ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ THANH BÌNH
VỀ VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ
TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Bính
Hà nội – 2010 1
MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan
1
Mục lục
2
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
3
MỞ ĐẦU
4
2.3.2.
Khung tiêu chuẩn SAFE
40
2.3.3.
Mô hình dữ liệu WCO
41
2.4
Kinh nghiệm của hải quan một số nước về việc áp dụng các chuẩn
mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử
43
Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG CHUẨN MỰC
QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH VIỆC ÁP
DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ TRONG THỦ TỤC HẢI
54
2
QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
3.1.
Chỉ đạo của Chính phủ về việc triển khai thí điểm thủ tục hải quan
điện tử
54
3.2.
Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan
điện tử ở Việt Nam
56
3.3.
Một số giải pháp để đẩy mạnh việc áp dụng chuẩn mực quốc tế
trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Trong bối cảnh hiện nay, thương mại quốc tế đang có những bước phát triển
mạnh mẽ với những đặc điểm như tốc độ lưu chuyển thương mại nhanh, nhiều sản
phẩm hàng hóa mới, đa dạng, bao gồm cả vô hình và hữu hình xuất hiện, nhiều
phương thức thương mại mới ra đời làm thay đổi hoặc mở rộng nội dung khái niệm
xuất nhập khẩu như xuất nhập khẩu trực tiếp, gián tiếp, xuất nhập khẩu tại chỗ,
hàng hóa tạm quản,…Các bên xuất nhập khẩu có thể sử dụng giao dịch, ký kết hợp
đồng qua mạng mà không cần gặp nhau, không cần hiện diện tại nước xuất nhập
khẩu. Vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với sản phẩm nói chung và sản phẩm xuất nhập
khẩu nói riêng không còn là khái niệm mới mẻ đối với hầu hết các nước phát triển
và một số các nước đang phát triển.
Trong xu thế hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay hàng loạt các liên kết
kinh tế khu vực và thế giới dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực
mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế quốc tế đã được ký kết hoặc
trong quá trình đàm phán, nhiều tổ chức kinh tế quốc tế thế giới và khu vực ra đời
như: WTO (1995), ASEM (1996), ASEAN (1967), APEC (1998).
Hoạt động hải quan gắn liền với giao lưu thương mại quốc tế nên trong xu
thế phát triển rất nhanh, rất đa dạng của thương mại quốc tế, các biện pháp quản lý
của Hải quan cũng đã hoặc buộc phải có những thay đổi kịp thời, sâu sắc theo
hướng vừa tạo thuật lợi cho thương mai, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý của mỗi quốc
gia. Ở quy mô toàn cầu, điều đó thể hiện ở tiến trình phát triển của các chuẩn mực
hải quan quốc tế như: Công ước Kyoto, từ chỗ chỉ đưa ra định hướng thống nhất
phát triển nghiệp vụ hải quan đến nay (1999) đã phải sửa đổi bổ sung theo hướng:
ràng buộc nhiều hơn các bên ký kết, hạn chế và quy định thời hạn xem xét lại các
bảo lưu, xây dựng một cơ cấu tiêu chuẩn để đánh giá và cập nhật các thủ tục hải
quan, các thông lệ tốt nhất, nâng cao hơn nữa tính tiên tiến trong các thủ tục hải
quan phù hợp yêu cầu quản lý và phục vụ trong bối cảnh mới của thương mại toàn
cầu; hay như trong lĩnh vực xác định trị giá hải quan, định nghĩa Brucxel tuy đã tính
5
đến các nguyên tắc xác định trị giá theo Điều VII của GATT nhưng việc thực hiện
Thứ nhất: Thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử
Theo Quyết định số 149/2005/QĐ - TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng
Chính phủ, Tổng cục Hải quan đã trình Bộ Tài chính ký Quyết định số
50/2005/QĐ-BTC ngày 19/7/2005 ban hành Quy định quy trình thực hiện thí điểm
thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy Quyết định
50/2005/QĐ - TTg có nhiều điểm tiến bộ song phần lớn quy trình nghiệp vụ thủ tục
vẫn thực hiện bằng phương pháp thủ công, một số bước, một số khâu còn chồng
chéo, quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan điện tử chưa xác định rõ; chưa
có quy định cho việc tham gia của đại lý thủ tục hải quan.
