lò luyện kim Trail ở Canada, nằm cách
biên giới với Mỹ bảy dặm, có gây thiệt hại cho tiểu bang Washington hay
không, và nếu có, lò luyện kim phải bồi thường bằng hình thức nào cũng như
phải có những biện pháp nào nhằm ngăn ngừa những tác hại trong tương lai.
Trọng tài vụ Trail Smelter phán quyết “không quốc gia nào có quyền sử dụng
hoặc cho phép sử dụng lãnh thổ của mình để phát tán khói gây thiệt hại
nghiêm trọng đến lãnh thổ, tài sản và người dân của quốc gia khác; những
thiệt hại phải thể hiện ở những chứng cứ xác thực và thuyết phục” [28].
Trong phán quyết cuối cùng, hoạt động của lò luyện kim phải hạn chế. Sau
này, nghĩa vụ này được đề cập trong Nguyên tắc 21, Tuyên bố Stockholm
1972, “các quốc gia... có trách nhiệm bảo đảm những hoạt động thuộc chủ
quyền quốc gia không gây thiệt hại đến môi trường của các quốc gia khác
hoặc các khu vực vượt quá giới hạn chủ quyền quốc gia” [14]. Nguyên tắc
không quy định rõ ràng về mức độ cũng như đối tượng chịu thiệt hại như
trong phán quyết vụ Trail Smelter, do sự khác nhau về đối tượng bảo vệ.
Trọng tài vụ Trail Smelter tập trung vào những tài sản bị thiệt hại ở Mỹ, trong
khi Nguyên tắc 21 đề cập đến thiệt hại về môi trường nói chung, tức là có khả
năng gây tổn hại sức khỏe con người.
Theo Nghị quyết của Viện Pháp luật quốc tế, phiên họp Cairo năm
16
17
các điều ước quốc tế với mục đích phối hợp và cùng hợp tác nghiên cứu khoa
học, kỹ thuật để chống lại ô nhiễm không khí xuyên biên giới; thiết lập các ủy
ban quốc tế hoặc khu vực với phạm vi thẩm quyền rộng nhất; cố gắng hài hòa
các tiêu chuẩn môi trường cũng như các chỉ tiêu liên quan đến mức độ ô nhiễm.
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Nghị quyết, các quốc
gia sẽ phải có các biện pháp để bảo vệ những người có thể bị ảnh hưởng bởi ô
nhiễm không khí xuyên biên giới, để phòng chống và bồi thường các thiệt hại
xảy ra, bằng cách cho phép sự không phân biệt đối xử cơ sở tiếp cận rộng
nhất đến các thử tục tư pháp và hành chính trong các quốc gia nơi khởi nguồn
của sự ô nhiễm. Bên cạnh đó, trách nhiệm pháp lý của quốc gia còn được quy
định cụ thể tại Điều 9 của Nghị quyết, như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp tai nạn hay các hoạt động gây ra một sự gia
tăng đột ngột về mức độ ô nhiễm không khí, thậm chí nếu xuất phát từ nguyên
nhân tự nhiên, có khả năng gây nguy hại đáng kể khác, các nước khởi nguồn
của ô nhiễm có nhiệm vụ:
- Kịp thời để cảnh báo tất cả các ảnh hưởng hoặc có khả năng bị ảnh
hưởng tới các quốc gia xung quanh;
- Thực hiện mọi biện pháp thích hợp để giảm thiểu những tác động của
sự gia tăng đó.
Thứ hai, trong trường hợp có thảm họa liên quan đến ô nhiễm không
khí tại lãnh thổ của một quốc gia, các nước khác và
Các tổ chức quốc tế có thẩm quyền sau, như là một vấn đề cấp bách và
với sự đồng ý của Nhà nước có liên quan, thực hiện hành động nhân đạo để
giúp đỡ các nạn nhân. Tại Điều 10 của Nghị quyết có quy định không làm
phương hại đến các nghĩa vụ khác của các quốc gia liên quan đến các vụ nổ
hạt nhân, các quốc gia có trách nhiệm cấm, ngăn chặn và kiềm chế không tiến
hành bất cứ vụ nổ hạt nhân có khả năng gây ra ô nhiễm không khí xuyên biên
a). Tóm lại, mục đích của Công ước là giảm đến mức thấp nhất các tổn hại
19