Thứ hai: Thực hiện với sự hỗ trợ từ dự án hiện đại hóa theo nguồn vốn vay
từ Ngân hàng thế giới, dự án Hiện đại hóa hải quan bắt đầu được triển khai từ năm
2006 và sẽ kết thúc vào năm 2010. Một trong những nội dung cơ bản của dự án hiện
đại hóa liên quan tới thủ tục hải quan là tái thiết kế quy trình. Việc thực hiện thí
điểm thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định 149/2005/QĐ - TTg sẽ tạo cơ sở ban
đầu cho việc ứng dụng nhanh các kết quả của tái thiết kế quy trình thuộc dự án Hiện
đại hóa Hải quan trong phạm vi toàn Ngành.
Hai hoạt động trên có điểm chung là phải dựa vào các chuẩn mực quốc tế về
thủ tục hải quan. Xuất phát từ yêu cầu phải sớm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc
thực hiện triển mở rộng thủ tục hải quan điện tử thì việc nghiên cứu, áp dụng chuẩn
mực quốc tế về thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay rất cần thiết.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Về việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong
thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện đại hóa hải quan, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực công
tác hải quan là những vấn đề mang tính thời sự. Chỉ tính từ năm 2003 đến nay đã có
rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được nghiên cứu và triển khai ứng dụng,
như:
1. Đề tài khoa học cấp Bộ: "Xây dựng chiến lược phát triển Ngành hải quan
đến năm 2010".
8
- Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở
Việt nam hiện nay
- Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam theo
các chuẩn mực quốc tế.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu bối cảnh hoạt động của Hải quan hiện nay
- Nghiên cứu kinh nghiệm về triển khai mô hình thủ tục hải quan điện tử của
một số nước tiên tiến trên thế giới (như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia).
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ
tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả
chuẩn mực quốc tế vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích của luận văn:
- Đánh giá đúng thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục tục
hải quan điện tử ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có
hiệu quả chuẩn mực quốc tế vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ của luận văn:
- Nghiên cứu để thấy được sự cần thiết phải áp dụng chuẩn mực quốc tế
trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt nam hiện nay
- Đưa ra được báo cáo phân tích, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan điện tử
của Việt nam
- Đề ra các giải pháp đẩy mạnh việc áp dụng có hiệu quả chuẩn mực quốc tế
vào thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh
- Quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước
tế trong thủ tục hải quan điện tử
10
Chương III: Thực trạng việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục hải
quan điện tử ở Việt Nam và một số giải pháp để đẩy mạnh việc áp dụng chuẩn mực
quốc tế trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam
Cuối Luận văn là Danh mục tài liệu tham khảo đã được sử dụng trong quá
trình viết Luận văn. 11
Chương I. Những vấn đề lý luận về áp dụng chuẩn mực quốc tế trong thủ tục
hải quan điện tử
1.1. Khái luận về thủ tục hải quan điện tử
1.1.1. Khái niệm thủ tục hải quan điện tử
Về khái niệm thủ tục hải quan điện tử cho đến nay mặc dù sử dụng rất nhiều ,
thậm chí đã triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử (Quyết định số
149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005), đã qua nhiều lần dự thảo xây dựng Nghị định
về Thủ tục hải quan điện tử nhưng vẫn chưa có văn bản nào đề cập đến khái niệm
này. Vì chưa có khái niệm cụ thể nên chưa xác định được đúng nội hàm và vì thế
việc xác định các nội dung liên quan cũng các bước chuẩn bị triển khai không phải
lúc nào cũng rõ ràng, đúng định hướng.
Hiện nay các nước không đề cập tới khái niệm “thủ tục hải quan điện tử” mà
thường đề cập tới khái niệm “hệ thống tự động hóa hải quan” (customs automation
system). Đây là chương trình ứng dụng CNTT để xử lý các nghiệp vụ hải quan. Hệ
thống gồm nhiều chương trình ứng dụng CNTT để quản lý hàng hóa đưa ra, đưa
vào lãnh thổ hải quan, và các chương trình hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ hải quan.
Quan niệm về thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam:
Ở Việt Nam chưa có văn bản pháp lý nào định nghĩa rõ ràng thế nào là “Thủ
thế giới xác định một số đặc trưng cơ bản của thủ tục hải quan điện tử : (i) Hầu hết
khai hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được thực hiện thông quan mạng;
(ii) Xử lý hồ sơ hải quan thông qua mạng máy tính; (iii) Hệ thống phân luồng tự
động trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro; (iv) Thiết lập kết nối trao đổi dữ liệu điện tử
với các hãng vận chuyển, cảng vụ, sân bay, đại lý, kho bạc, ngân hàng, các cơ quan
cấp phép để tiếp nhận thông tin về hàng hóa, hành khách trước khi phương tiện
nhập cảnh; (v) Thực hiện thông quan trước khi hàng đến đối với các doanh nghiệp
có độ tuân thủ cao.
Những khái niệm và đặc trưng trên cho ta một cái nhìn ban đầu về thủ tục hải
quan điện tử và theo một nghĩa chung nhất thì có thể coi: Thủ tục Hải quan điện tử
là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục quản lý thuế) được thực hiện bằng phương
tiện điện tử. Nội dung thực hiện thủ tục hải quan điện tử được thể hiện ở chỗ:
13
Doanh nghiệp gửi và nhận thông tin (bao gồm thông tin trong tờ khai và các
chứng từ liên quan) tới cơ quan hải quan bằng phương tiện điện tử.
Cơ quan hải quan tiếp nhận, xử lý, ra quyết định và phản hồi thông tin bằng
phương tiện điện tử. Để có thể tiếp nhận, xử lý bằng phương tiện điện tử, cơ quan
hải quan phải có trung tâm tiếp nhận, xử lý, lưu trữ dữ liệu điện tử đủ mạnh; tự
động hóa các quy trình nghiệp vụ; sử dụng kỹ thuật quản lý hải quan và hệ thống
máy móc hiện đại hỗ trợ kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa để nâng cao mức độ
tự động hóa của hệ thống.
Cơ quan hải quan cung cấp các dịch vụ công trực tuyến cho các doanh nghiệp.
1.1.2. Mối quan hệ giữa “thủ tục hải quan điện tử” và “thủ tục hải quan truyền
thống”
Từ khái niệm về thủ tục hải quan điện tử ở phần trên, ta có thể thấy, thủ tục hải
quan điện tử, xét về nội dung cũng như phương diện nghiệp vụ hải quan, là hoàn
toàn trùng khớp với thủ tục hải quan nói chung, hay thủ tục hải quan truyền thống
nói riêng. Vì thế, thủ tục hải quan điện tử mang hầu hết các đặc trưng nghiệp vụ của
thủ tục hải quan: được thực hiện đối với tất cả các loại hình quản lý hàng hóa,
Về phương pháp QLRR: Về bản chất, không có sự khác biệt đáng kể giữa áp
dụng CNTT trong thủ tục hải quan truyền thống và thủ tục hải quan điện tử. Tuy
nhiên, đối với QLRR trong thủ tục hải quan điện tử sẽ được thường xuyên cập nhật,
thanh loại tiêu chí một cách sát thực vào hệ thống phục vụ phân luồng kiểm tra hơn
trên cơ sở thu thập và phân tích thông tin về doanh nghiệp và mặt hàng thường
xuyên làm thủ tục hải quan tại tất cả các cấp. Bên cạnh đó, QLRR trong thủ tục hải
quan điện tử được xây dựng bằng các bài toán kỹ thuật thống nhất, rà soát tổng thể
trong nhiều phạm vi (Chi cục, Cục, Tổng cục, theo từng mặt hàng, nhóm mặt
hàng ) theo cùng một phương pháp đối với tất cả các hồ sơ hải quan, dù cho là
thuộc loại hình nào, của đối tượng nào và kinh doanh loại hàng nào.
Về cách thức phản hồi thông tin: thủ tục hải quan điện tử phản hồi trực tiếp
vào hệ thống CNTT của người khai hải quan thông qua các thông điệp, thông báo
(message) điện tử. Người khai hải quan được giao tiếp với cơ quan hải quan gián
tiếp thông qua hệ thống máy tính. Ngược lại, thủ tục hải quan truyền thống lại yêu
15
cầu sự hiện diện của cả người khai hải quan và công chức hải quan, từ đó công chức
hải quan thông báo, bằng miệng hoặc bằng văn bản, cho người khai hải quan về kết
quả xử lý nghiệp vụ, cũng như hướng dẫn người khai hải quan tiếp tục thực hiện các
bước đi tiếp theo của quy trình thủ tục hải quan.
Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản trên, thủ tục hải quan điện tử đòi hỏi cơ
quan hải quan phải được trang bị một nền tảng CNTT đủ mạnh và bắt buộc sử dụng
các kỹ thuật quản lý, trang thiết bị hiện đại. Còn thủ tục hải quan truyền thống thì có
thể sử dụng các ứng dụng CNTT, các kỹ thuật quản lý hoặc cũng có thể không hề
sử dụng các phương tiện, công cụ này trong suốt quá trình làm thủ tục hải quan.
Từ những đặc điểm cơ bản của thủ tục hải quan điện tử so với thủ tục hải quan
truyền thống nêu trên, có thể thấy thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan
truyền thống có tính độc lập tương đối, song cũng có quan hệ hữu cơ với nhau. Cụ
thể là:
Thủ tục hải quan điện tử và thủ tục hải quan truyền thống đều dựa trên những
xuất nhập khẩu thấp
1.1.3. Vai trò của thủ tục hải quan điện tử trong hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.3.1. Thủ tục hải quan điện tử với TMQT
Hải quan có vai trò chủ chốt trong TMQT và tạo thuận lợi cho các hoạt động
thương mại hợp pháp. Khi hàng hóa được dịch chuyển qua biên giới, chủ hàng phải
cung cấp, xuất trình thông tin, tài liệu, hàng hóa có thể bị kiểm tra thực tế. Điều này
sẽ làm phát sinh chi phí hành chính đối với các giao dịch thương mại, thủ tục hải
quan điện tử được thực hiện với mục đích là giữ các chi phí này ở mức thấp mà
không làm phát sinh rủi ro lớn đối với Hải quan. Chính vì vậy, thủ tục hải quan điện
tử có vai trò rất quan trọng đối với TMQT, cụ thể:
Tạo thuận lợi thương mại: Thủ tục hải quan điện tử được xác định là giữ vai trò
quan trọng nhất trong các biện pháp tạo thuận lợi thương mại.
Bảo đảm sự tuân thủ với các quy tắc TMQT: Thủ tục hải quan điện tử được
thực hiện trên cơ sở áp dụng các chuẩn mực, thông lệ về hải quan tốt nhất để chuẩn
hóa, đơn giản và hài hòa hóa các quy trình nghiệp vụ của cơ quan hải quan với quy
trình kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó sẽ đảm bảo sự tuân thủ với các quy tắc
17
TMQT, không gây cản trở tới quá trình tiếp cận thị trường và tính cạnh tranh của
hàng hóa, doanh nghiệp trên trường quốc tế;
Giảm tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ hải quan và doanh nghiệp;
Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với Hải quan và các cơ quan quản lý biên
giới khác trở nên thuận tiện, thân thiện, minh bạch, đỡ tốn kém và hiệu quả hơn
thông qua thiết lập thông tin trao đổi điện tử giữa các bên;
Bảo đảm sự bình đẳng và thúc đẩy sự cạnh tranh cho các chủ thể liên quan tới
các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu: Khi thực hiện thủ tục hải quan điện tử, các
chính sách, quy trình được đơn giản, minh bạch, áp dụng một cách thống nhất đối
với các đối tượng tham gia thủ tục hải quan điện tử; doanh nghiệp được tiếp cận
thông tin một cách nhanh chóng, Do đó, các doanh nghiệp không bị phân biệt đối
xử, được chủ động về thông tin do đó sẽ chủ động được các hoạt động kinh doanh
hoạt động TMQT.
1.1.3.2. Thủ tục hải quan điện tử với cải cách hành chính và hiện đại hóa quản lý
trong bộ máy cơ quan quản lý nhà nước
Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ về kinh tế, sự phát triển như vũ bão của
khoa học và công nghệ thì hầu như tất cả các quốc gia đều nằm trong quá trình cải
cách hành chính để phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Quá trình này diễn ra không
chỉ ở các nước đang phát triển mà ở ngay các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU,
Nhật Bản, Hàn Quốc quá trình này cũng đang được đẩy mạnh thực hiện cho phù
hợp với điều kiện mới. Tất cả thành tựu cải cách hành chính nhà nước của các nước
đã và đang hình thành nên những nét chung của nền hành chính hiện đại, bên cạnh
những đặc điểm riêng của nền hành chính mỗi nước. Một trong những đặc điểm
quan trọng nhất của nền hành chính hiện đại đó là sự ứng dụng các thành tựu khoa
học công nghệ mới nhất vào quản lý hành chính nhà nước, xây dựng nền hành chính
điện tử- chính phủ điện tử trên 2 trụ cột quan trọng: Áp dụng các CMQT về quản lý
hành chính nhà nước và quản lý nghiệp vụ; Ứng dụng CNTT và truyền thông vào
quản lý hành chính nhà nước.
Nhận thức được những lợi ích to lớn của quản lý hành chính hiện đại, Hải
quan các nước nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học vào hoạt động quản
19
lý hành chính và hoạt động nghiệp vụ. Hầu hết các chương trình cải cách, hiện đại
hóa quản lý của các cơ quan hải quan đều dựa trên 2 trụ cột này và tích hợp các quy
trình và thủ tục hải quan vào hệ thống thông tin được tự động hóa, cụ thể là việc
thực hiện các nội dung:
Thứ nhất: Áp dụng đồng thời các tiêu chuẩn của tổ chức về tiêu chuẩn hóa
quốc tế - ISO đối với các hoạt động quản lý hành chính thông thường; áp dụng các
các chuẩn mực, thông lệ tốt nhất về hải quan của WCO, WTO, Liên Hợp quốc…
Thứ hai: Ứng dụng CNTT và truyền thông vào các khâu thực hiện thủ tục hải
quan và các hoạt động nghiệp vụ từ khai báo hải quan, xác nhận dữ liệu, xử lý tờ
khai hàng hóa, kiểm tra hải quan, kiểm soát hàng hóa tồn kho, thông báo điện tử
kinh doanh và dữ liệu theo CMQT cho phép áp dụng thống nhất hơn và đối xử công
bằng trong phạm vi các quy tắc thương mại để khi luật pháp thay đổi thì bản thân
các quy tắc cũng thay đổi.
Thu thuế hiệu quả hơn: Tự động hoá quy trình thu thuế góp phần đảm bảo rằng
thuế được thu chính xác và tính toán kịp thời. Các khoản nợ quá hạn hoặc nợ xấu có
thể được xác định và xử lý nhanh chóng.
Phân tích dữ liệu hiệu quả hơn: Tự động hoá các hệ thống Hải quan cho phép
Hải quan truy cập ngay lập tức các thông tin cập nhật và cùng với việc ứng dụng Hệ
thống thông tin quản lý, Hải quan có thể sử dụng thông tin này một cách hữu ích.
Tự động hoá hải quan còn tạo khả năng kiểm soát sau kiểm tra hiệu quả hơn ở cả
cấp độ địa phương và toàn quốc.
CNTT cho phép các doanh nhân gửi đến Hải quan dữ liệu không có lỗi một
cách kịp thời. Dữ liệu được gửi và tiếp nhận theo phương thức điện tử có thể chính
xác hơn do trong hệ thống nhận thông tin tự động có các chức năng kiểm tra giá trị
và độ tin cậy của dữ liệu. Điều này đảm bảo rằng bất kỳ phân tích dữ liệu nào được
thực hiện cũng sẽ chính xác hơn.
Thống kê ngoại thương hiệu quả: Hầu hết các cơ quan Hải quan đều có nhiệm
vụ thu thập dữ liệu thương mại và nhiều cơ quan Hải quan còn chịu trách nhiệm thu
thập số liệu thống kê ngoại thương của nước mình. Dữ liệu phục vụ cho thống kê
ngoại thương thường được thu thập từ các tờ khai hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu.
21
Nếu các tờ khai hàng hoá không được xử lý bằng máy tính để thông quan thì việc
lấy dữ liệu phải thực hiện sau. Tuy nhiên, nếu quá trình khai báo tự động diễn ra thì
số liệu thống kê thương mại đã có trong số liệu thống kê nhận được tại thời điểm
xuất khẩu và nhập khẩu theo cách thức đã cơ cấu. Điều này rất hiệu quả về chi phí
và các số liệu thống kê có được theo cách này sẽ chính xác và cập nhật hơn. Nhờ
đó, các cơ quan chính phủ khác có thể nhanh chóng ra quyết định, áp dụng các biện
pháp phù hợp khi cần thiết.
Nâng cao chất lượng dữ liệu: Một lợi ích lớn hơn nữa của CNTT là dữ liệu có
trước hết chính phủ mỗi nước cần thực hiện cải cách thủ tục hành chính. Đây là một
trong những khâu then chốt quyết định tới thành công của các dự án hiện đại hóa
hải quan nói riêng và dự án chính phủ điện tử nói chung.
1.2. Khái luận về chuẩn mực quốc tế
1.2.1. Khái niệm chuẩn mực quốc tế
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư “CMQT là những tiêu chuẩn được các tổ
chức tiêu chuẩn quốc tế xây dựng và phát triển. Các chuẩn mực này được chấp nhận
và phổ biển toàn cầu”.
Các CMQT có thể được sử dụng một cách trực tiếp hoặc thông qua một quy
trình chuyển đổi để sử dụng với những điều kiện phù hợp. Việc chấp nhận các
CMQT sẽ hình thành những chuẩn mực quốc gia tương đương, theo nghĩa về căn
bản các chuẩn mực này giống nội dung kỹ thuật của các CMQT, nhưng có thể có
một số sửa đổi về hình dạng, cách sử dụng các hình ảnh, ký tự hoặc các đơn vị đo
lường… hoặc có sự khác nhau về quy định của các nước do phải điều chỉnh các yêu
cầu kỹ thuật phù hợp với điều kiện khí hậu, địa lý, kỹ thuật, các yếu tố về cơ sở hạ
tầng, các yêu cầu về an toàn ở mỗi nước.
Theo Điều 1, Công ước Kyoto sửa đổi: “Chuẩn mực” được hiểu như một quy
định mà việc thi hành nó được thừa nhận là cần thiết để đạt được mục đích hài hòa
và đơn giản hóa các thủ tục và thông lệ hải quan.
1.2.2. Các lợi ích khi áp dụng CMQT trong thủ tục hải quan điện tử
23
Áp dụng các CMQT trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử là khía
cạnh kỹ thuật được các tổ chức quốc tế (WTO, WCO, UNCTAD…) yêu cầu và các
nước thực hiện trên cơ sở những lợi ích mà các chuẩn mực đem lại, cụ thể:
Tăng cường độ chắc chắn và khả năng dự báo của quy định và chính sách
thương mại thông qua việc chuẩn hóa các định nghĩa, các thông tin, tài liệu về hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải xuất trình hoặc nộp trên cơ sở áp dụng những chuẩn
mực thống nhất trên phạm vi toàn cầu.
Loại bỏ các thông tin, thủ tục trùng lặp; giảm thiểu sự sai sót trong quá trình